ĐỘ QUA BIỂN SINH TỬ

     Trước tác: LIÊN SINH HOẠT PHẬT
     Dich giả: LIÊN HOA VĂN HẢI

      
BÀI TỰA: ĐÔI GIÀY THẦN

     Vào một ngày trong đêm, Đức Quán Thế Âm Bồ
Tát xuất hiện tại nơi tôi ẩn cư nhập thất, Bồ Tát đưa
cho tôi một đôi giày để đi. Tôi hiếu kỳ hỏi Bồ Tát:
“Đây là giày gì vậy?”.
Quan Thế Âm Bồ Tát đáp lại: “Đôi giày thần”
Tôi lại hỏi: “Thưa, dùng để làm gì vậy?”
Bồ Tát nói: “Chúng tôi muốn đích thân Liên Sinh
Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn trải qua một kinh nghiệm
gọi là “Trung âm cảnh giới. Đó cũng chính là đích
thân chứng thực trạng huống tử vong. Sau đó hãy
viết ra một cuốn sách Độ Qua Biển Lớn Sinh Tử, để
cho người thế gian hiểu rõ sự kết thúc sinh mệnh là
một sự thực”
Tôi nói: “Có sinh tất có tử, đó là việc tự nhiên vậy
còn cần phải viết làm gì?”
Bồ Tát đáp: “Đây là việc hết sức cấp bách”
Tôi lại hỏi: “Vì sao vậy?”
Bồ Tát đáp: “Chúng sinh đều cho rằng giữ cho thân
thể được khỏe mạnh là tốt rồi. Họ thật chẳng biết
rằng tuổi trung niên, tuổi già, tuổi bệnh sẽ đến rất
nhanh. Đây đích thị điều trọng yếu để làm cho khắp
nơi thiên hạ đều có được một nhận thức về sinh
mệnh chấm dứt., biết được quá trình của trạng
huống tử vong. Quá trình của trạng huống tử vong
xảy đến cho mọi người bất kể thế nhân là tín đồ Phật
giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, thậm
chí cho cả những người chẳng tin vào tôn giáo nào.  
Ông phải tả rõ thật chân tướng của sự tử vong. Vì
chân tướng của sự tử vong chính là điểm trọng yếu
vậy”
Tôi hỏi: “Điều tôi viết người ta có thể tin không”
Bồ Tát đáp: “Đây không phải là sự mê tín, mọi cá
nhân đều phải chết, không một ai được ngoại lệ, tử
vong là vấn đề hiện thực, không phải là mê tín. Sau
khi chết cũng không phải là chỗ tận cùng, Phật giáo,
Mật giáo, Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo đều có
cùng nhận thức như vậy. Sau khi chết có cảnh giới,
có thể chứng minh. Thế giới linh hồn thực có.
Chúng tôi cần ông viết ra, cần ông đích thân trải qua
kinh nghiệm này và viết ra để có thể cứu độ chúng
sinh”
Quan Thế Âm Bồ Tát nói kệ:
     Đọc tức minh bạch
     Tu tức giải thoát
     Tín tức đắc độ
Giải tức liễu ngộ
     Tôi thực sự báo cáo với mọi người: Sau khi di
đôi giày thần tôi đã bị ngã bệnh. Tôi đã viết qua
“Nước trong hồ lá đóng thành băng”, “Hướng về tam
Bản Tôn cầu đảo”, tôi nhận thức tôi 58 tuổi chết, tôi
khả năng phải chết. Đích thân tôi phải trải qua kinh
nghiệm bệnh khổ đáng sợ, tôi đã bị bệnh rất nặng.
Đây không phải là nói xằng, tưởng bậy, cũng không
phải là tin sai. Đây chính là kinh nghiệm khi tôi đi đôi
giày thần vào, kinh nghiệm tôi phải chịu mà người
thế gian khó tưởng tượng được. Tôi chính là khổ
trong khổ và đau trong đau. Tôi là một người tinh
thần kiện toàn, một ẩn nhân tự do tự tại, thập
phương thế giới đều có thể ghé đến tạm trú ngụ,
nhưng khi đi đôi giày thần xong thân thể tôi đã phải
nếm phải mùi vị của bệnh và chết. Tứ đại (đất, nước,
gió và lửa) của thân thể tôi bị phân tán. Tôi có cảm
giác núi non, đất đai bị tê liệt, nước ngập cả đỉnh
đầu (chết đuối), hỏa diệm sơn phát nổ, cuồng phong
thổi rét buốt. Vâng, tôi rơi vào địa ngục “bát Đông,
bát Nguyệt”
     Tôi không muốn nói dọa chúng sinh, tôi thật sự
rơi vào hố cạm bẫy của sự tử vong. Cầu sống chẳng
được mà cầu chết cũng chẳng xong. Thực lòng tôi
không nói quá sự thực hoặc nói điêu ngoa. Đã làm
người ai cũng phải chết, dù cho sức khỏe vững chắc
như sắt thép, kim cương.
     Tôi đã phải hứng chịu quá nhiều cực khổ. Tôi rất
trông mong chúng sinh hãy rời xa cực khổ và được
hưởng lạc thú.
     Tôi yêu cầu mọi người:
                     Thân xác là vô thường và thời gian trôi
qua rất nhanh
                     Những cực khổ chồng chất phải lìa bỏ
                     Nguyện cùng Chân Phật đồng tu hành
                     Tận thử báo thân sinh cực lạc.

HOA SEN TÁM CÁNH KHAI MỞ.
     Đi đôi giày thần xong thì tôi bị bệnh rất nặng.
Thực tế tôi không biết cách nào diễn tả lại chi tiết,
tôi chỉ biết dùng ba chữ Thảm! Thảm! Thảm để nói
lên tình trạng của bệnh tôi phải gánh chịu.
     Tôi bá cáo cùng mọi người vì sao lại nói rằng
“hoa sen tám cánh khai mở”: nguyên do là vì đầu tôi
đang nguyên lành bỗng nhiên bắt đầu bị vỡ ra, vỡ ra
từng tí một dù quan sát bên ngoài tôi toàn thể bình
thường, đầu chưa bị vỡ bể ra. Nhưng các người
nghe đừng kinh hãi hoặc lo sợ, nguyên lai do “vô
hình” mà toàn thể đầu của tôi đã phải trải qua sự bắt
đầu phân xé. Từ trung tâm Thiên đỉnh đầu tôi bị xé ra
thành tám múi (cánh), cứ xé ra một phần thì tôi thấy
đau đớn một phần mà mười phần tôi thấy đau đớn
mười phần. Do vô hình, tôi bị chứng liệt não (xé, vỡ
não).
     Chứng liệt não này một người bình thường khó
mà có thể hiểu nổi, nhưng chính tôi đang phải trải
qua “khổ trong khổ” và “đau đớn trong đau đớn”
đây! Tôi đã phải trải  qua một sự kinh khủng trên thế
gian này mà xưa nay chưa một ai từng phải trải qua.
Có cái gì có thể khổ hơn, đau đớn hơn chứng xé, vỡ
não không?
     Trước đây tôi có đọc tiểu thuyết Tây Du Ký. Quan
Thế Âm Bồ Tát đã cấp cho Tôn Ngộ Không một cái
Kim Khuyên (mũ sắt vòng tròn), mỗi khi mũ sắt co lại
thì Tôn Ngộ Không ngã lăn lộn xuống đất ôm đầu kêu
đau thảm thiết. Đây chính là “Súc Não Chứng”
(Chứng não, đầu co rút lại) mà ngày nay tôi phải
gánh chịu. Chứng vỡ não toàn bộ, vỏ đầu của tôi bị
vỡ thành tám múi (cánh), vỡ từng phân, vỡ từng tấc
một.
     Trời ơi! Đúng là núi lở đất vỡ! Đúng là hỏa diệm
sơn bạo phát! Đúng là máu và nước đang rỉ ra! Đúng
là đông rét đang đâm chích buốt thấu xương!
     Tôi sẽ phải chết! Tôi thật sự phải chết rồi! Nỗi
đau đớn, khổ sở của tôi. Thế gian này không có từ
ngữ nào diễn tả mà hình dung được, cũng không có
người bình thường nào hiểu được, nguyên do tử
vong đích thực là nỗi thống khổ! “Đóa sen tám cánh
khai nở” nghe thật hoa mỹ, nhưng thực tế là nỗi
kinh hãi của sự phải chết!
     Tôi thật sự hướng về “Tam Bản Tôn” cầu
nguyện: Đức Từ Bi Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Phật A Di
Đà Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đức Đại Nguyện
Địa Tạng Vương Bồ Tát, nguyện xin Tam Bản Tôn
tiếp dẫn tôi vãng sinh!
     Tôi không còn tưởng đến sống nữa! Năm mươi
tám tuổi cũng đủ rồi. Tôi ý nguyện được chết! Ý
nguyện được vãng sinh tại Song Đại Liên Trì!
     Nam Mô 36 vạn ức111vạn, 9 ngàn 5 trăm Đồng
Danh, Đồng Hiệu A Di Đà Phật, xin hãy tiếp dẫn tôi.
     Theo quan niệm cũ trong  quá khứ của tôi cũng
như quan niệm cũ của người Trung Quốc, tuối của
một con người cần phải sống đến một thế kỷ (100
năm), đó là quá trường thọ. Một giáp (60 năm) đưọc
gọi là thượng thọ, nhưng hiện tại tôi mới 58 tuổi, còn
thiếu hai tuổi nữa, sao tôi lại cầu chết, cầu được
vãng sinh?
     Nhưng mà bạn biết không? Tôi đang phải trải
qua “Chứng liệt não”, nên chẳng những tôi chẳng
tưởng đến sống mà còn có ý nguyện cầu chết. Mọi
người có thể tưởng tượng, tôi cầu chết không
nguyện sống nữa.
     Sự thống khổ này đã kiên nhẫn nhưng không thể
nhẫn chịu được, thảo nào sinh, lão, bệnh, tử trong
tám thứ khổ đều là khổ cả.
     Trong lúc “đóa sen tám cánh khai mở”, “tứ đại
của thân xác phân rã”, tôi không còn do dự gì nữa,
tôi quyết định chết, quyết định mau mau vãng sinh.
     Mỗi khi đau khổ đến, tôi thường cầu ánh sáng
quang minh của Phật soi chiếu cho tôi. Ánh quang
minh của Phật chiếu rọi tôi ba lần, mỗi lần được
chừng mười phút, trong mười phút ấy tôi được thư
thái.
     Nhưng rồi sau đó nỗi đau của chứng xé não lại
tiếp tục trọn bảy tuần lễ, tức 49 ngày, không phân
biệt ngày đêm. Tôi ăn không ngon, ngủ không yên, y
như sống trong địa ngục khồ hình. Bây giờ cuối cùng
tôi mới biết vì sao cần có y viện chữa bệnh hoạn để
chính mình bò đến cửa sổ, để từ cửa sổ của tòa lầu
nhảy xuống. Vì sao phải làm vậy? Vì sinh bệnh hoạn
thật sự quá ư là đau khổ!
     Cuối cùng bây giờ tôi lại hiểu Hải Minh Uy vì sao
phải tự sát, Xuyên Đoan Khang Thành vì sao phải tự
sát, Tam Thủ vì sao phải tự sát! Còn nữa…
     Khi phải đi đến cảnh huống này, nếu như tôi
không phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn,
tôi sẽ nói lớn lên rằng: “Tôi cũng muốn tự sát!”
     Nhưng mà tôi không thể tự sát được, tự sát
chính là giết Phật. Tôi là một nhà Đại Tu Hành, phải
độ chúng sinh. Tôi phải là người nhẫn nhục chứ! Nỗi
khổ của nhẫn trên thế gian này mà không nhẫn được
thì tâm khổ, thân khổ, tám thứ khổ, vậy đều phải
nhẫn! Tôi không thể tự sát được!

PHẬT TRONG ĐÓA SEN TÁM CÁNH
     Một người đang ở bên bờ tử vong, một con
người sắp chết, người đó dĩ nhiên chính là tôi đây,
tôi không muốn để cho sinh mệnh của mình buông
thả. Tôi đã từng nghĩ như thế
     Là người sáng lập ra Chân Phật Tông với năm
trăm vạn đệ tử và với các Thượng Sư hoằng pháp, ít
nhiều Lôi Tạng Tự, ít nhiều phân đường, ít nhiều
trung tâm hoằng pháp: Thải Hồng Sơn Trang, Chân
Phật Mật Uyển, Nam Sơn Nhã Xá, Liên Hương
Thượng Sư, Lô Phật Thanh, Lô Phật Kỳ…
     Những sự nghiệp hoằng pháp trên thế giới Ta Bà
này, người thân thuộc, những công lợi và vật chất
thế gian, thế mà nay đối diện với tử vong. Tất cả nay
hóa thành cánh chim bay, tất cả là Không.
     Tuy tôi phải đối diện với sự cực khổ của tứ đại
phân rã, đối diện với chứng xé não, tôi vẫn còn may
vì tôi tu hành đã lâu dài, tinh thần còn trấn định.
Thần chí của tôi vẫn nhất trực tại “tứ niệm xứ”:
“quán thân bất tịnh”, quán thụ là khổ”, “quán tâm vô
thường”, “quán pháp vô ngã”. Tôi anh dũng không
sợ chết, tâm chí nhất trực vươn lên cao. Tôi không
chịu thua, không ngừng trì chú, niệm Phật. Ý chí tôi
hoàn toàn đặt vào ánh sáng quang minh của Phật
     Chứng đau xé não làm suy yếu thân thể và sẽ
đưa đến sự tử vong đều không làm tôi ngã được. Tôi
nhận ra rõ rằng tử vong là một sự thường lệ không
thể tránh khỏi của kiếp con người. Tôi cũng không
muốn trối trăn với các đệ tử những lời giáo huấn
cuối cùng nào trước khi lâm chung. Tôi muốn chết
trong cô độc, đây cũng là điều không thể tránh khỏi.
Tôi cảm tạ Thượng Sư của tôi, cảm tạ Phật Đà, cảm
tạ Phật Pháp, cảm tạ Thánh Hiền Tăng. Tôi sẽ xả bỏ
nhục thể của tôi. Tôi sẽ viên tịch trong tự tại, tôi sẽ
nhập Tam Ma Muội, tôi sẽ nhập Niết Bàn, hoàn toàn
giống như tất cả các Thánh nhân đã phát đại nguyện
cứu thế xưa nay. Tôi bất chấp cái chết, cũng không
có gì phải hối tiếc. Những người xung quanh tôi
không ai biết tôi sẽ phải chết thật nhanh, nên không
có ai cố ý làm phiền nhiễu tôi. Tôi đã có khả năng
giữ được bình thường, giữ được thái độ bình tĩnh để
ra đi như tôi sẽ phải ra đi. Trong Tam Muội đoá sen
tám cánh thực sự phân xé tôi, tôi chỉ còn sự đau đớn
và suy nhược, nhưng không có tí sợ hãi nào.
     Một Thánh Triết đã chân chính giác ngộ, diện đối
với cái chết không có gì phải sợ, mà càng phải kiên
cường “Chính Tri, Chính Giác”. Tôi nhận thức rằng
không gian rộng lớn vô biên, Pháp Giới rộng lớn vô
biên. Từ khi có nhân loại thì thời gian thọ mệnh của
kiếp nhân sinh rất ư là hữu hạn so với vũ trụ có tới
trăm vạn ức năm ánh sáng vô hạn.
     Bất kể cá nhân nào ở bất kể Pháp Giới nào đều
phải chết, tơ hào cũng không sơ lỡ được, không có
ai được ngoại lệ, tất cả tất nhiên phải thế.
     Không nhập Niết Bàn là lý tưởng. Người người
đều phải chết là sự thực.
     Phật Đà đã dạy chúng ta: “Tự nhiên là một loại
tuần hoàn của sự sinh tồn, sinh tử là một đại luân
hồi, mọi thứ đều vô thường, mọi hiện tượng đều vô
ngã, Niết Bàn tĩnh mịch. Đây là định luật, qui tắc của
vũ trụ, đây cũng là chân lý vậy”
     Tôi là người đại giác ngộ, tôi hiểu rõ tử vong là
một hồi sự như thế nào, nhưng trong một giai đoạn
ngắn ngày này, tôi ăn không ngon, thể lực suy
nhược, ngủ không yên giấc, tinh thần hao tận. Theo
thông thường nói là rơi vào nơi cực kỳ nguy hiểm,
chính lúc thân thể sa vào thế giới của vô minh hắc
ám hoặc sa vào cảnh giới của âm u chết chóc.
     Tuy nhiên sau khi đoá sen tám cánh khai mở đến
cực độ, thì ngay chính tại tâm điểm của đóa sen ấy
đoan tọa một Tôn Phật!
     Đây cũng chính là “Liên Hoa Đồng Tử”, “Hoa
Quang Tự Tại Phật”, “Lô Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt
Phật”
     Vị Phật này chính là tôi, người đã nhiều năm
tuân theo giáo đạo của Đấng Thế Tôn Đại Giác Ngộ
trong môn phái Mật Tông, người tự tại trong ánh
sáng trí tuệ của Bản Tôn, chỉ một mình tôi một Như
Lai mới có thể trong chốc lát quét sạch những vô
minh hắc ám của tử vong.
     Tôi nhận thấy chính tôi là một Nguyên Thần
(Phật Tánh)(Nguyên Thần: a star who is able to
control the attainment of honors and the riddance of
sickness and distresses). Tôi thấy được tôi, tôi thấy
được Phật Tánh. Chính tôi là một Đấng Như Lai
không hề bị suy giảm.
     Càng làm cho tôi ngạc nhiên là trên chân của vị
Phật Liên Hoa Đồng Tử mặc một đôi giày thần của
Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong Tam Muội, khi đóa sen
tám cánh khai mở đã chứng kiến rất nhiều thứ trong
âm cảnh. Điều này làm cho tôi nhất nhất mô tả ra
trình bày với mọi người rằng đóa sen tám cánh khai
mở của tôi chính là “Phá Ngõa Pháp” của Mật Giáo
vậy. Phá Ngõa Pháp chuyển thức thành trí, Liên Hoa
Đồng Tử thăng nhập hư không, đồng trí tuệ của Bản
Tôn trong hư không.
     Cuối cùng tôi hiểu rất rõ rằng
     Ở Bắc Kinh tôi trông thấy Đức Phật A Di Đà (từ
Bắc Kinh bay đi Thái Nguyên), ở tại Hàn Quốc tôi
trông thấy Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật và
Chư Tôn. Tất cả những sự xuất hiện vốn cùng một
mô dạng. Đương khi Nguyên Thần của chính tôi xuất
ra khỏi sự trói buộc của nhục thể khiến cho lục căn,
lục trần, lục thức hoàn toàn bị tiêu biến thì cũng là
lúc bộ mặt tu hành xuất hiện. Đây chính là giáo nghĩa
bí mật của Mật Giáo. Tôi có thể chân thực thấy y như
vậy.
     Trong khi Nguyên Thần (Phật Tánh) của chính tôi
sống lại thì trên không trung khắp trời vang dội trăm
vạn lời ca tụng và tiếng hoan ca của Chư Thiên.
Thập phương Chư Phật, Thập phương Tam Thế Bồ
Tát, Kim Cương Hộ Pháp, Chư Thiên…Toàn bộ đều
đồng thanh sự xưng tán, xướng tụng, hoan ca.
     Tôi xin được bày tỏ với mọi người rằng đây
chính là sự Chứng Ngộ từng được nói đến, đây
chính là sự thấy được Phật Tánh, sự Thành Tựu và
đạt được Quả Vị Phật từng được nói đến. Những sự
từng được nói trên không có cách nào mà hình dung
ra được. Vì đây chính là toàn bộ của sự Phục Hoạt
(Sống Lại). Sự Hoạt Phục này giống hệt như một
vùng đất chết khô cằn mọc vươn lên đồng lúa non,
như toàn bộ cánh đồng hoang dã khai mở trăm hoa
biến thành ngày xuân. Nó cũng như một người ngủ
say bừng tỉnh dậy khởi động cho một ngày mới. Mặt
trời mọc lên lại, phóng ra những tia hào quang, rực
rỡ chiếu sáng một cuộc sống mới. Tôi qua Chân Phật
Mật Giáo đã chứng minh một Chân Pháp Giới, nhục
thể của con người đã phóng ra trí tuệ của Bản Tôn,
thập phương chư Phật như cùng tụ lại hiển hiện.
Đây là một vầng trăng chiếu sáng cả ngàn con sông,
hàng vạn ngọn đèn trong một ngôi nhà, tạo thành
ánh sáng của một ngọn toàn đăng. Tôi, bên trong
Chân Phật Mật Pháp có Tịnh Thổ của Đức Phật Bì Lư
Già Na, có Duy Tâm Tịnh Thổ, có Hằng Hữu Tịnh
Thổ, Cực Lạc Tịnh Thổ, Kí Báo Tịnh Thổ và Chư
Phương Tịnh Thổ…
             Chân Phật Mật Pháp khó suy lường
             Bát Nhã Mật Giáo Chính Giác Trường        
             Tương ứng du già chư Phật trụ (Du già:
tiếng Phạn có nghĩa là nghỉ ngơi)
             Một nhánh cây đơm hoa, ngàn năm tỏa
hương thơm.
     Vậy Lô Thắng Ngạn cuối cùng có bị chết không?
Câu trả lời là: Không có chết! Phàm người nào có
mắt nhìn chính xác đều có thể nhận ra ngay. Đối với
một người đã giải thoát mà phải chết đi thì chỉ là
chuyển qua một đời sống khác và sống lại cũng chỉ
là Nguyên Thần lìa đi rồi quay trở lại. Cho nên điều
này cũng có nghĩa là do từ bình diện nhân gian
chuyển đến bình diện Tịnh Thổ, rồi lại từ bình diện
Tịnh Thổ quay trở lại bình diện nhân gian. Hay nói
cách khác không đến mà cũng không đi. Đó là Như
Lai vậy.
     Tôi xác thực đã phải trải qua chứng đau xé não,
trải qua tứ đại phân tán. Tứ đại chính là đất, nước,
gió, lửa. Con người của chúng ta do tứ đại nhân
duyên tác thành, chính là sự kết thành do sự bền
chặt của đất, sự ẩm ướt của nước, sự ấm áp của lửa
và sự chuyển động của gió. Tứ đại này nếu không
điều hợp thì nhục thân sẽ bị bại hoại phân tán. Vô
hình trung, liệt não là đất phá vỡ, nước máu rỉ ra,
hỏa não bốc phun lên, toàn thân gió bay tán vun vút.
     May thay, sự phận tán tứ đại của tôi là vô hình,
nên bác sĩ kiểm tra cũng không được. Tứ đại này là
nguyên tố của vạn pháp. Tất cả vạn pháp do tứ đại
hợp thành. Nếu tôi chết thật, vạn pháp sẽ bị hoại
diệt. Thực sự mà nói thân thể tôi chỉ suy yếu, đau
đớn, không có gì bị hoại diệt. Cho nên tôi vẫn còn
sống, sống để phải trải qua chứng đau xé não bộ và
tứ đại phân tán. Đây quả thật là việc không thể nghĩ
bàn vậy!
     Tôi mang một sinh mệnh tàn tạ, nhưng lấy sự
thành tâm để mô tả cuốn sách Độ Qua Biển Sinh Tử
này. Làm thế này mới có ý nghĩa. Bởi vì tôi là người
hiểu rất rõ môt sự kiện rất to lớn của kiếp nhân sinh
là sự tử vong, do đó tôi đã tả về sự tử vong và sự
vãng sinh ở Tịnh Thổ là rất thực tế. Tôi sẽ đem quá
trình của sự tử vong thuật lại chi tiết, thêm vào
những gì tôi trông thấy tại trung âm cảnh giới để cho
mọi người thấy cần phải đối diện với tử vong như
thế nào. Dĩ nhiên mỗi người trên thế gian này đều
tránh không khỏi một lần chết. Nhưng mỗi người cần
phải biết một cách triệt để để đối diện, triệt để để
hiểu thật rõ ràng, triệt để để chứng ngộ chân lý của
sự tử vong.
     Tôi xin được bá cáo thật rõ ràng với mọi người
rằng: Người sống là do người chết chuyển thế mà
đến. Người chết là vì nhân duyên của sự sống đã
tận, nên phải chết. Kiếp trước và kiếp sau, sinh
trước tử sau. Lục đạo luân hồi gồm trong đó.

SỐ MỆNH CON NGƯỜI CỦA KIẾP TRƯỚC VÀ HIỆN
TẠI
     Tôi đóng cửa sống một mình tại hồ Diệp Tử,
phiêu bạt sang xứ người. Tôi là một vị Đạo Sư của
hàng vạn vạn người, Đại Trì Minh Kim Cương
Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn
sống hoàn toàn ẩn dật, tách hẳn ra ngoài nhân gian
của thế giới Sa Bà. Tuy từ sự xán lạn trở về với cuộc
sống bình thường và không xuất hiện với thế gian
tôi vẫn viết để độ chúng sinh. Mặc dầu ở một mình
nhưng chính kiến, hành động và sự chính tu của tôi
căn bản vẫn không có gì khác biệt.
     Sống một mình, phải chịu mang bệnh khổ sở,
không thế nào mà hạnh phúc cho được, nhưng xưa
nay tôi không hề oán trời, trách người. Bởi vì tôi luôn
suy nghĩ rất kỹ về số mệnh của con người của kiếp
trước và kiếp này. Tôi muốn bảo đảm với những đệ
tử có lòng tin kiên cố rằng tôi xác xác thực thực kiếp
trước của chính bản thân tôi, xác xác thực thực
nghe tên của tôi ở kiếp trước, chính bản thân xác
xác thực thực chứng Ma Ha Song Liên Trì Tịnh Thổ.
     Nhớ được kiếp trước của mình là do tôi đã phát
đại thệ nguyện đến thế giới Sa Bà để độ chúng sinh.
Lời thệ nguyện này thực sự rất to lớn:
                     Phân thân, toái cốt độ chúng sinh
                     Không bỏ rơi bất cứ một chúng sinh
nào
     Cho nên do lời thệ nguyện của kiếp trước có kết
quả ở kiếp này, tất nhiên bản thân và tâm trí tôi phải
gánh chịu đại cực khổ. Tôi không có một sự ân hận
nào về việc sống ẩn dật và cô đơn của tôi, tôi không
có một hối tiếc nào khi thân tôi phải gánh chịu sự
khổ nạn. Tôi nhận thức được rằng tâm ý của chúng
sinh trên thế gian này là vô thường, lúc sinh lúc diệt.
Do từ trong ký ức của tôi, không biết đã sinh nhiều ít
bao nhiêu lần, cũng không biết đã chết đi nhiều ít
bao nhiêu lần. Nhưng trong ý thức, qua những kỳ tử
vong tôi đã trải qua, tôi hiểu một cách rất rõ ràng
rằng tôi không phải là người bình thường, người
bình thường là hoàn toàn không biết gì về kiếp trước
của mình, cũng chẳng biết gì về kiếp sau của mình,
thậm chí cái chết của chính mình như thế nào cũng
không biết nữa. Trên thế giới này, người có đủ tư
cách để viết cuốn sách này e rằng chỉ có mình tôi
thôi. Sinh chính là phản diện của Tử. Tử chính là
phản diện của Sinh. Đó chỉ là một đạo môn. Tiến đến
là sinh, xuất ra là chết, dĩ nhiên trong ấy chết như
thế nào thật là điểm trọng yếu.
     Người đọc cuốn sách này tất nhiên sẽ phát hiện
được nguyên lai Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn
là:
     BẢO: Vật cao quí trên hết mà thế giới Sa Bà tối
trân quí
     ĐẠI ĐĂNG: Chiếu khắp thế gian, ánh sáng vô tận
     NHIÊN ĐĂNG:( đốt đèn) Xua đuổi những vô minh
và hắc ám của ba đường ác giới.
     THẦN THÁNH: Người hỗ trợ toàn bộ Pháp Bảo
     CHÂN PHẬT: Như Lai Vô Thượng Chính Đẳng
Chính Giác.
Thập phương Tam Thế toàn thể Chư Phật, toàn thể
Bồ Tát Ma Ha Tát đều tán thán:
                     Ngọn đèn lớn chiếu khắp Pháp giới
                     Thắp đèn chiếu sáng ba đường ác
                     Nguyện dâng những công đức này
                     Hỗ trợ làm hưng thịnh Chân Phật.
     Kiếp nhân sinh chân chính, đích thực như cơn
mộng ảo, vũ trụ này là pháp tắc của sinh tử và cũng
là sự sống động của trời đất. Vật chất giữa sự sinh
tử là khổ lạc, khoa học, cơ giới, nghệ thuật… , cũng
chỉ là những điểm nối liền.
     Thực tướng của kiếp nhân sinh chân chính kết
cục là tu hành, kết cục là ngộ đạo, kết cục là một
cảnh giới khác sau tử vong. Đây là điều khó tưởng
tượng được của thế nhân. Ở đây tôi xin một lần nữa
cảnh tỉnh tất cả chúng sinh rằng
     Tất cả những gì của thế tục cuối cùng sẽ là
KHÔNG        
     Tu hành xuất ra khỏi thế gian mới là ĐẠI SỰ
NHÂN DUYÊN
     Phật Đà là Nhân vì Đại Sự Nhân Duyên mới xuất
hiện ở thế gian.
     Chúng ta phải tương ứng với Tam Thừa Bồ Đề
     Tất cả những sự việc trên dù một tơ hào cũng
không sai. Tôi ở đời này, bản thân đã nỗ lực làm
những việc tương đương với trình độ, đem hết khả
năng giúp những kẻ mê muội thành tỉnh ngộ, phải xa
lánh lợi danh để bảo trì tâm chính tu và thực tướng
tương ứng.
     Những cái làm mê hoặc chúng sinh: tài, sắc,
danh, ăn, ngủ
     Cái làm giác ngộ Phật: Bồ Đề
     Sinh Tử cũng là cửa ngõ
     Cái cửa ngõ này hiển hiện thật phi thường trọng
yếu. Tử Vong có giá trị tính của nó. Bởi vì càng nhận
thức thâm sâu bao nhiêu thì càng lĩnh hội thấu triệt.
Tử Vong kết cục chính là cái Chìa Khóa mở cửa đến
Tịnh Thổ vậy. Chỉ yếu lúc lâm chung thật tối quan
trọng!

ĐỪNG ĐỂ CHO KIẾP NGUỜI UỔNG PHÍ ĐI
     Tôi đã từng viết trước đây: Tôi đã từng sống ở
Cao Hùng Đài Loan cả thảy 19 năm, tại Đài Trung
cũng ở 19 năm và ở Tây Nhã Đồ Hoa Thịnh Đốn Mỹ
Quốc cũng 19 năm. Hiện nay thì ẩn cư. Liên quan
đến cuộc sống ẩn cư này, chính Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni cũng thường thúc dục chúng ta cần tu tỉnh
bằng những lời kệ sau:
                     Như mộng ảo, bào ảnh
                     Như điện quang, thạch hỏa (Thạch hỏa:
Sao băng)
                     Như lộ diệc như điện (Lộ: hạt sương)
                     Ưng tác như thị quan.
     Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, buồn khổ,
oán khổ, khổ thụ khổ, lo khổ, bệnh não khổ, sinh tử
lưu chuyển khổ. Còn có yêu biệt ly khổ, oán ghét
phải khổ, cầu không được khổ, khổ do tinh thần và
thể chất chịu đau đớn do những hoạt động của ngũ
âm (hoặc ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng hành thức)
     Ngồi mà tính lại thì bậc Đại Thánh Phật Đà cũng
có chín điều phiền não:
     1/ Sự đại hủy báng của nữ Phạm Chí Tôn Đà Lợi,
liên tục năm trăm vị La Hán cũng bị hủy báng.
     2/ Sự đại hủy báng của nữ Bà La Môn Chiến Già
     3/ Đề Bà Đạt Đa đẩy núi đè Phật, làm Phật bị
thương chân
     4/ Thanh gỗ ngược đâm chân Phật
     5/ Bì Lưu Li Vương khởi binh tiêu diệt giòng họ
Thích Ca, Đức Phật đầu bị đau đớn không thôi
     6/ Đức Phật nhận lời mời ăn của Kỳ Đạt Đa Bà La
Môn, nhưng đã được đãi ăn bằng gạo nuôi ngựa.
     7/ Gió lạnh thổi buốt thấu xương qua tấm áo
mỏng manh.
     8/ Đức Phật phải chịu tám năm khổ hạnh
     9/ Đức Phật đi khất thực trong xóm làng của Bà
La Môn, nhưng chẳng được gì và phải về với bình
bát không.
     Kiếp nhân sinh của Đức Phật Thích Ca khổ, kiếp
nhân sinh của tôi khổ, giống như bài kệ cảnh thị của
Phổ Hiền Bồ Tát:
                             Ngày hôm nay đã trôi qua
                             Số mệnh con người cũng qua đi
không trở lại
                             Như cá thiếu nước
                             Như thế có gì là vui
     Phàm những bậc hiền trí đều phải thừa nhận
kiếp nhân sinh khổ nhiều hơn sướng, lề mề theo vết
mòn cũ, trôi dạt uổng phí.
     Trong thời gian của kiếp con người, năm sự ước
muốn đến trái ngược, con người chúng ta làm sao có
thể lường được. (Ngũ dục: tiền của, dâm dục, ăn
uống, danh vọng, ngủ nghê). Cái chết đến với chúng
ta rất nhanh. Tử vong đối với con người chỉ là sự
việc sớm muộn thôi. Nhưng lại có quá nhiều người
làm những việc thật vô nghĩa, thực sự rất lãng phí,
nhàm chán và rất đáng tiếc.Như tôi đã nói đến, trú
ngụ ở Cao Hùng 19 năm, học đến tốt nghiệp cao
trung. Rồi trú ngụ ở Đài Trung 19 năm, tốt nghiệp
xong đại học đi làm việc. Ở Tây Nhã Đồ 19 năm để độ
chúng sinh. Tôi cũng công nhận rằng thời gian tu
hành độ chúng sinh, hoằng Pháp quá ít ỏi. Tôi còn
có thể sống được bao nhiêu năm nữa? Bao nhiêu
năm nữa tôi sinh tồn trên thế gian này? Đặc biệt
chúng ta những kẻ phàm phu, tôi còn tính toán tốt,
người khác ý thức trong sạch, tỉnh táo thì quá ít, mơ
mơ hồ hồ chưa từng trải qua. Ngay cả Phật Pháp
cũng chưa được nghe qua, ngay một Pháp cũng
chẳng tu, nên chết đi với tay không. Phật Đà nhận
xét rằng chúng ta thực sự rất lười biếng, uể oải, thực
sự rất phóng dật, chúng sinh cũng thực sự không
trân quý thời gian của kiếp con người. Kim tiền là ưu
tiên số một, truy cầu những dục vọng cho thật thỏa
mãn. Vả lại trong nhiều năm cứ nhận rằng nhục thân
chính là TA, thậm chí nhân sinh chính là tất cả, sinh
hoạt chính là tất cả. Đây là một quan niệm sai lầm
     Căn cứ vào ý nghĩa qua những lời thuyết Pháp
của Phật Đà, sự sinh sống của con người rất là
không đơn giản, cho nên có được cơ hội tu hành rất
khó khăn. Bởi vì trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy
rất rõ rằng con người có thể chính mình nỗ lực tinh
tấn, do “tâm thức chuyển thành căn bản trí” mà đạt
đến cứu cánh giải thoát, cứu cánh Bồ Đề hoặc đạt
đến bậc giác ngộ của Phật.
     Cho nên Tâm Kinh mới nói: Ma Ha Bát Nhã Ba La
Mật
                     Là: Vô Thượng Chú
                     Là: Đại Minh Chú
                     Là: Đại Thần Chú
                     Là: Vô Đẳng Đẳng Chú.
     Đây tức là cũng muốn nói cuộc sống của con
người là do chính cá nhân quyết định sự tinh tấn
trong tu hành, để đạt đến được Bỉ Ngạn mới chính là
một đại sự có ý nghĩa trong kiếp nhân sinh, mới là
đại minh, đại thần , mới là vô thượng và mới là vô
đẳng đẳng vậy.
     Cho nên cứ tính xem nếu bạn là Quốc Vương,
bạn là Tổng Thống, bạn là Tổng Lý, là Thiên Hoàng,
là Hoàng Đế, tất cả đều không phải là Vô Đẳng Đẳng
Chú!
     Tất cả các pháp hữu vi đều là mộng ảo, là bào
ảnh. Tôi rất thích bài thơ Mộng Thi của Vương An
Thạch tôi đã đề cập nhiều lần trong các bài viết của
tôi
                     Tri thế như mộng vô sở cầu
                     Vô sở cầu tâm phổ không tịch
                     Hoàn tựa mộng trung tùy mộng cảnh
                     Thành tựu hà sa mộng công đức

TỬ VONG TÙY THỜI GIÁNG HẠ
Vì sao phải dạy cho đệ tử của Chân Phật Tông làm
thế nào để đối diện với tử vong?
     Trong Kinh Pháp Cú phẩm thứ 24 có bài kệ thứ
21:
                     Chư thi Pháp thi thắng
                     Chư vị Pháp vị thắng
                     Chư hỉ Pháp hỉ thắng
                     Trừ ái thắng chư khổ.
     Mọi người nhận thức rất tốt bài kệ này, Phật
Pháp thật là vô thượng trân quý! Trên thế giới này
còn có cái gì trân quý hơn Phật Pháp nữa?
     Tử vong là tối trực tiếp, rất dễ dàng nhận thức, là
sờ sờ trước mắt (sinh động) và là thực tướng từ sinh
đến tử. Tôi nói “sinh tử vô thường”
     Đừng đề đến già mới học đạo, sống trong cảnh
cô đơn toàn là lớp tuổi thiếu niên.
     Trong một thoáng phi cơ bay bỗng bị rớt, đây là
đang ở trong trạng thái sống sinh ra thực tướng tử
vong
     Trong một thoáng xe đụng phải xe, đây là đang ở
trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong
     Trong một thoáng xảy ra hỏa hoạn, chạy thoát ra
không được, đây là đang ở trong trạng thái sống mà
sinh ra thực tướng tử vong
     Trong một thoáng bị phần tử khủng bố ném lựu
đạn, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra
thực tướng tử vong.
     Trong một thoáng đi thuyền bị tai nạn, đây là
đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng
tử vong
     Trong một thoáng bị địa chấn, đây là đang ở
trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong.
     Trong một thoáng bị giông bão chết người, đây là
đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng
tử vong.
     Tôi xin báo cáo với mọi người rằng bị phán tử
hình tru lục, hỏa thiêu, chết đuối, chết trận, rơi
xuống vực núi, uống phải độc dược, bị hung sát, còn
nhiều nữa.
     Ở trong nhà thương tôi đã chứng kiến tận mắt
người được khiêng nhập viện, xuất viện, không nhất
định là người già, thiếu niên cũng rất nhiều, thậm chí
cả hài nhi, họ bị mắc những chứng bệnh trầm trọng,
cũng có chứng nhọt bướu, chứng máu bị hủy hoại,
chứng bệnh não chết người, chứng bị trùng sâu ăn.
Có cả tám vạn bốn nghìn loại bệnh, bệnh làm chết
người thật đáng tiếc! Lại còn có thứ đáng sợ hơn
nữa: Nhân loại chiến tranh tự mình chém giết mình.
     Đối với sự đột nhiên tử vong đến, không phải là
không có khả năng xảy ra, mà thực có khả năng lắm.
Vào một buổi sáng phải đi vào âm cảnh giới trong tử
vong, linh hồn làm sao lo toan đây? Bạn có sức
kháng chế lại không? Sự tử vong xảy ra trong một
sát na bạn có thể tránh được sợ hãi không?
     Bạn cho rằng nhân sinh có khả năng độc lập tự
chủ tiếp tục sinh tồn mãi mãi và tồn tại trên thế gian
là một thứ quyền lợi. Nhưng bạn có biết không?
Sinh mệnh tùy thời mà mất đi, tử vong tùy thời mà
giáng xuống. Người người đều có cảm giác lo âu sợ
hãi.
     Trong quá khứ, tôi thường dạy các đệ tử phải
“biết tu”, phải biết coi trọng thời gian quý báu, phải
“ một ngày một tu”, còn nữa phải một ngày ba lần
ghi nhớ niệm “ba căn bản”. “Ba căn bản” đó chính
là căn bản Thượng Sư, căn bản Bản Tôn, căn bản Hộ
Pháp. Người theo Mật Giáo vì sao phải tu Hộ Pháp?
Phải biết rằng Hộ Pháp là bảo vệ cho người tu theo
Mật Giáo, tu Hộ Pháp khả dĩ tránh được rất nhiều
phiền não và khổ não, ví dụ như:
             1/ Ác Pháp Sư chú thuật
             2/ Giáng đầu thuật (bùa thuật đen tối,
nguyền rủa)
             3/ Người ác hãm hại
             4/ Tránh được tai nạn
             5/ Quỷ thần hung sát, lăng nhục
             6/ Phi nhân đoạt tinh khí
             7/ Không rơi vào nơi nguy hiểm, vân vân
     Nhưng sinh tử vô thường, lại cũng rất là lệ hại.
Nếu bạn không mỗi ngày mỗi tu tỉnh, không ghi nhớ
niệm Thượng Sư, không Bản Tôn trú đỉnh, nhục thể
không chu đáo, tình cảm buông thả, trong tâm thì
nghi hoặc, ba căn bản không có cách gì mãi mãi
pháp trụ, tự tính bất diệt quang minh sẵn có mất đi.
Thế rồi tử vong vô thường đột nhiên trong một sát
na đến, đương là một người tu Mật Giáo trở thành
món điểm tâm của ác quỷ vô thường
     Riêng cá nhân tôi cảm thấy được rằng ba căn
bản của Mật Giáo rất trọng yếu, Thượng Sư là người
nắm giữ toàn thể Pháp, Bản Tôn là Tự Tính của hành
giả, Hộ Pháp là Thần Thủ Hộ của nhân gian. Ba căn
bản này không thể thiếu một. Sự tu hành của bạn
nếu như đã có tương ứng (tức Du Già: Đã chứng
được sự thần bí để trừ ma chứng đạo, cứu khắp
chúng sinh - Tự điển Thiều Chửu) thì đối với mối lo
sợ về tử vong cũng giống như mặt trời xua tan đám
mây mù vậy. Tự nhiên mối lo sợ ấy biến mất đi
không còn dấu vết gì để lại. Tôi thường nói:
     Khi ngồi phi cơ ta cần tương ứng (Bản Tôn trú
đỉnh). (Kỳ thực ở bất cứ trường hợp nào, có Bản Tôn
trú đỉnh đều rất quan trọng)
     Bỗng một buổi sớm vô thường chợt đến. Bản
Tôn hỗ trợ, tự tính Bản Tôn (tự kỷ) và trí tuệ Bản Tôn
(Phật) hợp nhất dung hợp, tức thì trực tiếp đi đến
được Tịnh Thổ. Bản Tôn trú đỉnh mà tôi đã dạy các
đệ tử có ý nghĩa vá giá trị hoàn toàn ở tại điểm này.
Đây chính là trung âm (linh hồn) trực tiếp chuyển
biến mà thành tựu, Năng Tri và Sở Tri chính là Chính
Tri và Chính Kiến. Sự tương ứng của Bản Tôn trú
đỉnh là đệ nhất trọng yếu vậy.
                     
THIỆN THỆ VÀ THĂNG THIÊN
                             (Ra đi an lành và lên trời)
Trong chuyện thần thoại diễn nghĩa thời thượng cổ,
tôi rất thích thưởng thức truyền thuyết lên trời của
Hoàng Đế. Kỳ thực sự chiến thắng Sy Vưu của
Hoàng Đế trong Trung Quốc cổ đại, ông vốn là Thiên
Chủ ở trên trời. Những nhân vật thần thoại thời
Thượng cổ như: Phục Hy, Thần Nông, Hiên Viên,
Toại Nhân, Hữu Sào, Nữ Oa. Thậm chí Nghiêu,
Thuấn, Vũ, Đế Tuấn, Đế Khốc, Hậu Nghệ, Thường
Nga, vân vân, không phải là thần mà chính là nửa
thần nửa người.
Hoàng Đế thời cổ đại rất thích đi du sơn ngoạn thủy,
thường gọi hai người bầy tôi đi theo mình, một
người là Phong Hậu, một người khác là Thường Bá.
Người mang sách, người mang kiếm cho ông. Họ
sung sướng vui chơi trong nhân gian. Nơi dấu chân
của  Hoàng Đế đã qua: Thanh Khâu, Đỗng Đình, Nga
Mi, Vương Ốc, vân vân
Hoàng Đế sau đó biết được thời gian phải trở về trời
của mình đã đến, tại chân núi Kinh ông bèn đúc một
cái vạc quí rất lớn (theo Đạo gia truyền thuyết rằng
vạc này dùng để luyện linh đan, nên thuật luyện chế
thuốc tễ - đan - của Đạo gia bắt đầu từ chỗ này). Vạc
quí đúc xong cao một trượng, ba thước, dung lượng
có thể chứa được mười thạch lúa. Chung quanh vạc
có khắc con rồng bay trên mây, cũng khắc hình quỷ
thần, chim lạ, thú lạ. Vạc quí đã được cử hành tiệc
mừng công. Chư Thần trên Trời cùng bá tính khắp
nơi đều đến chúc mừng
Hoàng Đế biết thời gian lên trời đã đến. Bầu trời đột
nhiên mở ra, một thần long mặc giáp vàng lóng lánh,
từ trong mây ló ra với bộ râu rồng rũ thẳng xuống và
phủ trên vạc quí. Lúc bấy giờ Hoàng Đế và các thần
tử của ông (chư thiên xuống phàm) tổng cộng hơn
bảy mươi người, người người buông mình vào trong
mây, cỡi trên lưng con thần long, từ từ bay về thiên
đình. Còn lại trên mặt đất những quân hầu và các bô
lão bá tính thấy Hoàng Đế lên trời, tất cả đều muốn
theo Hoàng Đế về trời, nhưng họ không có cách nào
tung thân mình bay vào mây được nên không làm
sao cưỡi lên lưng của thần long, chỉ còn biết tranh
nhau kéo lấy râu rồng bay theo. Nhưng thần long
không thể mang theo quá nhiều người, nên có rất
nhiều người từ từ rơi trở lại xuống đất. Râu rồng
cũng rơi lại một số sợi mọc trên mặt đất thành cỏ rất
dài, gọi là cỏ râu rồng. Đó là câu chuyện về Hoàng Đế.
Ngoài ra còn câu chuyện về Chuẩn Nam Vương Lưu
An lên trời cũng rất là thần kỳ. Chuẩn Nam Vương
Lưu An thuộc Hán triều rất thích thú liên quan đến
những học thuật Thần Tiên, để đua đến Bát Công,
tức là chuyện tám vị lão đầu kỳ quái. Chuyện truyền
dạy thuật Thần Tiên. Sau này Lưu An thực sự học về
cách luyện đơn, uống đơn dược của chính mình rồi
cùng tám vị lão đầu và chính mình ngồi trên một
ngọn núi giữa ban ngày mà bay lên trời. Trong nhà
của Lưu An còn có những viên đơn dược chưa
uống, đẻ trong bát nhỏ đặt tại đình viện. Chó và gà
trong đình viện của Lưu An đến liếm và mổ, tức
nhiên có hiệu quả: gà từ từ bay lên , chó cũng bay
được, toàn bộ chó và gà bay vào mây trời và trở
thành gà tiên và chó tiên . Đây là một truyền thuyết
nổi tiếng “Một Người Đắc Đạo, Gà Chó Thăng
Thiên”. Ở Mật Giáo, Tạng Mật Tổ Sư Liên Hoa Sinh
Đại Sĩ. Thiện Thệ của ngài thật phi thường danh
tiếng: Bốn Đại Thiên Vương bưng chân ngựa trời hạ
giáng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi trên lưng con thiên
mã bay vào mây mà ra đi. Lưu lại một câu danh ngôn
: “Kính Sư, Trọng Pháp, Thực Tu Giả Đắc Chi”.
Thìện Thệ của Phật Đà là một sự ra đi của một vị
Như Lai thật mười phần xứng danh. Thiện tức là
Tốt, Thệ chính là Đi vậy.
Thích Ca Mâu Ni Phật tu chính đạo, nhập Niết Bàn
hướng về nơi tốt lành (Thường Tịch Quang) mà đi,
đó chính là Thiện Thệ
Ngày nay chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, dạy “Lâm
Chung Chỉ Yếu”, đây tức là tín niệm “thiện thệ”,
người người đều phải tử vong, không có ai lại được
miễn, người người đều cần phải hiểu rõ ràng rằng tử
vong là cái gì hồi sự, rõ ràng đối diện đối với tử
vong, để đi đến một cảnh giới tốt đẹp hơn. Đây là
vào cửa thiện, tu đạo thiện, thiện giải thoát, thiện tử
vong, thiện Bồ Đề.
Một hành giả chân chính, vào lúc lâm chung phải
không bệnh tật cho đến khi tuổi thọ hết trên giường
bệnh, có Thiên Thần dự báo ngày chết, thiện lúc ly
khai nhục thể, thiện để chuyển thế thành Phật Sống.
Giống như hành giả “ngồi thoát, đứng mất”, tức là
thân hóa hồng quang, tức là “toàn thân xá lợi”
Đối với một số người chúng tôi phải chỉ dạy làm thế
nào để nhổ bỏ ma chướng? Làm sao để khai mở?
Làm sao để được an ổn? Niệm Phật như thế nào?
Làm sao để trì chú? Làm sao trung âm nghe dạy
được sự cứu độ? Làm sao làm sạch được những u
uẩn, thay đổi được ý thức? Như thế mới gọi là Thiện
Thệ (ra đi tốt lành)

LỤC ĐẠO LUÂN HỒI TRONG THIÊN NHÃN
     Trong thiên nhãn của tôi mà tôi thấy được về
sinh tử và luân hồi thì thật là rất nhiều nặng nề, vả
lại không chỉ là đa trọng mà còn là đa sinh nữa.
     Luân hồi hai chữ này được dùng thật là đúng
đắn, đó chính là một bánh xe chuyển động không
ngưng nghỉ. Tuy nhiên người thế gian đến nay cũng
không biết. Theo con mắt của tôi, sao mà ngưng một
bánh xe, vô hạn cấp số bánh xe chuyển động không
ngưng nghỉ: Luân hồi vô thủy vô minh, tuyệt đối đã
không có khởi đầu và tuyệt đối không chung kết.
Trong phương diện này có “Xuất Hiện”, cũng có
“Mất Đi”.Trong phương diện này chỉ có Phật Giáo đề
cập đến sự giải thoát sinh tử luân hồi, đạt đến Tính
Chân Không chân chính hoặc cảnh giới Vô Thượng
là Niết Bàn. Đây mới là Đạo Bồ Đề vượt qua khỏi luân
hồi.
     Tôi trông thấy có cái Ngã Vật Chất và còn có
Thần Ngã của đạo Bà La Môn, La Cáp của Hồi giáo,
Linh Hồn của Cơ Đốc giáo, Trung Âm của Mật giáo.
Tôi thật sự bá cáo với mọi người rằng sự tác dụng
của thân và tâm trong phương diện này căn bản
chính là sự biến hóa phức hợp thể (kết hợp chồng
chất), trước sau liên tục. Không bị gián đoạn phát
sinh ra trạng thái - từng sát na – liên tục xuyên suốt
tác dụng nhân duyên. Tôi muốn nói không phải chỉ
tử vong mới luân hồi mà ngay khi còn sống đã xuất
hiện hiện tượng luân hồi rồi. Tôi được biết một vị rất
có tiếng tăm. Ông là một tài chủ với địa vị trong xã
hội rất cao sang, nổi danh trong lãnh vực chính trị,
kinh tế. Tuy nhiên qua thiên nhãn của tôi, tôi thấy
tinh thần của ông ta đang đi vào một cuộc sông mới.
Ông chưa bị tử vong nhưng trên nhục thể của ông
đã chịu một dạng thụ sinh: ông đã sớm luân hồi
thành một con mãng xà (trăn lớn), nói một cách khác
chỉ cần chờ đến lúc ông chết thì phức hợp thể vật
chất và linh hồn của ông sẽ trở thành con mãng xà.
Sự tử vong của ông chính là bắt đầu đi vào một hình
thái khác của sinh mệnh của ông.. Nhưng mà, bạn có
tin không đã? Vị danh nhân này chưa bị tử vong.
Nhưng tôi đã thấy ông ta bắt đầu và sớm để lộ ra con
đường lục đạo luân hồi của ông ta rồi đó.
     Tôi lấy thiên nhãn để xem tướng mạo của chúng
sinh thấy có một người nữ danh đã sớm bị động linh
vật lão thử (chuột) bám vào thân. Lại có một người
nam danh bị linh vật hùng (gấu) bám vào thân. Có rất
nhiều trẻ nhỏ đã sớm bị linh vật hầu (khỉ) bám vào
thân, cho nên thường bị y sư chẩn đoán với bệnh
danh là mắc chứng “táo uất tinh thần”
(hyperactivity: tính quá hiếu động)
     Người tu hành bị ma bám vào thân cũng không
ít, cũng chỉ vì đã không tu theo chính pháp nên đi sai
đường nhập tà ma. Ma dễ dàng bám theo thân người
tu. (Càng tu càng trở nên tự cao tự đại, cuồng vọng,
cuồng tưởng, bám víu, danh lợi)
     Tôi thấy một bé nữ sinh mới sáu tuổi, hàng ngày
vào chiều tối cứ dùng đầu của mình đánh kêu bình
bình vào giường ngủ. Bác sĩ cũng phải bó tay, đại
pháp sư cũng bó tay, thày đồng bói toán cũng bó tay
và phù chú cũng bó tay. Bởi vì bé nữ sinh này kiếp
trước giết người ở trên giường, tiền thế đã tạo ác
nghiệp, nên linh hồn (trung âm) của nạn nhân đến
đòi nợ máu. Cho nên kiếp này bé nữ sinh này phải
dùng đầu đánh vào giường để đền trả nợ trước.
(Hiện tượng này được gọi là quỉ thượng thân)
     Tôi dùng thiên nhãn quan sát tại các y viện lớn,
bệnh hoạn trong y viện, nào là giải phẫu cuống
họng, thận, mổ tim, cắt gan, vỡ não, tẩy ruột, phá
gan, cắt da (đây là địa ngục khổ hình). Tôi cũng dùng
thiên nhãn quan sát nhiều vị chính trị gia, nào là nhà
đại chính trị chủ tể có quyền sinh sát, trên gò má
trên mặt các vị này xuất hiện ra vương tướng A Tu
La, họ lấy sự tranh quyền làm vui, chiến sự không có
một ngày yên ổn (Đã sớm bị luân hồi thành A Tu La).
Lục đạo luân hồi thì hữu hình hoặc vô hình sớm đã
xuất hiện trên mặt con người là do nghiệp chướng
mỗi người nặng hoặc nhẹ khác nhau mà thôi. Lục
đạo luân hồi Thiên, Nhân, A Tu La, Địa Ngục, Ngã
Quỷ, Súc Sinh đều toàn do nhân quả nghiệp báo của
đời trước, đời nay, và đời sau gây ra. Trong thiên
nhãn của tôi linh hồn tự sát cũng đáng thương, nên
khi chuyển kiếp làm người thì cũng là người câm,
điếc, trí tuệ chướng ngại, tàn tật, bị những chứng
bệnh kỳ quái. Tôi dùng thiên nhãn quan sát một
người con gái của một vị trung niên, cô ta quy y Liên
Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn, cô đã có nhiều kiếp
không hề làm những việc tổn Trời hại Lý. Trong kiếp
này cô rất nỗ lực trì chú niệm Phật, tu Chân Phật Mật
Pháp. Người này trước mắt người này hết lòng hóa
độ những người hàng xóm láng giềng, những bạn
học, giúp đỡ những thân bằng, bạn hữu quy y cửa
Phật. Cô chưa hề xuất gia, dùng thân phận cư sĩ của
mình hiệp trợ Tôn Sư đi hóa độ chúng sinh. Cô ta
giữ giới rất là nghiêm chỉnh: không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không vọng tưởng, không
rược chè. Nhất là lời ăn tiếng nói, cô không nói thêu
dệt, không vọng ngữ, không nói hai lưỡi, không ác
khẩu, xưa nay cô rất từng ít nói hoặc nói những
chuyện vô ích. Đối với người với việc không oán
không than. Cô là người có tâm rất từ bi, nguyện
lòng làm cho mọi người được an lạc. Cô thấy rằng
chúng sinh thật quá ư là khổ, cô tâm nguyện làm cho
hết tất cả những thống khổ của chúng sinh, nên có
tưởng pháp từ bi với tất cả các chúng sinh. Phải biết
rằng một người khi có phát tâm từ bi thì sẽ được
mười hai loại lợi ích vô hình: Phúc đức thường đi
theo thân, ngủ mộng bình an, có thần theo hộ mệnh,
người người tôn kính, không bị độc hại, không rơi
vào chỗ nguy hiểm, sông nước không làm chết
người, lửa không bị đốt cháy, được nhiều lợi lộc, vô
danh mà có danh, thăng nhập cõi trời Phạm Thiên,
vãng sinh Cực Lạc. Cô này cũng đắc Vô Lậu Pháp,
Vô lậu này là Lậu không có hình, đến điều Vô Phiền
Não. Phiền não tức tham, sân, si. Vì ngày đêm do lục
căn tiết rỉ ra không ngừng, nên cô ta không tham,
không sân, không si và là một hành giả chân chính.
Tôi lấy thiên nhãn để quan sát nữ đệ tử này, tôi thấy
ánh sáng bạch hào giữa hai lông mày. Đây là một
trong 32 tướng tốt. Tôi thật kinh ngạc! Tôi chứng
nghiệm cô này đã đạt đến “Ly Dục Địa” trong Thập
Địa Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác, rất nhanh trở
thành Bồ Tát. Cô gái này có một lần trong Tam Muội,
đã thấy tôi hiện thân, lại còn thấy hơn cả trăm vị Bồ
Tát. Tôi cùng hơn trăm vị Bồ Tát hiển hiện Báo Thân
với Thân Đại Thiên Sắc, rất là trang nghiêm, rất là
thù thắng làm cho con người cảm động. Tôi nói:
Người đệ tử này nhất định vãng sinh Phật Quốc.

ĐỈNH THIÊN KHIẾU SÁNG SỦA (ĐỈNH ĐẦU)
Để được vãng sinh Phật Quốc, cá nhân tôi nhận
thức rằng khi một người tử vong, nếu như gặp được
một Kim Cương Thượng Sư ở bên cạnh. Vị Thượng
Sư này sẽ chỉ trung âm (linh hồn) của người vong
tìm ra đường lỗ (khổng đạo) tốt nhất để xuất ra, đây
rất là quan trọng. Tôi phân loại có 11 khổng đạo: 1/
Thiên Khiếu - Đỉnh đầu chỗ chân tóc, trung ương của
8 nơi (bát chỉ xứ); 2/ Hai Lỗ Tai; 3/ Hai Con Mắt; 4/
Hai Lỗ Mũi; 5/ Lỗ Mũi; 6/ Lỗ Rốn; 7/ Âm Đạo; 8/
Xoang Môn (lỗ đít).
     Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn sớm tu
thành tựu Phá Ngõa Pháp, đó là một trong sáu
phương pháp. Khổng đạo trung ương ở đỉnh đầu đã
mở, mọi người đều có thể thấy. Đây là chứng minh
tốt nhất. Không đạo này nằm ở chính giữa đại não
gọi là Thiên Khiếu, đây cũng chính là trung tâm của
hoa sen ngàn cánh. Trong Mật giáo, Du Già Mạch
Luân là trên Mi Tâm Luân (điểm giữa của hai lông
mày) sự tác dụng của tinh thần tại đây là rất rõ rệt.
Đây cũng chính là mạch luân chủ yếu của ý thức
thanh tịnh.
     Các họa sĩ của chúng ta vẽ Phật Bồ Tát, đương
nhiên vẽ toàn thân trong sáng, mỗi lỗ chân lông đều
phóng ra ánh sáng, nhưng trọng yếu đích thị là vòng
tròn sáng trên đỉnh đầu. Vì sao đỉnh sáng Thiên
Khiếu lại trọng yếu?
                             Người có cùng tâm này
                             Tâm có cùng lý này
                             Thượng thăng Phật quốc
                             Ấy từ Thiên Khiếu.
     Trong Mật Giáo, đầu của con người là trung tâm
của ý thức giác tri, do đầu mà điều tiết những mạch
luân khác. Do trung mạch xuất ra trung âm của sinh
mệnh , nếu như là phong mạch quang minh thì sự
tác dụng tối hậu chính là từ đỉnh Thiên Khiếu xuất
ra, nhiên hậu nhập vào trung mạch của Bản Tôn và
với trí tuệ của chính mình, Bản Tôn hợp lại thành
một, rồi chính mình biến hóa thành Bản Tôn mà
nhập vào Tịnh Thổ của Bản Tôn. Một Kim Cương
Thượng Sư giỏi khả dĩ chỉ dạy được người vong
(sắp chết), chỉ dẫn cầu cúng không ngừng, tụng
niệm Thánh Danh để cho người lâm chung được
Thiện Thệ (ra đi tốt: well-departed), vãng sinh Tịnh
Thổ Phật Quốc. Nơi trung âm (linh hồn) ra đi chính là
đỉnh Thiên Khiếu vậy.
     Một vị Thượng Sư giỏi cũng có thể may gặp
được, từ cổ chí kim do duyên phận đầy đủ, quả báo
nhân duyên ấy là tính cho người có đại thiện căn. Do
một vị Kim Cương Thượng Sư đã chứng ngộ đến để
giúp đỡ cho một người phàm phu, đây chắc hẳn là
do đại nhân duyên từ kiếp trước mới có được.
     Kim Cương Thượng Sư cần phải biết rõ rằng:
Người phàm phu có sáu tâm thức, nhãn (mắt), nhĩ
(tai), khứu (mũi), thiệt (lưỡi), thân (da, xúc giác), ý.
Mạt Na, A Lại, Dị Thục và Vô Cấu thức thứ mười.
Thức thứ 8 là Như Lai Tạng Thức, thức thứ 9 là Li
Phân Đoạn Sinh Tử, thức thứ 10 là Cứu Cánh Thanh
Tịnh. Nhưng mà nói THỨC chính là phân biệt.
     Kim Cương Thượng Sư phải chỉ dạy người vong,
phải biết tâm thức của người vong, hiểu rõ riêng biệt
đặc tính mỗi thức. Đối với người vong thì chỉ có tâm
hành của bảy thức. Hiểu rõ riêng biệt từng thức, hiểu
biết lại không chấp trước, mới có thể chỉ dạy người
vong thoát ly khỏi bể khổ ngay lập tức. Đây cũng là
cách để biết rõ và phân biệt tài năng của một Kim
Cương Thượng Sư đã chứng ngộ. Kim Cương
Thượng Sư cần phải biết phân biệt tâm hành của
chúng sinh, chỉ dẫn cho chúng sinh sơ ngộ.
     Chuyển từ bảy thức trước vào thức thứ tám,
được toàn công năng. Sau đó Kim Cương Thượng
Sư phải đóng lại hai lỗ tai, hai lỗ mắt, hai lỗ mũi,
đường miệng, lỗ rốn, âm đạo, lỗ đít, chỉ để thừa lại
Thiên Khiếu. Sự phong bế (đóng lại) phải dùng
Quang Uẩn Thiên Thức Pháp. Đây phải có Thượng
Sư của Kim Cương Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp
có mặt để phong bế mười khổng đạo (lỗ, lối thoát ra,
exit). Sau đó là “thiên thức” (đổi thức). Thức thứ tám
Như Lai Tâm Tạng, nhất thiết chủng trí, là chân tâm
từ vô thủy đến nay thoát khỏi kiến văn, giác tri, nghĩa
là trong tam giới không khởi lòng tham, sân, si, sản
sinh ra lòng chán bỏ trong tam giới. Kim Cương
Thượng Sư đủ sức vận dụng: “quang uẩn”, “thiên
thức”. Đây chính là vô thượng Đại Pháp cực kỳ quan
trọng, có thể làm cho từ vị trí của người vong, trong
một thời gian rất ngắn mà trong trung âm chứng ngộ
được Nhất Thiết Chủng Trí của một vị Bồ Tát chứng
ngộ, đạt đến thần dụng của thức thứ tám. Ví dụ như:
Gia mẫu Lô Ngọc Nữ viên tịch tại Tây Nha Đồ Mỹ
Quốc, tôi có mặt tại lúc đó. Tôi đã dùng Quang Uẩn
Thiên Thức Pháp, mở được Thiên Môn, đóng được
Địa Hộ, ngăn được Nhân Đạo, cản được Quỷ Lộ. Việc
này chỉ có Thượng Sư tương ứng, Bản Tôn tương
ứng, Kim Cương Thượng Sư tương ứng hộ Pháp
mới có thể vận dụng Quang Uẩn. Đặc biệt là trên
phương diện “thiên thức” (dời đổi thức), thức thứ
tám có thể tính cao, Pháp sư bình thường và người
phàm phu không thể hiểu được. Chỉ có vị đã chứng
Chân Như và Đại Kim Cương Thượng Sư thân
chứng thức thứ tám Như Lai Tạng mới có thể hiểu
nổi “thiên thức”.
     Do người vong ở cảnh giới trung âm, sáu thức,
bảy thức gộp lại gây tác dụng, tạo ra nhiều cảnh giới
không tốt. Cho nên Kim Cương Thượng Sư cần phải
chỉ dẫn, dùng phi tâm tâm, bất niệm tâm, vô trụ tâm,
vô tâm vô tướng mà phá trừ đi.
     Cần phải để cho người vong tỉnh ngộ để rời bỏ
kiế n, vă n, giác, tri của “lục căn, lục trần, lục xứ” mà
nhận chứng Tự Tính Đại Chủng Trí. Lấy sự thần
dụng của nó từ Thiên Khiếu tiến nhập Cực Lạc Tịnh
Thổ vãng sinh Phật Quốc, trở về nhập vào Tự Tính
của A Di Đà Phật. Lúc bấy giờ các đệ tử cùng người
trong nhà tại hiện trường có khoảng hai chục người
quay quần xung quanh, chúng tôi khởi niệm Danh
Hiệu “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”, niệm Danh
hiệu không ngừng (Bản Tôn của mẹ tôi là Quan Thế
Âm Bồ Tát). Trong hiện trường mọi người chứng
kiến thân xác của mẹ tôi được sự tốt lành xảy đến:
đột nhiên đầu mẹ tôi từ từ nâng lên, một luồng chân
khí (chân tâm) từ đỉnh Thiên Khiếu vụt xuất ra mà
bay đi. Đây là mẹ tôi được giải thoát khỏi lục đạo
luân hồi, minh chứng ly khai khỏi tam giới (khi hoả
tang xác mẹ tôi, trong tro đã tìm thấy xương xá lợi,
răng xá lợi và hoa xá lợi)
     Mẹ tôi do thiên thức mà sơ ngộ, do sơ ngộ mà
thần dụng sinh khởi đại trí tuệ, như bây giờ bà đã trở
thành Đại Bồ Tát

NHÂN SINH LÀ KHÁCH QUA ĐƯỜNG.
     Khi tôi mới học Phật, học qua khóa tụng, Pháp
Sư dạy tôi khóa tụng là Pháp sư Thiện Tứ của chùa
Từ Âm Tự và Pháp Sư Thượng Lâm của chùa Từ
Minh Tự. Sau khi học xong khóa tụng kinh xám hối,
tôi ngẫu nhiên được cử đi thực tập, theo đoàn để đi
tụng “cúng tế trời”, cũng tụng kinh siêu độ giúp
người trong việc tấn liệm xác chết. Thậm chí có
người vừa chết xong, xác còn nằm thẳng cẳng trên
tấm ván mộc, cá nhân tôi thay cho người vong tụng
“Cước Mao Kinh”. Có biết tôi đã chứng kiến bao
nhiêu người chết không? Câu trả lời là Vô Số (không
thể đếm)
     Niết mục hoành sinh không lý hoa, vọng tương
tam giới nhận vi gia,
     Đại thiên thường tịch quang minh chiếu, chúng
chướng tiêm trần tổng thị già.
      Ái thằng khiên nhập khổ Sa Bà, khốc đáo hoàng
tuyền lệ chuyển đa
     Thùy vị biệt ly cùng kiếp hận, thông thân hồn thị
cổ Di Đà
     Hàn thực hoang giao tận khốc thiên, hữu thùy
diêu niệm lão Kim Tiên
     Kiếp lý mai hướng Liên Hoa Thổ
     Chúng yêu nhân lai hóa chỉ tiền
     Lúc ban đầu,tôi niệm “Cước Mao Kinh”, phong
tục của thế nhân là các tượng Phật, Thần tượng
trong phòng khách đều phải che lại sợ làm khó chịu
người vong. Nhưng tôi không đồng ý, tôi khuyên
những thân thuộc của người vong mang các khăn
bọc tượng bỏ đi và để tượng Phật đặt tại đỉnh đầu
người vong để tiện cho Phật, Bồ Tát tiếp dẫn người
vong và cũng để cho người vong nhớ niệm Phật, Bồ
Tát.
     Tôi niệm Cước Mao Kinh. Đốt nến, thắp hương,
một bát nhỏ cơm trắng. Tôi cảm thấy nhân sinh thật
thê thê, thảm thảm, đi đến cuối đời hai chân dừng
lại, đầu trẹo sang một bên chết. Người thời nay trông
thấy người vong ắt nhíu mũi cau mày,chỉ vì mùi hôi
mà mau mau bỏ chạy. Há họ có biết ngày xưa người
vong là một người nữ xinh đẹp, người trông thấy
chắc hẳn phải phới phới tươi cười, tham muốn bởi
một sắc đẹp như ngọc tinh khiết, càng thêm yêu vẻ
kiều diễm. Người sống là thế đó! Người chết là thế
đó! Trong đó có người rất kém cỏi, có người rất ưu
tú, có người rất nghèo khổ, có người rất giàu sang,
có người bần tiện, có người phú quý, có người rất
ngu si, có người rất thông minh. Tất cả trải qua
nhiều kiếp, như biển rộng, như giọt nước, người
dân thường ngoài chợ nhỏ, kẻ đạt đến quan quý cao
sang, nhưng tất cả đều là khổ trong cái thế giới Ta
Bà này vậy! Than thở rồi lại than thở, nhân sinh như
lữ khách, như khách qua đường mà thế giới Ta Bà là
quán trọ.
     Sau đó tôi học Mật Giáo. Tôi hiểu được chân
thực về người chết. Tuy nhiên mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý, mạt na thức… giống như ý thức của tôi còn
yếu. Nhưng tôi ý thức được cứ vẫn duy trì lâu dài,
như nằm mộng cùng hôn mê giống nhau, nhưng
phải giới hạn ở giữa khoảng nằm mộng với hôn mê.
     Phổ thông người ta thường cho rằng người chết
chính là đi vào tình trạng ý thức hoàn toàn bị mất,
hoặc là vào “chân không”, tất cả đều không còn nữa,
chết rồi tức là tất cả đều không còn gì nữa, người có
chủ trương như thế không phải là không có, cho nên
họ nhận rằng con người chỉ có một đời, không có
đời kiếp nào khác, hoàn toàn, hoàn toàn tiêu tan mất.
Nhưng cảnh giới trung âm tôi thấy, chính là con
người sau khi chết như cùng đi vào một giấc mộng
khác, mộng này đương nhiên không phải là “chân
không”, cũng tuyệt đối không phải là “không vô”,
cũng không là “hư không”, đây chính là linh hồn.
Trung Âm chính là Linh Hồn, Đạo Gia (Lão Giáo)
chính là Nguyên Thần. Trung Âm cũng gọi là Trung
Hữu. Tức là con người sau khi chết còn chưa bị lục
đạo luân hồi (trước khi) thì do một chút vi tế vật chất
hình thành, hóa sinh duy trì sự sống. Sự hóa sinh
này chính là trung âm thân. Thông thường theo Mật
Giáo thuyết Pháp thì trung âm thân ở giai đoạn tối sơ
trong 49 ngày, mỗi 7 ngày một lần sinh tử, trải hết 7
lân sinh tử để đợi sự an bài của nghiệp duyên, sau
đó là lục đạo luân hồi, lại một lần nữa đầu thai, sinh
và trôi giạt trong cảnh giới lục đạo luân hồi. Cứ như
tôi biết thì người có tu hành lúc hóa sinh do vi tế vật
chất hình thành sau khi chết, lúc chưa bị lục đạo
luân hồi, ở thời điểm trung âm đã có thể biết tương
lai nơi họ sẽ vãng sinh. (Đây là sự hiểu biết về sự
sống trong thời gian trung âm). Người không có tu
hành gì cả, sau khi chết sẽ trở thành huyễn thể vô
minh, phiêu bạt trong sinh tử (trung âm thân). Lúc
thì chạy đi kiếm thân nhân, lúc thì ở tại phần mộ lo
lắng bồi hồi, lúc thì trở về chỗ ở cũ của mình, lúc thì
xoa vuốt những vật mà lòng mình yêu thích, lúc thì
hồi tưởng chuyện đã qua.
     Điều rất thường thấy là trung âm thân hành động
rất vội vã, chợt đông, chợt tây, đây cũng là do không
phải chịu tất cả những sự hạn chế nào về ý thức.
Theo tình cảm mà nói thì rất là phức tạp hóa, nhưng
theo ý chí mà nói, hành động tự tại mà lại có “lực vô
cảm”.    
        Lực vô cảm này là đối với vật chất nhân gian,
điều người vong nói, làm. Người thế gian tất cả đột
nhiên không có cảm giác. Căn bản cảm giác không
đến, trừ “thông linh nhân”. Lấy tôi đây để làm ví dụ.
Bệnh liệt não của tôi là chính do Quan Thế Âm cấp
cho tôi kinh nghiệm tử vong. Tôi rất tiêu cực mà nói.
Tôi trong sự thống khổ thoát ra sự thống khổ (sau
khi chết sự thống khổ đã giải trừ). Tứ đại phân tán
cũng là kinh nghiệm, tám hàn, tám nhiệt cũng là kinh
nghiệm. Sau khi bị liệt não thì sen tám cánh nở hoa,
ngồi trong hoa sen là trung âm thân, là Nguyên Thần
của tôi, người tu hành đã lâu năm, là Chân Ngã,
Chân Như, Bản Ngã, Phật Tính, Chân
Quang…Nghiêm chỉnh mà nói, đây chính là Niết Bàn
của người tu hành, người có tu hành, người giác
ngộ chân thực, hoàn toàn thoát ra khỏi lục đạo luân
hồi và sự thống khổ của nhục thể. Niết Bàn chính là
thể nghiệm viên mãn. Tại Giác Tính là vô phiền vô
não, tại Thần Hành là tự tại, cũng là đại lực, cụ thể
thập lực của Như Lai: 1/ Trí Tuệ lực; 2/ Túc Mệnh
Toàn Tri lực; 3/ Thiền Định Tam Muội lực; 4/ Tri
Chúng Sinh Nghiệp Báo Lực; 5/ Tri Chúng Sinh Tri
Giải Lực; 6/ Tri Hư Không Thập Phương Pháp Giới
Lực; 7/ Tri Nhân Quả Lực; 8/ Thiên Nhãn Vô Tận
Lực; 9/ Vô Lậu Niết Bàn Lực; 10/ Nhất Thiết Mê Hoặc
Toàn Vô Lực. Còn có sự chứng đắc Vô Thượng
Chính Đẳng, Chính Giác của người tu hành, cũng có
khả năng tùy theo ý nghiệp của thập phương chúng
sinh mà phổ biến thị hiện thân mình.. Điều mà tôi rất
lấy làm thương tiếc là trung âm thân phiêu bạt sinh
tử trong biển khổ vô minh, mê hoặc trong cái Huyễn,
sinh không biết sinh, tử không biết tử, chúng sinh
kiêu mãn, đố kỵ, lười biếng, nóng giận, tham gian,
sắc dục, ngu si. Đây là những vô minh làm cho rất
nhiều người không biết tu hành, không gặp được
thiện duyên, vĩnh viễn trở thành người hoặc súc
sinh trong lục đạo luân hồi hoặc là lữ khách của bốn
đường ác khác.

CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT CỦA TRUNG ÂM THÂN
     Liên quan đến con đường giải thoát của trung âm
thân thì trong cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện
Kinh, Phật Đà cũng đã nói rất rõ và đủ tường tận rồi:
     Như trong phẩm thứ 8 “Các Diêm La Vương Tán
Thán” Phật bảo Diêm La Thiên Tử rằng Chúng sinh
tại Nam Diêm Phù Đề tính nết rất ương nghạnh, rất
khó điều phục, nên Bồ Tát đã tốn mất cả trăm ngàn
kiếp để lo cứu mạng những chúng sinh này sớm
được giải thoát khỏi những tội báo, thậm chí phải
đọa vào đường ác thú. Bồ Tát đã dùng thần lực để
cứu họ khỏi các nghiệp duyên cốt để thấy được các
sự việc ở đời trước. Nhưng tự các chúng sinh Diêm
Phù Đề đã kết tập nghiệp ác quá nặng, vừa vào
đường tốt rồi lại bỏ ra, khiến Bồ Tát đã phải trải qua
nhiều kiếp số để tìm cách giải thoát cho họ”
     “Ví dụ như người u mê mất gia đình, lạc vào
hiểm đạo. Trong hiểm đạo có nhiều dạ xoa, hổ, sói,
sư tử, rắn rết, rắn độc. Người mê lạc ấy trong hiểm
đạo bỗng chốc gặp phải các loài độc hại. Có một
người thiện trí thức biết nhiều pháp thuật, ngăn
chặn được các loài độc hại kể cả dạ xoa, các loài độc
hại khác. Chợt người thiện trí thức thấy người mê
lạc kia muốn đi vào hiểm đạo, nên vội nói rằng này,
vị nam tử kia sao lại đi vào con đường ấy, có pháp
thuật gì không để chế ngự các loài độc hại? Người
mê lạc kia nghe được lời nói này mới biết đó là hiểm
đạo, vội vàng lui bước và cầu mong được thoát khỏi
hiểm đạo. Người thiện thi thức kia đưa tay dắt người
mê lạc ra khỏi hiểm đạo”
     Tôi hôm nay trích dẫn đoạn kinh văn này chủ ý
muốn nói rằng
Người mê lạc kia chính là trung âm thân
      Địa Tạng Bồ Tát là Vị Đại Thiện Trí Thức
     Thiện Trí Thức khuyên người mê lạc đừng vào
tam đồ (ba đường ác)
     Cứu giúp các tội khổ chúng sinh được sinh làm
người, trời hoặc vãng sinh Phật quốc. Còn có “Diêm
Phù Đề nam tử, nữ nhân khi mệnh phải lâm chung,
thần thức bị hôn mê, không biết thiện ác thế nào,
thậm chí mắt tai càng chẳng thấy, chẳng nghe thì
các người trong gia đình phải nên thiết lập đại cúng
dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm danh hiệu Phật
Bồ Tát, những thiện duyên này có thể giúp cho
người vong xa lìa ác đạo, các ma, quỷ thần tất phải
chạy xa”
     Điểm trọng yếu là “Thưa Thế Tôn, tất cả mọi
chúng sinh khi lâm chung nếu nghe được danh hiệu
của một vị Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát hoặc
kinh điển Đại Thừa chỉ cần nghe được một câu, một
bài kệ, tôi thấy tất cả những người này - trừ các tội
vô gián sát hại – có những ác nghiệp nhỏ mà phải
đọa vào ác thú thì sẽ kịp được giải thoát. Địa Tạng
Kinh dạy rằng hãy thế cho người vong làm việc tốt
lành, hãy thế cho người vong mà tu Phật Pháp, hãy
thế cho người vong đọc kinh, niệm Phật trì chú. Tại
bàn thờ Phật hãy treo cờ, lọng, chút hương chút hoa
cúng Phật Bồ Tát, đốt hương khấn đọc một câu kinh,
câu kệ (đây là phần trích dẫn từ Địa Tạng Kinh, rất
quan trọng)
     Vì tại sao tôi lại trích dẫn cho mọi người đọc một
đoạn kinh trong “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh”.
Bởi vì kinh này lợi cho cả hai người dương, kẻ âm.
Bộ kinh này là do Thích Ca Mâu Ni Phật tại Đao Lợi
Thiên Cung trước Ma Da Phu Nhân mà giảng về Địa
Tạng Bồ Tát. Địa chính là an nhẫn bất động như đại
địa, Tạng chính là tĩnh lự, thâm mật. Vị Đại Bồ Tát
này không chỉ cứu người cõi âm, mà cũng cứu
chúng sinh trong lục đạo. Sau khi Thích Ca Như Lai
tịch diệt và trước khi Di Lặc Như Lai sinh ra, Địa
Tạng Bồ Tát được Phật Đà giao đại trọng trách cứu
độ chúng sinh. Do vì Địa Tạng Bồ Tát thường cứu
khổ, cứu nạn tại các địa ngục cõi âm nên Ngài có đại
nguyện rằng địa ngục chưa hết tội phạm nên chưa
thành Phật. Cho nên chúng ta mới xưng tán ngài
“Nam Mô U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng
Vương Bồ Tát”.
     Nghĩ một cách sâu sắc tôi cảm thấy rằng nơi khổ
nhất trong lục đạo chính là địa ngục, có căn bản đại
địa ngục, có tám nhiệt, tám hàn, cộng 16 đại địa
ngục. Ngoài ra lại có cận biên địa ngục, tức là thêm
16 bát nhiệt điạ ngục cận biên có bốn cửa. Còn có cô
độc địa ngục tại Sơn Gian, Khoáng Dã, Thụ Hạ, Thủy
Tân những địa ngục này cũng không giống nhau.
Nhưng căn bản đại địa ngục là tối khổ, thứ đến là
cận biên địa ngục, cô độc địa ngục cũng đứng hàng
thứ hai. Theo thiên nhãn của tôi thấy rằng địa ngục
không chỉ ở dưới đất, cũng không nhất định phải ở
dưới đáy biển mà tại nhân gian này cũng có địa
ngục. Tôi thường nói các y viện lớn chính là các đại
địa ngục, Người bệnh hoạn nhập viện đương nhiên
đều phải chịu khổ, đây cũng là nghiệp báo sở cảm.
Mọi người thường thường đều đã thấy những cảnh
trong các y viện nào là giải phẫu mở não, cắt hầu,
móc tim, cắt gan, đổi thận, cắt đứt chân tay, cắt ruột,
cắt bao tử. Trời ơi! Đó không phải là khổ hình địa
ngục hay sao? Lại còn có các chứng ung nhọt, nước
tiểu đường, chứng trúng phong, bệnh aids (sida),
bệnh tâm thần, vân vân (tám vạn bốn ngàn loại
bệnh, nhiều không thể kể số)
     Những thứ tật, bệnh hoạn kể trên không phải là
khổ thì là cái gì đây? Khổ trong nhân gian của chúng
ta và sự giải thoát trung âm thân thực tại rất tương
tự, nhân gian cũng là dạng khổ, không, vô thường,
vô ngã. Hôm nay tôi dũng cảm nói rằng nhân gian
cũng trong lục đạo luân hồi, nhục thể của nhân gian
và trung âm thân sau khi chết là vấn đề quan niệm
của thế giới chủ thể và thế giới khách thể. Con
người tu hành giải thoát và sự giải thoát trung âm
thân  kỳ thực không có gì sai biệt lớn.
     Sự sai biệt đó là nhân gian có thực thể (nhục
thể), một chút chân thiết, trung âm thân  không có
nhục thể, một chút hư huyễn. Tuy nhiên chúng ta
chết rồi thì quang ảnh nhìn thấy sau khi đã chết, từ
góc độ của trung âm thân của người chết mà nhìn thì
vẫn là chân thực, giống như một người ngủ mộng thì
trong mộng người đó vẫn cho là hoàn toàn chân
thực vậy. Đợi cho đến sau khi tỉnh dậy người đó mới
biết là cảnh trong mộng mà thôi.
     Mật giáo vì sao lại dạy mọi người phải “tu mộng”,
phải biết mộng, giấc mộng rõ ràng, giấc mộng trong
sáng “trong mộng biết tu”. Bởi vì trung âm thân cũng
giống như mộng. Bạn trong mộng cũng có thể tu,
niệm Phật trì chú, trong mộng cũng có khả năng tu
pháp trong sáng, quy y Kim Cương Thượng Sư, Quy
Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Đương nhiên trong
lúc là trung âm thân cũng có khả năng được giải
thoát. Trong cuốn “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện
Kinh” đã nói rất rõ ràng cho chúng ta, đối với người
sắp chết hoặc vừa chết khuyên bảo họ đừng vào
hiểm đạo, hãy nhanh nhanh thoát ra khỏi hiểm đạo.
Nhân đó mà thấy được ánh sáng, Quy Y Phật, Quy Y
Pháp, Quy Y Tăng. Bồ Tát phóng quang làm cho
trung âm thân nhớ niệm Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ
Pháp, giải thoát cảnh giới thành thục, nghiệp lực tại
thế gian bị vứt bỏ đi, trung âm thân có thể dung
nhập trong ánh sáng của Như Lai để đủ khả năng
trong một sát na nhập vào Tịnh Thổ của Như Lai.

CÔNG ĐỨC TU HÀNH
     Tôi cho rằng muốn được vãng sinh Tịnh Thổ
Phật Quốc không chỉ là bỏ công sức ra để giải thoát
trung âm thân, kỳ thực người vong khi còn sống cần
phải tu Giải Thoát Đạo và Bồ Đề Đạo sớm chuẩn bị
công đức vãng sinh. Đây là điểm rất trọng yếu. Bởi vì
sở dĩ người vong có đủ khả năng để được giải thoát
đó là vì khi còn sống người này đã tu hành đủ công
đức thì khi ánh sáng của Như Lai xuất hiện mới đủ
khả năng nhận thức và mới có đủ khả năng hòa
nhập vào ánh sáng Như Lai.
     Nếu như một người bình thường cả Phật với
Pháp chưa từng nghe qua, chưa từng nghĩ đến,
chưa từng tu thì làm sao Vị Đại Thiện Tri Thức có
thể khuyên bảo, chỉ đường cho đi. Người này đang
trong lúc hôn mê, đợi đến khi trông thấy tất cả các
ảnh tượng thì cho đó là thế giới chân thực. Những
loại người này tâm thức của họ là huyễn tưởng, tạp
niệm không ngừng nghỉ, căn bản tâm thức của họ
không biết tìm đâu mà đến rồi từ đâu mà đi, tính cho
đến khi nghe được lời khuyên chỉ lối dẫn đường thì
lại cũng giống như những người này khi còn tại thế
cố chấp vào ý kiến của mình, căn bản không biết
rằng có một cảnh giới khác, từ đó bèn chiếu theo
nghiệp báo của mình để đi vào lục đạo luân hồi, lại
vẫn cứ trong huyễn mộng! Cho nên tôi xin nói với
mọi ngưòi rằng khi còn sống chúng ta phải chuẩn bị
công đức cho việc vãng sinh là rất trọng yếu, phải
hết sức chú ý điểm này không được sơ xuất. Trong
Mật Giáo cần tu Tứ Gia Hành: Tứ Quy Y, Đại Lễ Bái,
Đại Cúng Dường, Kim Cương Tâm. Giữ 5 giới, làm 10
thiện, tuân theo giới luật của Mật Giáo. Tu Thượng
Sư Tương Ứng Pháp (Thượng Sư là Đại Thiện Tri
Thức), tu Bản Tôn Pháp (nhắm về Phật Quốc Tịnh
Thổ), tu Hộ Pháp (giữ gìn, giúp đỡ tu hành). Khí,
mạch, điểm sáng, chuyển thức thành trí (vô thượng
mật), đại viên mãn. Tu theo Hiển Giáo: giữ 5 giới, làm
10 thiện, tu Tứ Thánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), tu Tứ
Niệm Xứ (Quán thân bất tịnh, Quán thụ là khổ, Quán
tâm vô thường, Quán pháp vô ngã), tu 10 tín, 10 trụ,
10 hành, 10 hồi hướng, tu Bát Chánh Đạo, tu thập ba
la mật (thập địa), đẳng giác diệu giác.
     Không quản Hiển Giáo hay Mật Giáo, tôi nhận
thức rằng Hiển Mật viên thông, chính bản thân đi từ
con đường Đạo- Hiển- Mật mà ra. Tôi không bỏ Đạo
giáo, tôi không bỏ Hiển Giáo, tôi cũng không bỏ Mật
Giáo nhưng tôi chuyên tu Tịnh Thổ, chuyên tu Chân
Phật Mật Pháp, thấy không có điểm gì xung đột cả..
Tôi biết Phật Đà Chính Trí Giác Ngộ, tựu gọi là Bồ
Đề. Bồ Đề Tâm cũng tức là cầu giữ tâm chính giác.
Khi Đức Phật còn tại thế đã dạy chúng ta ba loại Bồ
Đề:
     1/ Thanh Văn Bồ Đề: Tu tứ Thánh Đế Pháp, tu Tứ
Niệm Xứ, hành giả sở đắc được Chính Giác
     2/ Duyên Giác Bồ Đề: Tu Thập Nhị Nhân Duyên,
tự quán hoa khai, hoa tạ (rụng) mà đắc được Chính
Giác.
     3? Phật Bồ Đề: Tu Vô Thượng Pháp, Vô Đẳng
Đẳng Pháp, Đắc Vô Thượng Bồ Đề, diệu đắc Quả Vị
Phật đó là Tối Cao Bồ Đề.
     Khi Phật còn tại thế các đệ tử chứng đắc những
quả vị rất nhiều. Phật Giáo hiện nay chia thành Ngũ
Thừa Pháp:
     1/ Nhân Thừa Pháp: tu Ngũ Giới Pháp sinh đến
nhân gian.
     2/ Thiên Thừa Phật Giáo: tu 10 Thiện Pháp thăng
đến Thiên Thượng
     3/ Thanh Văn Thừa Phật Giáo: tu Tứ Đế Pháp,
chứng đắc A La Hán Quả
     4/ Duyên Giác Thừa Phật Giáo: tu Thập Nhị Nhân
Duyên, chứng đắc Bích Chi Phật Quả
     5/ Bồ Tát Thừa Phật Giáo: tu Lục Độ Pháp, chứng
đắc Đẳng Giác, Diệu Giác, chứng Vô Thượng Phật
Quả
     Cá nhân tôi cảm thấy rằng, hiện nay Pháp Sư đề
xướng Nhân Thừa hoặc Thiên Thừa, giáo đạo năm
giới, mười thiện là không được, không có hậu.
     Ở Sa Bà Thế Giới không nên chỉ giáo đạo Thiên
Thừa mà phải bước theo bước chân Phật mà đi mới
đúng. Bởi vì cuối cùng ở nhân gian này là khổ,
không, vô thường, vô ngã. Khổ nhiều, sướng ít. Ở
trên trời hưởng hết phúc báo thì lại phải đọa xuống.
Tôi chủ trương cùng nhập ngũ thừa mà tu Nhân,
Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có thể
đáp ứng theo đại nguyện lực của A Di Đà Phật, đều
chứng nhậpBáo Thổ của Đức A Di Đà Phật. Cho nên
Bản Tôn của tôi là Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ
Tát, A Di Đà Phật. Đây là nhân duyên của tôi, tin rằng
có vậy.
     Ba Loại Bồ Đề là chính Pháp, Ngũ Thừa Phật
Giáo cũng là chính Pháp, chỉ có Nhân Thiên Thừa
còn trong lục đạo luân hồi. Tu Pháp của Mật Giáo và
Hiển Giáo thực sự có điểm tương đồng đắp đổi khác
nhau, cách tu hành không giống nhau, nhưng tương
thông là sự thực.
     Chuyên nhất du già – Ly hí du già - Nhất vị du già
– Vô tu du già.
     Tôi nói như trên chỉ muốn nói đến sự tương ứng
của Bản Tôn để có thể vãng sinh nơi Tịnh Thổ Phật
Quốc, chuyên nhất niệm Phật trì chú, ly hí chính là
xuất thế gian pháp, đáo liệu nhất vị chính là tất cả đã
thông đạt, vô tu du già tương đương với vô vi pháp.
     Duy thức Tông lập ra năm ngôi vị: Tư Lương Vị,
Gia Hành Vị, Thông Đạt Vị, Tu Tập Vị, Cứu Cánh Vị.
Năm Vị này cũng cùng có một dạng thức trong Mật
giáo, tối hậu là chuyển thức thành trí, cứu cánh
thành Phật.
     Tôi vì sao lại viết ra những điều này, bởi vì thời
gian tu hành tốt nhất là tại nhân gian, cũng chính là
thời gian còn sống. Nên phải chuẩn bị nhận thức
vãng sinh Phật Quốc, thành tựu Phật Quả theo Giáo
Pháp của Phật Đà, sớm phải chuẩn bị công đức để
sẵn đợi. Quyết không đợi cho đến lúc lâm chung
hoặc là trong thời gian âm trung thân. Sự cứu độ khi
lâm chung hoặc là cứu độ trung âm thân thì ít nhất
người vong lúc còn sống đã từng nghe qua những
giáo thị này. Có như thế sự cứu độ mới tự nhiên,
cũng là rất tốt. Càng tốt hơn cho người vong nếu
người này đã tu qua pháp, có sự tương ứng chỉ cần
giáo thị là người vong tức khắc thanh thản và tỉnh
táo để được giải thoát. Bởi vì không có quan niệm về
chuyển kiếp, không có quan niệm về vãng sinh,
không có quan niệm về trung âm thì làm sao mà chỉ
dạy (giáo thị). Thậm chí người vong lại không bỏ
được một thói quen nào đó. Ví dụ như người vong
khi còn sống thích đánh mà chược, người này sẽ
nhóm họp một nhóm toàn loại đổ bác quỷ trung âm,
tiếp tục trong cảnh giới trung âm huyễn mộng để tiếp
tục đánh mà chược.

MẬT GIÁO TỨC THÂN THÀNH PHẬT.
     Tôi thì thật là rõ ràng, đích thực bị chứng liệt não
và tôi chắc phải chết. Thân xác của tôi lúc này già
yếu, trên thực tế đó chỉ là “cái vỏ xác huyễn mộng”.
Vỏ xác này sao lại gọi là huyễn mộng. Bởi vì nó rất
khác so với tuổi nhi đồng của tôi, nó cũng rất khác
khi tôi ở tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên,
tuổi tráng niên. Một cá nhân mắc bệnh rất nhanh
chóng phải rơi vào tuổi lão niên. Con người phải
chịu cảnh này, thời gian là một ma thuật sư không
có gì không thể, nguyên bản là một tấm thân khỏe
mạnh bỗng bị lão bệnh không còn trông ra hình con
người nữa. Đương là đóa sen tám cánh nở hoa
(chứng liệt não), Phật ở ngay trong đó. Phật chính là
tử quang. Trong không trung xuất hiện tia cực quang
sáng lạng, ánh minh quang viên đà đà, đó chính là
mẫu quang của Bì Lư Tính Hải hoặc gọi là Pháp
Tính. Chân Ngã, chân thực không hư và như thường
bất biến, bản thể thanh tịnh mà không vọng nhiễm,
bản lai diện mục, không biến không khác, không
sinh không diệt, không tăng không giảm, không cấu
không tịnh, Như Lai tạng, thực tướng, viên thành
thực tính. Tử Quang chính là Chân Ngã hóa thành
Hồng Quang (ánh sáng cầu vồng). Mẫu Quang cũng
là Chân Ngã, Đại Bì Lư Già Na Quang Minh Hải. Hỗ
tương hội hợp. Đây chính là “Tức Thân Thành Phật”
của Mật Giáo.
     Tu hành Mật Giáo tức chúng ta đủ cả Tam Mật
Pháp Phật, nhưng vì nghi hoặc nhiễm mà không thể
chứng đắc, nên lấy Đại Bi Tâm của Phật để làm cho
chúng sinh thực hành và sống trong Tam Mật Phật
Bình Đẳng. Thân kết tức Khế (hợp) là Thân Mật, khẩu
tụng Chân Ngôn là Ngữ Mật, ý quán chủng tử, tam
muội gia hình, hoặc quán Bản Tôn, đó chính là Ý
Mật. Thực hành ba Mật này ắt được Tam Mật Như
Lai gia trì, tam nghiệp chúng sinh với Như Lai Tam
Mật, Nhập Ngã Ngã Nhập, không hai không khác, bảo
rằng Tam Mật tương ứng. Tam Mật tương ứng thành
tựu tất cả Tất Địa. Tôi vì sao có thể tu xuất được
Chân Ngã. Đó là vì:
     Chân Như tức Ngã Thân, Phật Pháp tức Ngô Thể,
mật mật mật mật dã, trùng trùng hựu thâm diệu.
     Pháp môn bí mật của Mật Giáo là Chân Ngôn Đà
La Ni, toàn thể giáo dục bí mật của Như Lai, Tự Giác
Chứng Trí Tu Chứng Pháp Môn, toàn thể các Pháp
của Mật giáo này, Pháp Giới cũng ít được nghe, nay
được may mắn nghe, hãy nên sinh sự hân hạnh,
cũng không được tạo ra sự báng bổ. (Nội chứng
Pháp Như Lai Pháp Thân, Chân Ngôn thần biến gia
trì, tuy Đẳng Giác Bồ Tát không thể đo biết, duy nhất
chỉ có Phật với Phật mới biết được)
     Ngoại trừ “Tức Thân Thành Phật” của Mật Giáo
còn có “Báo Thân Thành Phật” nữa. Tôi nói về Tịnh
Độ Tông Hiển Giáo, có môn niệm Phật. Mỗi ngày vào
buổi sáng thanh tịnh, xúc miệng rửa mặt sạch sẽ,
mặc quần áo thanh tịnh (hoặc xanh biển), mặt
hướng về hướng Tây hoặc bàn thờ Phật. Chắp hai
tay, liên tục niệm “A Di Đà Phật”, hết một hơi thở
niệm một lần, mười hơi thở thì niệm mười lần. Lời
niệm Phật và hơi thở hợp nhất, không hạn chế số
lần niệm Phật
             Giữ cho hơi thở và lời niệm Phật tiếp tục
             Hết hẳn một hơi thở kể một lần        
             Giữ cho tâm được an tường
             Giữ cho hơi thở và tâm hoà hợp
     Mục đích là làm cho tâm không bị phân tán,
chuyên nhất tinh tấn niệm Phật. Đó chính là Pháp
Môn Niệm Phật Tịnh Thổ làm cho tâm và hơi thở
thành một. Phát nguyện hồi hướng như sau:
     Con là đệ tử Liên Sinh, một lòng quy mệnh Cực
Lạc Thế Giới A Di Đà Phật, nguyện xin lấy ánh sáng
thanh tịnh rọi soi cho con, lời thệ từ bi giữ gìn con.
Con nay xin chính niệm, xưng tụng Như Lai Danh
Hiệu, kinh niệm mười lần, vì đạo Bồ Đề, cầu xin được
sinh Tịnh Thổ. Phật xưa đã có lời thề rằng nếu có
chúng sinh muốn sinh ra ở nước của tôi hết lòng tin
thật, thậm chí mười niệm, nếu không được sinh, tôi
không thủ Chính Giác. Chỉ trừ ai phạm năm tội
nghịch, phỉ báng Chính Pháp. Con tự nhớ rằng từ
khi sinh ra đến nay không tạo nghịch tội, không
báng bổ Đại Thừa. Nguyện lấy mười niệm này để
được vào trong Biển Đại Thệ, thừa từ lực của Phật
các tội đều tiêu tan, nhân thanh tịnh tăng trưởng.
Nếu đến lúc phải mệnh chung, tự biết đã đến lúc,
thân không bệnh khổ, lòng không tham luyến cũng
không tán loạn, như nhập thiền định. Đức Phật cùng
các Thánh tay mang Ngai Sen Vàng đến đón con về,
như một lần niệm sinh Cực Lạc Quốc, Hoa nở thấy
Phật, tức nghe Phật Thừa liền khiến mở Phật Tuệ,
quảng độ chúng sanh, mãn Bồ Đề nguyện. Nếu như
các đệ tử cảm thấy lời phát nguyện hồi hướng quá
dài thì có thể theo những lời tôi nói sau đây:        
             Nguyện cùng với những người niệm Danh
Hiệu Phật
             Cùng được sinh tại Cực Lạc Quốc
             Trước tiên báo đáp tứ trọng Ân
             Sau cứu giúp những chúng sinh tại ba
đường khổ
             Gặp thấy Phật chấm dứt sinh tử
             Giống như Phật độ tất cả chúng sanh.
     Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy rằng “Ví dụ
như có người, một người chuyên nhớ, một người
chuyên quên, như là hai người, nếu gặp không gặp,
nếu thấy không thấy. (như thế là không tốt). Lại nữa,
“nếu hai người cùng nhớ, hai nhớ niệm sâu, như thế
là từ sinh đến sinh, cùng chung hình ảnh, không có
gì sai khác nhau” (như thế là tốt đẹp).
     Lại nữa chư Phật mười phương thương yêu
chúng sinh như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ đi, tuy nhớ
mà phải làm sao? Nếu con nhớ mẹ như mẹ đang nhớ
thì mẹ con sống cuộc sống không xa lìa nhau. Nếu
chúng sinh lòng nhớ Phật và niệm Phật thì hiện tiền
hoặc sắp tới nhất định sẽ thấy được Phật
     Người có thượng căn khí: tâm tại Phật, bất cứ
vận hạn nào thường được che chở tất cả ác niệm
     Người có trung căn khí: muốn làm ác nhớ đến
Phật, ác bất năng thành
     Người có hạ căn khí: Dù cho theo ác tạo ác
nghiệp, tâm thường mềm dẻo, như thân có hương
thơm tự nhiên xa lìa hôi thối.
     Những người kể trên hãy niệm Phật tu Tịnh Độ.
Khi lâm chung A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát,
Đại Thế Chí Bồ Tát cùng Thánh chúng nhất định sẽ
đến đón vãng sinh Phật Quốc Tịnh Thổ.
Có người từng hỏi tôi, nếu như quỷ hoá giả làm Phật
đến đón thì phải làm sao? Tôi đã đáp như thế này.
Hãy niệm Chân Ngôn “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa.
Hồng” (3 lần). Nếu là Phật thật thì ánh sáng sẽ càng
thêm sáng lạn. Nếu là ma hóa giả làm Phật, thì ánh
sáng sẽ tiêu mờ. A Di Đà Phật thân đến đón, lúc bấy
giờ được giải thoát là vì chứng nhập “Báo Thân Phật
Thổ”. Y theo kinh điển đã nói hậu kỳ của trung âm
thân cũng có Chư Thiên trong sắc thân đến, có Hộ
Pháp sắc thân đến. Hậu kỳ trung âm được giải thoát
ắt là Ứng Thân. Cho nên giải thoát chia ra Pháp
Thân, Báo Thân, Ứng Thân, đây cũng là con đường
ba giải thoát.

CON MẮT ÂM CỦA NGƯỜI LÂM CHUNG.
     Đây không phải do tôi phát hiện mà đây là một
sự kiện rất nhiều người biết, không chỉ người Đông
phương cả người Tây phương cũng vậy. Một người
trước khi lâm chung trông thấy người âm hoặc cái gì
khác. Tuy nhiên những người trong giới y học nhận
thức rằng đây là “huyễn giác”. Giới y học cho rằng
nếu một người không ngủ 24 giờ, không nghỉ ngơi,
hoặc 3 ngày ba đêm không ngủ nghỉ thì người này sẽ
thấy huyễn giác. Cũng có học giả Phật Giáo nói như
thế, Phật Pháp có “Bát Chu Tam Muội”. Bát Chu Tam
Muội chính là “Phật Lập Tam Muội”, cũng tức là tu
Tam Muội mà được thành tựu, có thể thấy được
Thập Phương Chư Phật đứng trước mặt mình.
     Phật hiện ra đứng trước mặt là trong lúc tu
không được ngồi hoặc nằm, từ sáng đến tối, cũng
như từ tối đến trời sáng không được đi, chỉ đứng, cứ
90 ngày gọi là một kỳ, chuyên niệm  Danh Hiệu A Di
Đà Phật , đây là “Bát Chu Tam Muội”. Nhưng theo
người học Phật và giới học thuật hiện đại thì 90 ngày
chỉ đứng không ngồi, không nằm, từ sớm đến tối chỉ
niệm Phật không ngừng trong thời gian liên tục, chỉ
nhờ một sợi giây treo để hỗ trợ khi đứng, đây nhất
định là “huyễn giác” rồi.
     Những người trong giới họa thuật cho rằng giống
như người trượt tuyết marathon, 24 giờ liền trượt
tuyết không ngừng nghỉ. Những người này trong quá
trình trượt tuyết đã trông thấy người hoặc vật rất kỳ
lạ đứng ở hai bên. Họ nhận định đây là huyễn giác.
     Nay nói đến con mắt âm của người sắp lâm
chung trông thấy. Việc này tôi không muốn nghiên
cứu nên không khẳng định mà cũng không phủ định.
Nhưng tôi đưa ra đây một thí dụ có thực để mọi
người tham cứu: Có một người sắp lâm chung đã
trông thấy một người bạn rất tốt trước đây của người
này nhưng đã chết, đứng ngay trước giường anh ta.
Người sắp lâm chung nói rằng người bạn kia mặc tây
y, áo lót bên trong mầu hồng, miệng túi áo có dắt vào
một cây bút sắt. Người lâm chung trước đây đã
không tham gia đám tang của người bạn. Cái áo lót
màu hồng do người nhà thay cho anh bạn khi chết,
cái bút sắt là tăng vật của cô em gái của người bạn
đã chết dắt vào túi áo hồng của người chết. Ai nghe
thấy cũng rùng mình sợ hãi. Tôi lại nói thêm một sự
thực: Có một cụ già bị bệnh lú lẫn lâm chung, khi cụ
còn sống căn bản chẳng biết gì về người con trai và
người con dâu của cụ đã bị chết trong một tai nạn xe
hơi, cũng chẳng có ai nói cho cụ rõ về tai nạn này
xảy ra cho các con cụ, bởi nói cũng vô ích vì căn bản
cụ bị bệnh lú lẫn, cụ chẳng nhận ra ai cả. Nhưng đến
khi lâm chung cụ lại rành mạch nói rằng con trai cụ
và con dâu đều đến để đón tiếp cụ. Cụ nói “chúng nó
đã bị chết sớm, vì sao không có ai cho tôi biết?”. Ai
nghe cũng khiếp sợ. Lại một câu chuyện có thật nữa:
Một vị khi lâm chung trông thấy những thân nhân
của mình đã chết nay toàn bộ hiện ra đứng bốn xung
quanh cụ. Cụ điểm danh từng người một, không bỏ
sót một ai cả. Nhưng duy nhất có một hồn cụ không
điểm danh đến, mọi người hiếu kỳ bèn hỏi cụ tại sao
nó (hồn cụ không điểm danh) không đến đón cụ.
Người sắp lâm chung bỗng bật cười to ha ha “Nó
không dám đến tiếp ta là vì khi nó còn sống nó rất sợ
ta, nó không dám hiện thân ra, nhưng không phải nó
không đến, nó đứng núp ở sau cửa kia”. Người sắp
lâm chung lấy tay chỉ về phía cửa. Ai nghe cũng sợ.
     Còn có chuyện bà tổ mẫu của tôi ra đi, khi lâm
chung bà thấy thân nhân lại nghênh đón bà không
đi, mà dùng búa sắt đánh họ cho đến khi bà mệt lử,
búa săt bị thu bà mới chịu ra đi (đây là sự thực tôi đã
nói qua trước đây trong sách viết)
     Người sắp lâm chung trông thấy người đã chết
trước đến đón mình là chuyện thường nghe thấy
như đã kể trên, vậy toàn bộ là huyễn giác hay không
huyễn giác?
     Đương nhiên trông thấy người đã chết về đón
mình không phải là cảnh giới tốt. Tôi cho rằng đây là
chốn u minh trong lục đạo luân hồi, cảnh giới hắc
ám không đủ để được con đường giải thoát. Hiện
tượng người lâm chung sinh ra con mắt âm bất luận
là huyễn giác hay không, nhưng đây xác định một
tính chất rất cao, bởi vì người sắp lâm chung đang ở
trong thế giới mang tính nhị nguyên, săp chết nhưng
chưa chết, tất cả điều trông thấy cũng có phần nào
thật. Thời gian này tìm cách chỉ giáo cho người lâm
chung con đường giải thoát chính là thời cơ tốt nhất.

ÁNH SÁNG MẬT GIÁO
     Căn cứ vào sự quan sát qua thiên nhãn của tôi
thì rất nhiều người chết ở trong cõi sắc giới. Lúc này
những gì trông thấy với cõi dục giới không tương
đồng, đây là so sánh cao về tầng thứ. Tôi phát giác
những người chết liên quan đến Tây Phương Cực
Lạc đạt kỷ lục, những người này sau khi chết ở trong
một cảnh giới ánh sáng hoặc nhìn lên trên trời thấy
có ánh sáng. Người tử vong sẽ về Tây Phương Cực
Lạc trông thấy rất nhiều ánh quang minh và trong
ánh sáng còn thấy cả Thiên Sứ, Thiên Sứ bảo với
người vong thời gian chưa đến, trước tiên hãy đi về
và chờ. Người vong đã sống trở lại.
     Nhân viết về kỷ lục của người tử vong sẽ được
về Tây Phương, trong giáo thị của Mật Giáo đối với
“ánh quang minh”. Đây là do sắc đắc ngộ, do sắc
đắc giải thoát. Trông thấy ánh sáng, thứ nhất là
đường Niết Bàn giải thoát, thứ hai là lục đạo luân hồi
không giải thoát. Giải thoát đạo nhất định sắc thái
rực rỡ xán lạn, còn lục đạo luân hồi đạo thì sắc ám
tối.
     Thuyết Pháp của Mật Giáo thì ánh sáng của lục
đạo luân hồi với ánh sáng của đường giải thoát, sắc
thái giữa hai cũng một dạng. Tuy nhiên giải thoát
đạo thì rực rỡ xán lạn, còn của lục đạo luân hồi thì
mờ ám. Cho nên về phương diện phân biệt màu sắc
ánh sáng thì ánh sáng thị hiện của chư Phật Bồ Tát
là rực rỡ, là ánh sáng giải thoát mà ánh sáng của lục
đạo luân hồi là mờ ám, Mật Giáo nhận thức rằng loại
ánh sáng này có độc tính và tội ác. Người vong trông
thấy minh quang, kỳ thực là trông thấy tâm tính của
chính mình (tâm quang). Do ở tâm quang của người
vong (tâm tướng) hiển hiện ra minh quang của Phật
Bồ Tát, hoặc là một đạo ánh sáng nào đó của lục đạo
luân hồi. Lúc này làm sao để đối phó? Vào lúc này
thì sự chỉ dẫn của Thiện Tri Thức thật phi thường
trọng yếu, Thiện Tri Thức sẽ chỉ dẫn cho người vong
phân biệt ra “minh quang” (ánh sáng). Minh quang
của Phật, minh quang của Bồ Tát, minh quang của
Chư Tôn, minh quang của A Tu La, minh quang của
nhân đạo, minh quang của Ngã Quỷ Đạo, minh
quang của Súc Sinh Đạo, minh quang của Địa Ngục
Đạo
     Ánh sáng của tam đồ đều có độc tính tương
đương hoặc sản sinh ra đặc tính tội ác thường phạm
của cá nhân tham sân si. Trong lục đạo luân hồi tôi
chỉ viết ngũ đạo, cuối cùng ánh sáng của thiên đạo
vẫn là trong tâm của người vong xuất phát ra ánh
sáng từ bi đây là ánh sáng rực rỡ không kể vào trong
loại ánh sáng mờ ám của ngũ đạo.
     Tôi đã viết trước đây trong Du Già Luận về sáu
loại lập tử tướng chứng nghiệm. Đây là khi một
người tử vong, do tướng trạng của người tử vong
mà có thể nghiệm biết được người này tương lai sẽ
đầu sinh đến nơi nào
     Thứ 1, A La Hán và Thánh chúng, sẽ nhập Niết
Bàn, tâm người vong,  lỗ huyệt ở thiên đỉnh, số ngày
nhiệt độ còn ấm
     Thứ 2, Nếu người làm mười điều thiện, đỉnh đầu
đều ấm, nên sau khi khí tận thì sẽ sinh vào chư thiên
Dục Thiên, Sắc Thiên, Vô Sắc Giới Thiên
     Thứ 3, nếu như người giữ năm giới, người này
sẽ chết trước tiên từ chân lạnh, lạnh đến lỗ rốn mà
phía trên lỗ rốn còn ấm, sau khi khí tận tức sẽ sinh
vào đường nhân đạo
     Thứ 4, Nếu như lạnh từ đỉnh đầu trước tiên, rốn
cũng lạnh, dưới lưng còn ấm thì sau khi khí tận tức
là phải sinh vào trong đường ngã quỷ (quỷ đói)
     Thứ 5, Nếu như từ đỉnh đầu lạnh, lạnh đến đầu
gối, dưới đầu gối còn nóng thì sau khi khí tận tức
sinh vào trong đường súc sinh.
     Thứ 6, Nếu đỉnh đầu lạnh, rốn cũng lạnh, lưng
cũng lạnh, đầu gối cũng lạnh, chỉ còn bàn chân hơi
ấm ấm tức sinh vào trong đường địa ngục. Nghĩ một
cách sâu sắc, tôi thấy được rằng một người học tập
về Mật Giáo vì sao ba căn bản mang tính trọng yếu
cần phải lúc nào cũng tâm niệm ghi nhớ, vào thời
khắc đó chính là lúc nhờ cậy được vậy.
     Bạn bình thuờng cái gì cũng không tin, chỉ tin
Tiền, Tiền có thể cứu bạn không? Có tín ngưỡng, lúc
nào cũng phải tâm niệm ghi nhớ ba căn bản,
Thượng Sư có thể hiện thân, Bản Tôn có thể hiện
thân, Hộ Pháp có thể hiện thân, tất cả đều là ánh
sáng của vãng sinh. Cho nên:
     Nam mô Cổ Lỗ Bối (Guru Bei) (Quy y Căn Bản
Thượng Sư)
     Nam mô Bất Đả Da (Buddha Da) (Quy Y Phật)
     Nam mô Đạt Ma Da (Dharma Da) (Quy y Pháp)
     Nam mô Tăng Già Da (Shanga Da) (Quy y Tăng)
     Nam mô Bản Tôn Da (Toàn thể hữu duyên Bản
Tôn)
     Nam mô Hộ Pháp Da (Toàn thể hữu tình Hộ Pháp)
(Sáu quy y này là quy y của Mật Giáo)
Cảnh giới quy y của Mật Giáo chính là tam quy y của
Hiển Giáo thêm vào Thượng Sư, Bản Tôn và Hộ
Pháp. Căn Bản Thượng Sư của Chân Phật Tông là
Liên Hoa Đồng Tử, cũng là Bản Tôn thứ nhất, Chân
Phật Tông có tám Đại Bản Tôn.
Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng “một Sư, một Pháp”
phi thường trọng yếu, đây cũng có nghĩa là “một Sư,
một Pháp, một Bản Tôn”, bởi vì trong Pháp đã có
Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp trong đó.
Người có tin, có tu trong ý thức về cảnh giới tất cả
do sức tu hành quyết định tất cả nơi đi. Trừ ra một
bộ phận do sự trói buộc của nghiệp lực trên sự thực
là tự do, vãng sinh nơi nào tuy là nghiệp lực, nhưng
lực tu hành và giáo thị của Thiện Tri Thức đều cực
kỳ quan trọng. Trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh,
“Địa Tạng Bồ Tát” tức Đại Thiện Tri Thức, lúc này
người vong nếu như có lực tu hành thêm vào có giáo
thị của Đại Thiện Tri Thức thì không còn nghi vấn gì
nữa, khuynh hướng của người vong được cùng
Thượng Sư đi, cùng Bản Tôn đi, cùng Hộ Pháp đi.
Sáu quy y chính là rất dễ dàng hoán khởi khuynh
hướng của người vong vậy.
Lực lượng tu xuất là rất tốt rồi đến giáo thị của Đại
Thiện Tri Thức cũng giống như: Lễ cầu hồn (Mass
Requiem) thấy trong Thiên Chúa Giáo, cầu đảo của
Hồi Giáo, Cơ Đốc Giáo, Tăng Lợi Đa Hi Đà La của Ấn
Độ Giáo, Khóa Tụng Pháp Sự của Hiển Giáo trong
Phật môn (siêu độ), Trung Âm Văn Giáo Đắc Độ của
Mật Giáo.
Tôi cho rằng một người hoàn toàn không có tín
ngưỡng gì thì hỏng cả, hoàn toàn không nhờ cậy gì
được, người này đã coi thường lực cảm ứng. Người
vong loại này chẳng những phải chịu ảnh hưởng
nghiệp lực của chính mình mà còn phải chịu ảnh
hưởng nghiệp lực của những người thân thuộc khác
(người chết). Loại người vong này muốn vãng sinh
Phật Quốc Tịnh Thổ rất là khó khăn. Người này cố
chấp vào ý kiến của riêng mình, căn bản là không
tin. Căn bản tuỳ theo vào nghiệp lực của chính mình
chuyển. Người này còn cho rằng Vị Đại Thiện Tri
Thức nói quá nhiều và cứ tiến thẳng bước vào hiểm
đạo. Sự nhờ cậy của một người không có tín ngưỡng
là như thế đó.     
     
MẬT GIÁO THIÊN THỨC PHÁP
     Có hạng người không cần phải trải qua “trung
âm văn giáo đắc độ”, ví dụ như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ,
Mễ Lặc Nhật Ba Tổ Sư, vân vân. Các thượng căn trí
giả, Đế Lạc Ba, Na Lạc Ba, Mã Nhĩ Ba, Thập Nã Cửu
Ổn, đương nhiên đủ khả năng thự hành giải thoát, tự
độ. Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư của Thiền Tông cũng đã
nói rằng mê thời sư độ, ngộ thời tự độ.
     Các bậc thượng căn trí giả trong Mật Giáo đã biết
đại pháp thượng thừa “Thiên Thức”, trung âm văn
giáo không cần người còn sống, trừ phi là bậc
thượng căn trí giả giả hiệu (giả Thượng Sư), nếu là
Thượng Sư giả hiệu ắt chờ  giáo thị trung âm văn
giáo đắc độ pháp trước di thể. Nếu như không tại
trước di thể thì có thể hay không có thể? Câu trả lời
là cần đến Đại Thiện Tri Thức. Trước tiên triệu gọi
vong linh- vong linh đến để nghe- theo pháp giáo thị.
Vào lúc này vị Đại Thiện Tri Thức tốt nhất phải là
Căn Bản Thượng Sư của người vong, hoặc là người
cùng tu với người vong, hoặc là bạn thân của người
vong hoặc là người thân thuộc bạn hữu hiểu rõ về
giáo thị rồi cứ y theo Pháp mà giáo thị. Vì sao
Thượng Căn Trí Giả không dùng giáo thị? Bởi vì
Thượng Căn Trí Giả đã sớm hiểu rõ thức thứ 8 A Lại
Da Thức trong Duy Thức Luận là bản Thức, các thức
còn lại đều là chuyển thức (Thức thứ 8 là Như Lai
Tạng Thức). Thượng Căn Trí Giả chuyển thức thứ 8
hữu lậu thành Tứ Trí Vô Lậu. Nên nói “Thiên Thức
Pháp” chính là thức thứ tám hữu lậu của phàm phu
thành Tứ Trí của Phật. Tức chuyển thức thứ 8  là Đại
Viên Cảnh Trí, chuyển thức thứ 7 là Bình Đẳng Tính
Trí, thức thứ 6 là Diệu Quan Sát Trí, thức thứ 5 là
Thành Sở Tác Trí
     Trong Mật Giáo cũng có thức thứ 9 là Am Ma La
Thức, thức này là Vô Cấu Thức hoặc là Thanh Tịnh
Thức, tức Chân Như, Chân Tâm. Thức thứ 9 là Pháp
Giới Thể Tính Trí.
     Đủ khả năng chuyển Thức thành Trí đương
nhiên phải là Thượng căn Trí Giả, khả dĩ tự độ
không cần đến người khác độ bất tất phải trải qua
“Trung âm văn giáo” (Người vong nghe lời chỉ dạy)
     Hiện nay tôi là người đóng cửa ẩn cư tại Diệp Tử
Hồ, như thế thì làm sao cứu độ đệ tử của chính tôi
đây? Tôi thực tại bá cáo với mọi người rằng mọi
người cần thận trọng nghe cho kỹ những điều sau
đây:
     Tuy tôi là người đóng cửa ẩn cư tại Diệp Tử Hồ,
người ngoài không biết Diệp Tử Hồ ở nơi đâu?
Người ngoài cũng không biết tôi là ai? Người ngoài
cũng chẳng hiểu tôi là một nhà đại tu hành? Người
ngoài cũng chẳng biết quá khứ lai lịch của tôi?
     Tôi ẩn tu đã rất lâu, không nghe chuyện thế sự,
danh lợi đều không bàn tới, ẩn sâu sống giản dị, hầu
như hoàn toàn cách biệt với bên ngoài. Trừ khi phải
mua rau trái dùng cho việc sinh hoạt ở bên ngoài.
Tuy vậy tôi thực sự là người hữu tình, tuyệt đối
không phải là kẻ vô tình vô nghĩa, tôi luôn hoài niệm,
tưởng niệm và quan hoài đến các đệ tử của tôi ngày
trước và nghĩ rằng khi tôi đi khỏi thế giới Ta Bà vãng
sinh rồi, tôi vẫn còn tưởng nhớ đến các đệ tử, miệng
tuy không nói ra nhưng trong thâm tâm thật có tình.
     Tôi tuy đóng cửa ẩn mình nhưng nước mắt cứ
chảy hoài cơ hồ như khô rồi, thực sự vì quá nhiều
tưởng nhớ và quan hoài. Tôi thẳng thắn nói với mọi
người rằng đệ tử đã chết của Chân Phật Tông, rất
nhiều người vong đều đến Diệp Tử Hồ. May mà có
sự giúp đỡ của “Không Hành Mẫu”. Không Hành
Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu trong hư không
mang thần thức của những người đã chết đến Diệp
Tử Hồ, nơi tôi ẩn cư, có Thượng Sư, Pháp Sư, Trợ
Giáo, Đệ Tử, vân vân. thậm chí có những người bạn
cùng học biết tôi có tu hành, sau khi chết họ đến tìm
tôi. Hồn ma có năm thần thông lực, họ có thể tìm ra
chỗ tôi ẩn cư. Tôi xin nói rằng chỉ cần thân nhân của
bạn tin ký gửi Chân Phật Mật Uyển, Không Hành Mẫu
biết được thì vong linh nhất định tìm đến được Căn
Bản Thượng Sư. Tôi có thể y theo Pháp mà giáo độ
cho, tiếp dẫn vong linh vãng sinh Maha Song Liên
Trì, chỉ cần vong linh tìm đến tôi nhất định sẽ được
độ. Chẳng những chỉ các đệ tử mới được độ, những
vong linh không có tương can gì cũng được độ. Đã
từng có một vong linh Thượng Sư tự nhiên mang
theo bảy vị vong linh thân thuộc đến tìm tôi. Tôi
trông thấy giật nảy người, không phải chỉ một người
đến cuối cùng đã cùng đến nhiều thế này! Nhưng tôi
cũng đã không phân biệt nhiều ít và y theo Pháp mà
cứu độ.
     Tôi tại Diệp Tử Hồ đóng cửa ẩn cư đến Hàn Quốc
du lịch. Cuối cùng gặp một bạn đồng học lớp cao
trung, bạn đồng học tại Cao Công Cao Hùng, người
bạn này lúc hơi thở vừa ngưng bèn nhớ đến tôi và
kêu tên tôi. Tôi hỏi: “Ông là ai vậy?”
“Tôi là Cô Nhất đây”.
“Làm sao mà tìm ra tôi vậy?”
“Ma có năm thông mà”
“Tìm tôi để làm gì?”
“Ông là bạn đồng học, ngày xưa là bạn tốt, biết ông
tu hành thành tựu, Cô Nhất tôi không tìm ông thì tìm
ai đây?”
Trong thâm tâm tôi thầm nghĩ người nói này là đúng,
đây là người bạn đồng học đã lâu năm không gặp, do
tôi đi tu Pháp cứu độ. Tôi liền nhất tâm quán tưởng
ra phẩm vật cúng dường thành cúng phẩm tuyệt diệu
và dâng cúng dường Tam Bảo. Tôi niệm danh hiệu
Phật Bồ Tát gia trì cho vong linh. Tôi giáo thị cho
người bạn này tránh ra khỏi ánh sáng của lục đạo
luân hồi. Tôi dùng Hộ Pháp gìn giữ, bảo vệ vong linh
người bạn đồng học, trước những ảnh tướng khủng
bố thì không kinh không sợ. Tôi dạy người bạn mau
tụng danh hiệu Phật. Tôi nói: “Này, Cô Nhất hiện nay
là lúc phải chú tâm vào việc vãng sanh của anh đã
đến, anh hãy tâm niệm danh hiệu của Phật Thánh,
tôi sẽ giúp anh trông thấy ánh sáng của Phật xuất
hiện. Khi Phật xuất hiện anh phải xả bỏ tất cả ân ân,
oán oán ở thế gian, ngay cả không nghĩ đến nữa.
Lúc này vạn vật trở thành trạng thái trắng trong. Khi
Phật xuất hiện sẽ phóng ra ánh sáng, đây là ánh
sáng của ngọc. Đây là ánh sáng của trí tuệ không bị
ngăn chặn hoặc tì vết, thấu minh chân không. Cô
Nhất anh hãy nhanh nhanh nhập vào ngay, an trụ
trong ánh quang minh này đừng nghi ngại, tôi sẽ hỗ
trợ anh đến Maha Song Liên Trì, anh được chứng
nhập trong đó”
Người bạn cùng học Cô Nhất của tôi nghe lời tôi nói.
Ông ta như nằm ngủ trong mộng nhìn tôi. Đang
trong thực tướng xuất hiện trong minh quang. Tôi
muốn nói bạn tôi đã chứng nhập. Người bạn cùng
học Cô Nhất của tôi, chỉ nhân vì nhớ tới tôi, biết tôi
tu hành đã cũng có thể đến được Maha Song Liên
Trì, thật là có duyên phận vậy!

TÔN SƯ TRÌ GIỮ ĐÀI SEN
     Một vị đệ tử của Chân Phật Tông có triệu chứng
xuất hiện sau khi chết giống như trái đất đã chìm
trong lửa và nước, người vong trải trong hiện tượng
bị hôn mê. Có người cho rằng đây là trạng thái hôn
mê của thần chí. Tổng quát mà nói thời gian tiếp tục
thì người này sẽ khác với người kia: người giữ thiền
định kiên cố thì thời gian sẽ dài, người chưa tu định
thời gian sẽ ngắn. Có những người chỉ trong khoảnh
khắc rất ngắn là vào thiền (xuất hiện trung âm). Khi
người tỉnh lại thì thấy Tôn Sư cầm giữ đài sen đứng
trong hư không. Tôn Sư chỉ dẫn cho đệ tử hãy lên
đài sen để được vãng sinh về Maha Song Liên Trì.
Tôn Sư bảo: “Liên Hoa hành giả, nhân duyên tại thế
gian đã hết, con phải quên tất cả những gì trên thế
gian, con phải tự quyết định, con có cơ hội lên đài
sen, con hãy nắm lấy cơ hội tốt đẹp này để được
vãng sinh về Maha Song Liên Trì. Vì lợi lạc vô lượng
của chúng sinh thế giới mà viên mãn ly khổ đắc lạc.
Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn lấy nguyện lực
của chính mình đến tiếp dẫn con, cũng như giúp cho
tất cả chúng sinh cơ hữu cùng chứng quả Bồ Đề, đạt
được cảnh giới cứu cánh viên mãn”. Vị đệ tử này
bèn niệm chú “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng”.
Sau đó lên ngồi trên đài sen. Đài sen này chính là
“Trí Tính”. Tính của nó căn bản là không. Vô sắc vô
tướng. Chân không thực tướng. Đài sen này là Phổ
Hiền Pháp Giới thể tính quang minh.
     Nhưng cũng chính tại lúc này vợ con của Liên
Hoa hành giả lại kêu khóc rất bi thiết. Người vợ kêu
gào: “Anh đi rồi, em và các con biết làm sao bây
giờ?” Đứa con trai gào khóc nói: “Ba, Ba! Ba, Ba!”
Còn đứa con gái thì khóc: “Không thể chết, không
thể bỏ đi, hỡi ba thương yêu của con! Ba không thể
chết, không thể bỏ con mà đi” Người vợ lại gào lên:
“Anh đã nhẫn tâm bỏ đi, quên hết trách nhiệm của
mình với gia đình rồi sao?” Vị Liên Hoa hành giả này
đã đang ở trên đài sen để được lìa bỏ khổ và được
vui sướng, khi nghe thấy những tiếng kêu gào bi
thiết kia của vợ con, nghe thấy tiếng trách móc chưa
làm hết trách nhiệm của mình, vị này bèn từ đài sen
nhảy ra và nghĩ rằng mình chưa làm hết trách nhiệm,
nhưng cuối cùng lại nghĩ mình đã chết rồi phải
không? Vị này không có cách nào xác định. Vị này
thậm chí trông thấy thân thích, bạn hữu, trông thấy
vợ con đang thảm thiết khóc lóc bên tai. Cũng lúc
này Diêm Vương cũng đã dẫn lính quỷ ma đến chờ
sẵn, hình ảnh lũ yêu quái đáng sợ trùng trùng mà
đến. Tôi bảo Liên Hoa hành giả: “Này Liên Hoa hành
giả, duyên kiếp của anh tại dương gian này đã hết,
hãy xả bỏ hết cả đi, Diêm Vương cùng quỷ sứ cũng
đã lại đây cả rồi, anh hãy mau mau nghĩ đến sự bảo
vệ giúp đỡ của Bản Tôn! Hãy mau mau niệm Hộ Pháp
chú, nhất tâm bất loạn, hãy thành tâm và lên trở lại
đài sen ngay! Nhân gian như huyễn, thế sự như
mộng, như trăng trong nước, hãy mau mau đến
Maha Song Liên Trì” Liên Hoa hành giả thật hoang
mang! Nhân vì vợ con của người chết khóc lóc vang
trời, nên người này không nỡ bỏ đi. Người đã chết
này còn tưởng đến thế sự, còn bị vướng mắc, nào là
vợ còn trẻ, con còn ấu thơ, nếu mình đi bây giờ vợ
con thật không biết làm sao để sống, để sinh tồn sau
này?
     Tôi quát to lên: “Nhân gian tuy có hình thể,
nhưng luôn luôn biến hoá vô thường, không có
thực, mau mau đi khỏi. Nhưng người này không
nghe. Diêm Vương quỷ sứ đã đến, bắt lấy Liên Hoa
hành giả, trói tay khóa chân. Tình huống của Liên
Hoa hành giả thật bi thảm! Tôi nói với Diêm Vương:
“Người này là đệ tử của tôi” Diêm Vương đáp: “Thưa
Đại Bi Thánh Tôn, Ngài đến tiếp dẫn đệ tử, nhưng đệ
tử không chịu lên đài sen, từ đài sen nhảy xuống bởi
vì người nhân gian khóc kêu mãnh liệt, làm cho tâm
linh người này không cách nào nhẫn chịu được, tâm
thần tán loạn, đúng lý phải đọa lục đạo luân hồi” Tôi
nói với Liên Hoa hành giả: “Không được quanh co,
nghĩ sai trái nữa, hãy một lòng niệm Tâm Chú của
Thượng Sư” Người này niệm: “Ông. Cổ Lỗ. Liên
Sinh Tất Địa. Hồng” (May mắn người này còn nhớ
được câu tâm chú này). Diêm Vương và lũ quỷ sứ
biến mất. Ánh sáng đài sen , tiếp nhận và che chở
Liên Hoa hành giả, người này nhập vào trong ánh
sáng và trở nên rực sáng để được vãng sinh. Tôi đã
kể cho mọi người nghe một chuyện có thực!
     Tôi không dám phủ nhận sinh ly tử biệt của thế
giới Sa Bà không khổ, tự cá nhân tôi cũng không
dám bảo chứng, mắt trông thấy thân nhân chết bản
thân không thể không khóc, sinh sinh ly biệt tôi đều
khóc, huống hồ là tử biệt, tôi có thể nào lại không
khóc? Nhưng tôi biết rất rõ gào khóc thật là vô ích
(người đã chết rồi, khóc cũng không làm sống lại
được)
     Tôi ngược lại nhận thức rằng phải khóc cũng tốt,
nhưng đừng kêu gào bi thiết, tốt nhất là giúp người
vong nhớ đến Căn Bản Thượng Sư, Căn Bản Bản
Tôn, Căn Bản Hộ Pháp. Chảy nước mắt và niệm Phật
trì chú. Hãy khuyên bảo người vong: “Mau chóng lìa
khỏi thế giới Sa Bà đau khổ, đi theo ánh sáng của
Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp. Đây chính là sự giải
thoát” Trong thời gian này người vong có thể trông
thấy đồ cúng của chính mình vung vãi, rơi rớt, áo
quần mà mình thích bị lột ra, nơi ở của mình bị lục
soát không còn, xe của mình bị người khác mở khóa
lái, ngoài ra người vong còn nghe và trông thấy
người thân kêu khóc thảm thiết, cũng có thể nghe và
thấy thân nhân khuyến cáo, cho nên hãy để cho
người vong nhanh chóng và vui vẻ lìa khỏi thế giới
Sa Bà đau khổ tốt hơn nhiều so với khóc lóc, kêu gào
thảm thiết.
     Làm cho người vong không vui vẻ, làm cho
người vong suy sụp tinh thần khó xả bỏ đều không
đúng. Thân nhân cần phải khuyên người vong: “Liên
Hoa hành giả, sự kiện tử vong người người đều có,
có sinh ắt có tử, đừng nên chấp trước sự mất mát
sinh mệnh cá thể làm gì, nếu ông không xả bỏ được
sự chấp trước này thì cũng không có cách nào để
trường tồn mãi trên thế gian được, hãy mau đi, mau
đi chớ nên luyến tiếc nhân gian nữa. Bởi vì nhân
gian phải lưu chuyển không ngừng không thể sở
đắc! Hãy nhớ tâm niệm Tam Bảo, Tam Bản Tôn,
nhanh chóng hồi hướng, nguyện cùng những người
khác cùng niệm Phật cùng được thăng về Cực Lạc
Quốc, trước báo đáp tứ trọng ân, sau giúp độ Tam
Đồ khổ, thấy được Phật hết sinh tử, cũng giống như
Phật độ toàn thể chúng sinh. Chúng ta hẹn gặp lại tại
Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Maha Song Liên Trì”
Như thế mới là đúng nghĩa. Kêu khóc chỉ là vô ích.
Hãy khuyên bảo người vong niệm Phật trì chú Tam
Bảo.

QUỶ DỌA NẠT QUỶ.
     Chúng ta học Phật nên biết rõ quỷ cũng là chúng
sinh trong một của lục đạo luân hồi, nhưng có nhiều
loại khác nhau, có những quỷ cũng có phước báo,
đó là “phúc quỷ” Có rất nhiều quỷ vô phúc, bị gọi là
“thiếu tài quỷ”, thường thường không được ăn nên
gọi là “ngã quỷ”. Minh Giới chính là Quỷ Giới, cũng
gọi là Quỷ Đạo, Quỷ Thú. Trong Phật giáo tức là Dạ
Xoa Cảnh Giới, La Sát Cảnh Giới, Ngã Quỷ Cảnh Giới
     Thông thường quỷ cũng có uy lực, thêm có cả
đại thần thông nên được người tại thế gian gọi là
Thần xưng là “mỗ mỗ Đại Thần”. Tôi phát giác ra
Quỷ Đạo là một của mười Pháp Giới. Người thế
chúng ta sau khi chết, trung âm thân cũng là quỷ lúc
chưa luân hồi. Có rất nhiều người nhận thức rằng
người chết thành quỷ, đây cũng là điểm đạo lý tồn
tại. Nhưng rất nhiều người cũng tin người chết
thành quỷ và vĩnh viễn tồn tại trong quỷ giới quỷ
đạo, liên quan đến điểm này thì không có đạo lý.
     Trừ khi trung âm thân bị luân hồi trong quỷ giới
quỷ, quỷ thú thì thực sự thành quỷ rồi vậy. Tại đây
tôi đặc biệt nói với mọi người rằng Trong trung âm
thân cảnh giới tối quan trọng là nhớ niệm Tam Bảo,
Tam Bản Tôn: Phải nhất tâm bất loạn, phải không
được sợ hãi. Trong trung âm thân (linh hồn) cảnh
giới, đừng bao giờ khiếp nhược, bất luận có bất cứ
loại quỷ ác đại hung dữ, đáng sợ nào xuất hiện trước
mặt người vong. Bạn nhất định không sợ sệt. Bạn
phải nhận định ra rằng 1/ Đó là đến cố ý dọa nạt bạn,
2/ Đó là sự phản ánh của thần thức, 3/ Quỷ chỉ là ảo
ảnh, 4/ Đó là sự vui giận của chính bản thân (nghiệp
lực), 5/ Đó là thí nghiệp định lực của bạn, 6/ Thiên lôi
quỷ ác cùng la hét bạn cũng đừng lo ngại, 7/ Đối với
quỷ đừng sợ, đừng kinh, đừng hãi, đừng khiếp, 8/
Bạn phải tự mình nghĩ rằng chính mình đã chết rồi
thì không có quỷ ma nào có cách nào làm tổn hại
bạn được, đó chỉ là ảo tướng, 9/ Không chỉ là quỷ
dọa quỷ, thậm chí những hình bóng ma quỷ rất ghê
sợ khi bạn còn sống, nhớ rằng đó chỉ là phản ánh
của thần thức thôi, 10/ Vào lúc này hoàn toàn tùy
thuộc ở định lực của thiền quán và trí tuệ của người
vong để mà phân biệt sự “quỷ dọa quỷ” chính là
hiểm đạo. Đừng vì “quỷ dọa quỷ” mà không khả
năng. Trong “Ích Lợi Tồn Vong Phẩm” nói “Vô
thường đại quỷ bất kỳ mà đến, minh minh du thần,
chưa biết tội phúc nội trong 49 ngày, như ngu như
điếc, hoặc tại chư ty biện luận nghiệp quả, sau khi
phán định cứ theo nghiệp thụ sinh, thời gian chưa
đo lường được thì ngàn vạn sầu khổ, nói chi khi phải
đọa những nơi ác thú. Người mệnh chung này, khi
chưa được thụ sinh, trong thời gian 49 ngày hãy
niệm niệm hướng về những người cốt nhục thân
quyến hãy tạo phúc lực mà cứu độ. Qua 49 ngày rồi,
sẽ tuỳ nghiệp mà thụ báo. Nếu là tội nhân phải trải
qua trăm hoặc nghìn năm không ngày giải thoát, nếu
là ngũ vô gián tội thì phải đọa ở đại địa ngục ngàn,
vạn kiếp mãi mãi chịu những sự khổ ải” Vô thường
đại quỷ là gì? Là Tử Thần, Hung Thần, Ác Sát cũng
là Đại Quỷ.
     “Liên Hoa Hành Giả Tôn Quý không được sợ hại,
một lòng niệm Phật trì chú, không hãi không lo Vô
Thường Đại Quỷ tự nhiên tiêu tán”. Nếu như bạn sợ
sệt, kinh hãi, hoảng sợ! Bạn chạy trốn. Thấy một
hang động trong núi có thể vào để che dấu thân
mình, thế là đi đứt rồi (hỏng toi rồi). 1/ Hang động
như noãn, bạn “noãn sinh” trở thành gà, vịt, ngỗng
ngan rồi, 2/ Hang động như thai, bạn “thai sinh” trở
thành trâu, dê, chó, 3/ Hang động như một nơi ẩm
thấp, bạn “ẩm thấp sinh” trở thành con ruồi, con
muỗi, con ve rồi, 4/ Hang động như hóa (biến hóa),
bạn “hóa sinh” thành địa ngục, ngục tối.
     Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh chính
là “tứ sinh”. Thai sinh là sau khi thành thể trong thai
của mẹ rồi sinh mệnh mới sinh ra, con người cũng
thế. Noãn sinh là sau khi thành thể trong vỏ của
trứng rồi sinh mệnh mới sinh ra. Các loài chim cũng
đều như vậy. Thấp sinh là nhờ vào khí ẩm thấp mà
sinh mệnh thụ hình, các loại như trùng (sâu) là như
thế. Hóa sinh là không có gì để dựa vào, chỉ bằng
nghiệp lực mà đột nhiên sinh mệnh sinh ra, như chư
thiên và địa ngục cũng như sơ kiếp của loài người.
Tôi nói:
     Trông thấy hang động rất dài mà chạy vào nấp
thì sẽ thành con rắn.
     Trông thấy khí xa (xe hơi) chạy vào nấp sẽ thành
con rùa vàng nhỏ.
     Trông thấy kiệu xe (xe nhỏ) chạy vào nấp sẽ
thành con cua
     Trông thấy phi cơ vào nấp sẽ thành con chim bay
     Trông thấy xe lửa chạy vào nấp sẽ thành con rết
     Trông thấy tàu thuỷ hoặc ca nô chạy vào nấp sẽ
thành con cá
     Trông thấy phòng lầu chạy vào núp sẽ thành ốc,

     Trông thấy cái hào (hố) phòng không chạy vào
nấp sẽ thành con chuột đất.
     Tổng quát mà nói, nếu bạn trông thấy Đại Quỷ Vô
Thường thì đừng sợ sệt, đừng kinh hãi hoặc hoảng
sợ, đừng chạy đi đâu nấp, che dấu mình. Chỉ niệm
Phật trì chú.
     Các Liên Hoa hành giả phải hiểu cho rõ ràng rằng
có bốn loại vãng sinh: 1/ Chính Niệm Vãng Sinh, một
người khi lâm chung, tâm không bị dao động điên
đảo, chỉ niệm Phật trì chú, đây chính là chính niệm
vãng sinh. 2/ Cuồng Loạn Vãng Sinh, là người khi
lâm chung lúc sinh tiền gây nghiệp ác, khi chết thấy
Vô Thường Đại Quỷ đến, trông thấy lửa mạnh địa
ngục bức bách, trông thấy nước lớn nhận chìm tới
đỉnh đầu. Tronh cuồng loạn như thế đột nhiên nghe
thấy tiếng của Đại Thiện Tri Thức chỉ dạy người này
hãy niệm Phật một tiếng hoặc mười tiếng, và người
này một lòng niệm Phật, thì cũng được cuồng loạn
vãng sinh. 3/ Vô Ký Vãng Sinh (vô ký: không nhớ),
loại người này hàng ngày thường quy y Phật, cũng
niệm Phật trì chú, nhưng khi thực sự lâm chung lại
không niệm Phật vì tâm thần tiêu tán thành ra quên
(không thiện không ác), nhưng vì nhờ người này
thường ngày có công đức niệm Phật và trì chú nên
cũng được vãng sinh nơi Phật Quốc Tịnh Thổ. 4/ Ý
Niệm Vãng Sinh, là người này như đang ở trong
bệnh viện (hơi thở bị cắt đứt) miệng không thể phát
ra thanh âm niệm Phật trì chú, trạng thái này xảy ra
cũng nhiều, nhưng chỉ cần trong đầu có ý tưởng
niệm đến Phật thì cũng được và như thế người này
cũng được vãng sinh. Chúng ta là những Liên Hoa
hành giả của Chân Phật Tông, tốt nhất là tu hành đạt
đến Chân Như, Chân Tâm của Bản Lai Tự Tính
Thanh Tịnh. Thế gian này mặc dù có đủ các loại
phiền não nhưng Tự Tính Thanh Tịnh sâu dày như
hư không, thức thứ 8 Như Lai Tạng thân chứng, lìa
bỏ hết thảy các tướng khác nhau, ngôn ngữ đạo
đoạn, tâm hành xứ diệt, đây là thân chứng. Nếu
không được như thế thì phải Chính Niệm Vãng Sinh,
tu đến Thượng Sư Tương Ứng, Bản Đạo Tương Ứng,
Hộ Pháp Tương Ứng. Được như kể thì nhất định sẽ
được vãng sinh. Nếu cũng không được thì hãy tu
Tịnh Thổ Niệm Phật y theo lời thệ nguyện của A Di
Đà Phật, người lâm chung trông thấy Phật thì hết
sinh tử, đây cũng là Chính Niệm Vãng Sinh.

MẬT GIÁO HIỂU RÕ CÁC MÀU SẮC KHÁC NHAU.
     Căn cứ theo sự hiểu rõ về các màu sắc của Mật
Giáo, cần các hành giả ghi nhớ cho kỹ. Khi các hiện
tượng của cảnh giới trung âm xuất hiện thì có nhiều
loại màu sắc của ánh sáng khác nhau. Trước tiên tôi
xin cảnh tỉnh mọi người rằng màu sắc ánh sáng của
lục đạo luân hồi đều là hiểm đạo, không được tiến
vào: 1/ Ánh sáng thiên đạo là ánh sáng trắng ảm
đạm. 2/ Ánh sáng của nhân đạo là ánh sáng màu
vàng ảm đạm. 3/ Ánh sáng của A Tu La là ánh sáng
màu lục ảm đạm. 4/ Ánh sáng của địa ngục là màu
khói, sương mù ảm đạm. 5/ Ánh sáng của Ngã Quỷ
Đạo là ánh sáng màu hồng ảm đạm. 6/ Ánh sáng của
súc sinh đạo là ánh sáng màu xanh ảm đạm. Hãy
nhớ ảm đạm có độc tính, đừng thụ cảm thấu mà đón
và bước vào, bởi chỉ cần bước vào sẽ phải ở trong
biển sinh tử nổi trôi, ngụp lặn mãi mãi không có
ngày ra khỏi. Ánh sáng cần dung nhập đó là: Ánh
sáng màu xanh sáng xuyên suốt của Đại Nhật Bì Lư
Già Na Phật, ánh sáng xán lạn của pháp giới trí tuệ,
ánh sáng trắng xuyên suốt của Kim cương Tát Thùy
Thượng Sư, đó là ánh sáng của từ bi trí tuệ. Ánh
sáng của Hư Không Tạng Bồ Tát hoặc của Phổ Hiền
Bồ Tát hoặc của các vị Bồ Tát khác, đó là ánh sáng
sắc vàng Bình Đẳng Tính Trí quang minh hoảng diệu
(Bảo Sinh Phật). Ánh sáng sắc hồng tuyệt diệu của A
Di Đà Phật Trí Tuệ Quan Sát Quang Minh cực kỳ rực
rỡ, sáng láng xuyên suốt.
     Bản sắc ánh sáng xanh biếc của Bắc Phương Bất
Không Thành Tựu Phật, đó là ánh sáng màu xanh
biếc Sở Tác Trí, ánh sáng xuyên suốt huy hoàng.
Ngoài ra còn có ánh sáng năm màu là ánh sáng , là
có tập khí tịnh hóa mà thành đều sinh trí là do năm
vị Phật chuyên tâm trì minh chú phóng ra, ánh sáng
xuyên suốt, rực rỡ, thập phần mãnh liệt.
     Về việc hiểu cho rõ các màu sắc ánh sáng, cá
nhân tôi có nhận thức rằng cần phải nhớ cho rõ ràng
điểm trọng yếu của ánh sáng không được nhầm lẫn.
Phải nhớ sự vi diệu bí mật trong ánh sáng. Không
được quên đi.
     Nếu như bạn thực sự trông thấy ánh sáng cần
phải dung nhập thì hãy tin tưởng vào ánh sáng đó,
kiên trì tin vào không được thay đổi ý và hướng vào
ánh sáng đó mà cầu nguyện, một lòng quán tưởng
tấn nhập. Đối với ánh sáng đến từ lục đạo luân hồi,
cụ thể có sức mê hoặc, Liên Hoa hành giả đừng
động tâm không có gì khả ái và biết được đó là ánh
sáng của nghiệp lực do các loại tập khí tạo thành. Đó
chính là luyến ái, ngu si, vô minh, sân hận, phẫn nộ,
ngã mạn, cao ngạo, chấp trước, tâm tham lam, đố kỵ,
vân vân.
     Phải đọa vào lục đạo luân hồi không chỉ là người
phàm phu bình thường, cũng còn có rất nhiều người
tu hành. Tôi đã trông thấy được họ hơn một nửa
không nhận ra sự thật, hành vi thô lỗ, có những
người căn bản không tu pháp, lười biếng giải đãi,
thiếu hẳn chính kiến, thậm chí nửa tin nửa ngờ,
khinh khi Căn Bản Thượng Sư của mình, nghi ngờ
Căn Bản Thượng Sư của mình, không tôn trọng
pháp của Căn Bản Thượng Sư, lại có những người
tin cái này tin cái kia loạn xà ngầu, do đó đều phải
đọa lạc. Lúc này biết được bát chánh đạo là trọng
yếu:
     1/ Chánh Kiến: Tri kiến chính xác; 2/ Chánh Tư
Duy: Suy xét chính xác; 3/ Chánh Ngữ: Nói năng
chính đáng; 4/ Chánh Nghiệp: Hành vi chính đáng; 5/
Chánh Mệnh: Chức nghiệp chính đáng; 6/ Chánh
Tinh Tấn: Nỗ lực chánh đáng; 7/ Chánh Niệm: Quan
niệm chính xác; 8/ Chánh Định: Thiền định chính
xác. Tôi tại Du Già Diễm Khẩu, Mông Sơn Thí Thực
trong “ba giờ hệ niệm”. Thậm chí trong “tứ thiền bát
định”, tứ thiền định Sắc Giới và trong tứ không định
Vô Sắc Giới. Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ
Thiền. Không Vô Biên Xứ Định, Thức Vô Biên Xứ
Định, Vô Sở Hữu Xứ Định, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Định dùng Thiên Nhãn để xem: Có rất nhiều
người, nào ngu si, dâm dật, lười biếng, không tin,
mê muội rối loạn, bồn chồn, trơ trẽn, không biết xấu
hổ, đễ nóng giận, phản bội, tham lam keo kiệt, đố kỵ,
buồn bực, làm tổn hại, thù hận, siểm nịnh, nói năng
ngông cuồng, kiêu ngạo, tò mò, thích ngủ, làm việc
ác, tham sân, kiêu kỳ, ngã mạn, hoài nghi, lại có
người thích danh, lợi, thích được khen tụng, vui
chơi. Khổ khi suy, huỷ hoại, quở trách, khổ sở. Tôi
lại còn thấy có rất nhiều đại sư, đại phương trượng,
đại hòa thượng, nhà đại tu hành, và học giả giỏi
thuyết về Phật Pháp. Khi còn ở tại thế gian những
người này hiểu về Phật Lý rất rõ ràng, minh bạch,
biện giải về nghĩa lý của Phật Giáo rất giỏi và giảng
giải rất nhiều Phật Pháp, trên phương diện hoằng
Pháp những người này thật phi thường siêng năng,
tinh tế. Nhưng các công việc của họ toàn vì tám chữ
“Thế Gian Nghe Danh, Lợi Ích Cúng Dường”.  Tuy
nhiên các vị đại sư này, các vị đại phương trượng
này, các vị đại hoà thượng này, các vị đại tu hành
này lại thiếu mất hai chữ “Thực Tu”. Các vị này đã
không tu “Tư Lương Vị”, không tu “Gia Hành Vị”,
không tu “Thông Đạt Vị, không tu “Tu Đạo Vị”, không
tu “Cứu Cánh Vị”. Trong Phật Pháp Đại Thừa từ
phàm phu tu đến khi thành Phật lập thành 52 cấp vị,
10 Tín, 10 Trụ, 10 Hành, 10 Hồi Hướng, 10 Địa, Đẳng
Giác, Diệu Giác, các vị này đều minh bạch cả. chỉ là
không có tu “Thực Tu”. Các vị này bận lo các pháp
thế gian, tất cả các pháp hữu lậu của chúng sinh.
Các vị chú trọng vào việc góp cho được nhiều tiền để
xây dựng chùa lớn, chú trọng đến danh vị mê hoặc ở
4 dòng vô minh kiến lưu, dục lưu, hữu lưu, vô minh
lưu.
     Các vị đại tu hành này trên thế gian tuy thuyết
Phật Pháp nhưng không “Thực Tu”, đối với trung âm
thân (linh hồn) không hiểu rõ nữa, chưa được thư
thái nơi tâm, thậm chí có lúc còn hủy báng Mật Giáo.
Ngay đến khi các vị này trong lúc là trung âm thân rồi
trông thấy toàn thể các huyễn tướng cũng sinh ra
kinh sợ, không có thực tu thiền định, định lực không
đủ, như là trong mộng vậy nên mớí lạc vào trong
những cảnh giới bi thảm. Cho nên giỏi thuyết Pháp,
giỏi thuyết lý, giỏi xây chùa, giỏi kết duyên giao tiếp,
cuối cùng cũng không bằng “giỏi thực tu”. Tôi nhận
định ngược lại thế này giỏi thuyết Pháp cũng rất tốt,
giỏi nói lý cũng rất tốt, giỏi xây chùa cũng rất tốt, giỏi
giao kết cũng rất tốt, tuy nhiên giỏi thực tu là trọng
yếu hơn, giỏi thực tu là đại thành tựu vậy. Các vị đại
tu hành này sau khi thành tựu ngay tức khắc tương
ứng Chân Như, Chân Tâm tức là đã nhập chứng
chưa phải trải qua trung âm thân. Những hạng người
này thân đã thành Phật Quả, nhập vào Lạc Thổ
Thanh Tịnh, tượng mạo đoan nghiêm luôn luôn
không ngừng! Trên trời không không mây sáng trong
phóng ra đại hào quang, xuất hiện đại cầu vồng,
thiên nhạc vang lừng, hương thơm ngào ngạt. Ánh
sáng tốt lành chiếu ra tứ phía, trăm hoa cùng nở, sau
khi hoả thiêu thân xác sẽ thành xá lợi tử, xá lợi nha,
xá lợi hoa, vân vân.

MƯỜI HIỆN THÂN CỦA ĐẠI MINH VƯƠNG.
     Trong khi tôi du lịch Hàn Quốc, đến các chùa tại
Hàn Quốc mới biết Phật Giáo đồ tại Hàn Quốc rất
thường kính trọng Đại Minh Vương. Ở đó trong các
chùa đều có điện thờ Minh Vương cung phụng 10
Đại Minh Vương. Chính là: Tần Quảng Đại Vương,
Sở Giang Đại Vương, Tống Đế Đại Vương, Ngũ Quan
Đại Vương, Diêm La Đại Vương, Biện Thành Đại
Vương, Thái Sơn Đại Vương, Bình Đẳng Đại Vương,
Đô Thị Đại Vương, Chuyển Luân Đại Vương. Nếu
như 10 vị Minh Vương hiện thân, mọi người không
nhất định nhận thức được. Bởi vì thân tướng thực
tại rất to lớn. Có vị thân tướng lấp kín cả hư không,
có vị như núi Tu Di, tối thiểu có vị cũng phải gấp 18
lần thân của con người, hình tượng đều cực kỳ hung
mạnh, lấp kín cả thế giới, hình tượng răng lộ ra
ngoài, lông mày dựng ngược, mắt trợn giận dữ,
trong miệng không ngừng thốt lên những tiếng quát
mắng hách dịch, sẵn sàng xé đầu người quăng đi,
hoặc lấy tay móc tim ruột người, lưỡi liếm óc não
người, miệng uống máu. Đến lúc này người vong ắt
là rất kinh hãi. Mọi người đừng nghĩ rằng chỉ có dọa
nạt người mà thôi. Xin hãy đọc phẩm thứ 8 các Diêm
La Vương tán thán (Địa Tạng Kinh): “Lúc bấy giờ
trong núi Thiết Vi có vô lượng Quỷ Vương cùng với
Diêm La Thiên Tử đều đến Đao Lợi Thiên Cung và tụ
tập trước mặt Phật, gồm có Ác Độc Quỷ Vương, Đa
Ác Quỷ Vương, Đại Tránh Quỷ Vương, Bạch Hổ Quỷ
Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ Vương,
Tán Ương Quỷ Vương, Phi Thân Quỷ Vương, Điện
Quang Quỷ Vương, Lang Nha Quỷ Vương, Thiên
Nhãn Quỷ Vương, Đạm Thú Quỷ Vương, Phụ Thạch
Quỷ Vương, Chủ Háo Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ
Vương, Chủ Thực Quỷ Vương, Chủ Tài Quỷ Vương,
Chủ Súc Quỷ Vương, Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú
Quỷ Vương, Chủ Mị Quỷ Vương, Chủ Sản Quỷ
Vương, Chủ Mệnh Quỷ Vương, Chủ Tật Quỷ Vương,
Chủ Hiểm Quỷ Vương, Tam Mục Quỷ Vương, Tứ Mục
Quỷ Vương, Ngũ Mục Quỷ Vương, Kì Lợi Thất
Vương, Đại Kì Lợi Thất Vương, Kì Lợi Xoa Vương, A
Na Thác Vương, Đại A Na Thác Vương, ngần ấy các
loại đại Quỷ Vương, các các trăm ngàn Tiểu Quỷ
Vương” Đó là lời ghi chép trong kinh Địa Tạng “Vô
Lượng Quỷ Vương”. Mọi người không được cho
rằng khúc kinh điển ghi chép này là không, để
khuyên răn người hoặc không có thực, câu chuyện
tưởng tượng về Điạ Tạng Bồ Tát. Nhưng tôi xin nói:
“Đây là lời nói của Phật há lại là nói sai sao?” Cơ
duyên của trung âm thân là có khả năng gặp gỡ
mười Đại Minh Vương và Đại Quỷ Vương, Tiểu Quỷ
Vương, vô lượng Quỷ Vương. Trong Mật Tạng chúng
tôi biết được: Có Chư Tôn trong bộ Hỷ Lạc xuất hiện,
có Chư Tôn trong bộ Phẫn Nộ xuất hiện (Đây và
trong Địa Tạng Kinh miêu tả các loại vô lượng Quỷ
Vương và mười Đại Minh Vương). Nhưng trong Mật
Tạng dường như còn đáng sợ hơn nữa. Ví dụ như
ba đầu, sáu tay, bốn chân, má bên phải trắng, má
bên trái hồng, trong sâu màu lá cọ, toàn thân có hào
quang, chín mắt trợn to, nhìn nghi ngờ long mày mắt
trừng lên như quang điện, răng chìa ra ngoài trắng
bệch, trong miệng gầm lên giận dữ (A, Lạp, Cáp).
Sáu tay đều cầm Pháp khí (Pháp luân, kiếm, búa,
chuông, đĩa bằng xương, lưỡi cày). Ngoài ra còn có
chủ Tôn chuyên uống máu huyết của Bộ Kim Cương,
thân thể xanh đậm, ba đầu sáu tay, bốn chân đứng
thẳng, sáu tay cầm gậy, bát bằng đầu lâu, búa,
chuông, đĩa bằng đầu lâu, lưỡi cày.
     Uống máu. Còn có Khải Nhữ Mã uống máu, Đái
Mạn Mã, Uông Thu Mã, Tu Lị Mã, Lạp Ma Ha, Bùi Đại
Lệ, Bồ Tạp Ti, Cát Ti Mã, Hương Đa Lợi, Thi Mã Hạ,
vân vân.
     Ba mươi Chư Tôn bộ Phẫn Nộ, 28 vị Nữ Thần Đại
Lực. Phía trong có đầu sư tử, đầu cọp, đầu chó sói,
đầu chim ưng, đầu chim, đầu quạ, đầu cú…Những vị
đầu thú trên không những chỉ uống máu mà còn ăn
cả đầu người, nghe tiếng khạc khạc. Ăn ruột trong
bụng, đút vào miệng nhai, ăn tim tạng cắn nhai
không ngừng. Nuốt thây người chết, cắn nhai từng
người một. Nuốt tròng con mắt lấy răng xé bằng
miệng.
     Những vị Nữ Thần Đại Lực cầm trong tay các
hung khí như móc cong, dây thòng lọng, dây xích
sắt, thương mũi nhọn. Người bình thường trông thấy
Chư Tôn Phẫn Nộ uống máu (các Đại Quỷ Vương)
trong lòng đều sinh sợ hãi, quá độ kinh hoàng mà
sinh lạnh ngắt hôn mê, tình trạng này chắc chắn là
đi đứt rồi, vonh giả trở thành vật hy sinh cho sự sợ
hãi của chính mình. Vì sao lại xuất hiện chư Tôn
nhóm Hỉ Lạc và chư Tôn nhóm Phẫn Nộ, đây cũng là
do ý thức của mỗi cá nhân hình tượng ra. Chẳng kể
kinh điển Hiển Giáo hoặc Mật Giáo đều nói rõ mỗi cá
nhân đều có ý thức về hỉ, nộ, thương, lạc. Cho nên
một người vào một sáng nào đó sau khi chết rồi thì
những vui giận này xuất hiện. Giống như các loại
đầu của các con thú, bạn không thể cho rằng không
khả năng có, tôi đã từng nói với mọi người rằng loài
người chỉ giống nhau là Người Bên Ngoài mà thôi.
Kỳ thực có những tâm tính con người sớm đã biến
thành cọp, báo, sư tử, voi, sói, chó, rắn, chim ưng,
cáo, vân vân. Còn nữa, bạn cũng không thể cho rằng
đại quỷ là không khả năng có bởi vì có rất nhiều
người có tâm tính không phải là của con người nữa
đã sớm mang thai nghén quỷ trong tâm rồi, đã sớm
là quỷ rồi, chẳng những là quỷ mà hơn thế nữa là
Đại Quỷ Vương hung bạo. Tất cả sự hiển hiện của
chư Tôn nhóm Hỉ Lạc, chư Tôn nhóm Phẫn Nộ, chư
Tôn nhóm Uống Máu, chư Tôn nhóm Đầu Thú, Diêm
La Đại Vương (Mười Đại Minh Vương), vô lượng Quỷ
Vương, các loại hình tượng rất đáng sợ, toàn là tồn
tại trong tâm thức của chính mình mà biến hiện và
xuất ra cả. Tôi thật thà mà nói ra rằng đó là do người
vong ôm ấp mời gọi về, là do tâm thức người vong
biến hiện ra, là bất nhị của người vong (Tương Ứng
Pháp của Mật Giáo, mười Pháp Giới đều trong
Tương Ứng. Tương Ứng Pháp trong Chân Phật Tông
của chúng tôi là Tương Ứng Phật, Tương Ứng Bồ
Tát, Tương Ứng Kim Cương, Tương Ứng Hộ Pháp,
trình độ thấp nhất cũng là Tương Ứng Chư Thiên).
Thiên Đạo kể vào Luân Hồi. Tối trọng yếu là không
được tương ứng với Tam Ác Đạo hoặc với Lục Đạo
Luân Hồi. Lúc bấy giờ hãy định tâm cầu khẩn: (đừng
để bất tỉnh vì sợ hãi)
     Con nay phiêu bạt trong âm giới. Khẩn cầu
Thượng Sư mau cứu ứng con.
     Ông Cô Lỗ Liên Sinh Tất Địa Hồng – Ông Cô Lỗ
Liên Sinh Tất Địa Hồng
     Ông Cô Lỗ Liên Sinh Tất Địa Hồng. Khẩn Tứ Bản
Tôn vật xả khí
     Khẩn tứ Hộ Pháp cứu độ con. Kính ái Thượng
Sư, Chư Bản Tôn
     Một lòng mong đợi được giúp đỡ (Thượng Sư,
Bản Tôn có lời thệ nguyện, nhất định sẽ cứu bạn)

NƠI CHỐN THÍCH NGHI CỦA TRUNG ÂM THÂN.
     Tôi dùng thiên nhãn mà quan sát thì các trung
âm thân (linh hồn) đều giống nhau là do cơn gió
nghiệp dĩ thổi đi nên phải bồng bềnh không có nơi
cư ngụ nhất định, giống như sợi lông chim bị gió
thổi hoặc như con ngựa hoang lồng chạy lung tung,
như đứa con mất mẹ, lủi thủi chạy đông, chạy tây
vậy. Có trung âm thân do tâm không tự chủ được
giống như một tên lưu lạc, lang thang hết chỗ này
chỗ kia, tình trạng rất đáng thương hại. Trung âm
thân lầm rầm tự nói: “Đây là chuyện gì đây? - Cuối
cùng ta ở dâu đây? - Tại sao lại thành ra thế này?”
hoặc “Không có ban ngày, ban đêm, cả ngày là một
màu xám. Cuối cùng lại là đâu đây?” Thường thường
trung âm thân trông thấy tử thi của mình trong y viện
mà kinh hãi và than: “Ta đã chết rồi sao!” Rồi khóc
lóc, nan quá, bi thương, thống khổ. Ngưng chỗ mà
người vong tìm đến trước tiên là nhà ở của mình
trước đây, người thân của mình, nơi làm việc, sở làm
của mình trước đây, những vật phẩm mà mà mình
ưa thích trước đây. Người vong trở thành không nơi
nào khả dĩ trú thân, nhưng người vong cũng sớm
phát giác trung âm thân thực sự có một năng lực, đó
là không có thể xác nữa nên có thể đi đâu tùy ý mà
không có gì chướng ngại, ngăn trở, ngoại trừ các nơi
Thánh Địa, còn lại thì đi tới đi lui không hề có gì trở
ngại. Nhất tưởng là đến, nhất niệm là đến, có thể
trông thấy các trung âm thân khác. Có thể trông thấy
đồng loại với mình. Tôi thường nói: “vật dĩ loại tụ”
(Vật cùng loại thì tụ lại với nhau). Nếu như trung âm
thân có thiên nhãn thanh tịnh thì cũng có thể nhìn
thấy được Thiên Giới, thấy được Thiên Thần. Nhưng
vì tâm thần tán loạn thường các trung âm thân chỉ có
khả năng tụ tại Sa Bà Thế Giới hoặc các nơi khác tồi
tệ hơn.
     Có trung âm thân luyến tiếc nhục thể của mình
hoá thành quỷ giữ tử thi
     Có trung âm thân luyến tiếc mộ phần của mình
hóa thành quỷ giữ mộ
     Có trung âm thân luyến tiếc nhà ở của mình hóa
thành quỷ giữ nhà
     Có trung âm thân luyến tiếc vợ mình hóa thành
quỷ giữ vợ
     Có trung âm thân luyến tiếc tài vật của mình hóa
thành quỷ giữ của
     Có trung âm thân luyến tiếc con cái mình hóa
thành quỷ giữ con
     (Đây là trung âm cảnh giới lại phải đọa lạc nữa)
Tôi thấy trung âm thân cũng nương dựa vào thân thể
người mình lưu luyến, cũng nương dựa vào thân thể
của người thù địch, cũng nương dựa vào tượng
thần, đây được gọi là sự “phụ thân” (thân thể để
nương dựa vào), đây người thế tục gọi là “quỷ
thượng thân” (hoặc là quỷ y phụ). Trung âm thân
cũng có người rất tham ngủ, trước sau chỉ ngủ, nên
trở thành quỷ ăn ngủ. Lại như khoáng dã quỷ, thụ
gian quỷ, ăn máu quỷ, tật hành quỷ, thực hương
quỷ, trú hải quỷ, thủ sắc quỷ, thực nhục quỷ, tác
mộng quỷ, thần thông quỷ, bất tịnh quỷ, đoạt nhân
tinh khí quỷ, thực tửu quỷ, hiếu đổ quỷ (đây là
những trung âm thân, thực sự hỏng bét)
     Tôi cho rằng nơi tối thích hợp để trung âm thân
đi là 1/ Căn bản Thượng Sư nơi cư trú, 2/ Chùa
chiền, 3/ Nhà cùng tu hoặc hội cùng tu, 4/ Tháp thờ
Phật.
     Tôi thực sự báo cho bạn biết, lúc này bạn cần
phải nhớ đến Căn Bản Thượng Sư và phải thần hành
đến gặp Căn Bản Thượng Sư, Căn Bản Thượng Sư
trông thấy bạn sẽ dạy cho bạn phương pháp của
Giải Thoát Đạo và Bồ Đề Đạo. Do bạn khi còn ở thế
gian có tu hành, khi nghe sẽ hiểu rõ ngay, ít nhất
bạn phải niệm Phật trì chú, lập tức Chư Phật Bồ Tát
sẽ tiếp dẫn bạn đến Phật Quốc Thanh Tịnh. Hoặc giả
bạn đến Lôi Tạng Tự, Lôi Tạng Tự là Già Lam Thần,
Vi Đà Thần giữ và bảo vệ đất. Lôi Tạng Tự có
Thượng Sư và các đồng môn. Khi họ đồng loạt tu
pháp, bạn hãy cùng lúc cùng họ tu pháp. Trong tu
pháp có triệu thỉnh, có hồi hướng, bạn hãy một lòng
cùng triệu thỉnh, một lòng tu pháp, một lòng hồi
hướng. Tự nhiên Chư Phật Bồ Tát sẽ quang nhiếp
gọi bạn và bạn sẽ được đến Phật Quốc Tịnh Thổ. Đi
đến được Lôi Tạng Tự tu pháp ắt sẽ được giải thoát.
Hoặc giả đến Phật đường, Phật hội của những bạn
đồng tu, chỉ cần cùng tu và ở tại các chùa miếu cũng
cùng ý nghĩa. Chỉ cần tận tâm tu pháp, nhất tâm
niệm Phật trì chú, Phật Bồ Tát Bản Tôn sẽ quang
minh nhiếp triệu bạn, bạn sẽ được đến Phật Thổ
Thanh Tịnh. Hoặc giả bạn có thể đến các Phật Tháp.
Phải biết rằng có Tháp là có Phật. Tháp Phật là một
loại kiến trúc cao nhọn. Tháp đương nhiên có nhiều
loại, cũng có Tháp năm tầng, Tháp bảy tầng, Tháp
mười tầng, đương nhiên cũng có Xá Lợi bên trong,
cũng có Tháp không có Xá Lợi. Sau khi Phật diệt độ
vào chu kỳ năm trăm năm lần thứ tư là thời kỳ các
Tháp Phật được xây dựng kiên cố. Tại các Tháp có
Xá Lợi hoặc không có Xá Lợi đều có Hộ Thần thủ giữ
Tháp Phật. Khi các Hộ Thần trông thấy trung âm
thân của Chân Phật Tông cũng có thể tiếp dẫn bạn
về Phật Quốc Thanh Tịnh.
     Tôi nhận định là như trên, nếu các người cho là
những người cùng tu tại Lôi Tạng Tự không quan
trọng, những người cùng tu tại Phật Đường không
quan trọng, , hội cùng tu không quan trọng thì đợi
lúc là trung âm thân các người sẽ thấy rõ. Lúc cùng
tu có niệm tâm lực của cộng đồng. Niệm tâm lực này
là lực nhiếp triệu vô cùng tốt, một PhápĐàn viên
mãn, là y theo Mật Pháp mà tu, ở điểm không có gì
chấp trước, như niệm Phật, như trì chú bách linh bát
biến, như niệm ba mươi sáu vạn ức, 111 vạn, 9
ngàn, 500 đồng Danh đồng Hiệu A Di Đà Phật. Niệm
một Phật chính là niệm toàn thể chư Phật, tu một
Pháp là tu vô lượng Pháp Môn. Vãng sinh Cực Lạc
Phật Thổ tức là sinh tại Tịnh Thổ của Chư Phật.
Trung âm thân nương theo lực cộng tu, lực tu Pháp
của đồng môn, một lần nhiếp nhập vào Phật Quốc
Tịnh Thổ. Cho nên những người cùng tu tại chùa,
Phật Đường, hội rất là trọng yếu.
     Tôi thường thường nói: các đệ tử “Tứ Gia Hành”
rất trọng yếu là Đại Pháp. Tứ Hành Gia là tu Kim
Cương Tâm một cách kiên cố, chính là Đại Tâm của
Bồ Tát, Đại Tâm của Bồ Tát kiên cố mà không thể bị
hủy hoại, giống như là kim cương vậy (không sợ bị
hủy báng). Tứ Gia Hành phải tu Kim Cương Tâm Bồ
Tát Pháp trong Đại Thừa 52 giai bậc, Bồ Tát Vị thứ
51, danh gọi Đẳng Giác. Vị Bồ Tát này hầu như
tương đương với Phật nên gọi là Đẳng Giác. Nếu
như một vị Bồ Tát hoàn thành Thập Địa (Pháp Vân
Địa) thì khả dĩ gọi là Phật. Kim Cương Trì, Kim
Cương Tâm, Kim Cương Tát Thùy đã là Pháp Vương
Tử ngũ phương Phật là căn bản hoằng pháp của Mật
Giáo cũng là Giáo Chủ. Hội đồng tu chỉ tu Tứ Gia
Hành cũng chưa được. Kim Cương Tâm Bồ Tát
nhiếp triệu tức thì trung âm thân đến được Phật
Quốc Tịnh Thổ giải thoát tức thì. Đồng tu là trọng
yếu, rất là trọng yếu.

CHƯ TY BIỆN LUẬN NGHIỆP QUẢ
     Có người đã từng hỏi tôi rằng “Ở dưới Âm Ty có
thẩm định hình tội không?”. Tôi hỏi lại “Thế ở trên
Dương gian có Pháp Quan thẩm định hình tội
không?” “Có”. Vậy ở Âm gian tất nhiên cũng có sự
thẩm định hình tội. Đó là lý đương nhiên. Trong Địa
Tạng Kinh đã nói rất rõ ràng:”Trong 49 ngày như
điếc như ngu, hoặc tại các ty biện luận nghiệp quả,
sau khi thẩm định cứ theo nghiệp mà thụ sinh”.
“Trong 49 ngày, hãy tâm niệm hướng về những
người quyến thuộc cốt nhục với mình cầu xin họ tạo
phúc lực mà cứu vớt cho, sau 49 ngày đó rồi thì tùy
theo nghiệp mà phải thụ báo. Nếu là tội nhân thì phải
trải qua hàng trăm hàng nghìn năm đọa trong đại địa
ngục, hàng nghìn hàng vạn kiếp chịu mãi mãi thống
khổ”. “Lại nữa Trưởng Giả, nếu là chúng sinh có tội,
sau khi mệnh chung, cốt nhục quyến thuộc nên làm
trai giới trợ lực cho nghiệp đạo. Chưa từng trai giới
thì lần làm trai giới gạo, nước vo gạo, rau lá không
được bỏ xuống đất, ngay cả các món ăn chưa dâng
hiến Phật Tăng thì không được ăn trước, nếu như vi
phạm ăn trước thì người chết không được trợ lực.
Nếu món ăn tinh khiết, thanh tịnh dâng lên cúng
Phật Tăng thì người chết cứ 7 phần được một phần
phước đức. Thưa Trưởng Giả đó là lý do mà chúng
sinh tại Diêm Phù Đề, nếu có cha mẹ, quyến thuộc
sau khi mệnh chung thiết lập trai giới cúng dường,
hết lòng cầu khẩn thì người sống cũng như người
chết đều được lợi ích”. Từ cuốn “Địa Tạng Bồ Tát
Bản Nguyện Kinh”, tôi xin chỉ rõ: 1/ Có thẩm định
hình tội, các ty biện luận về nghiệp quả, 2/ Trong 49
ngày cốt nhục quyến thuộc của người chết cần tạo
phúc để hỗ trợ, 3/ Trai Tăng có công đức, 4/ Cúng
Phật có công đức, 5/ Chuyên cần niệm Phật, trì chú
có công đức, 6/ Siêu Độ có công đức. (lễ cúng cơm
lửa phun ra miệng, lễ cúng mông sơn, bái xám, tụng
kinh, hệ niệm), 7/ Người sống, người chết đều
hưởng lợi (người chết cứ 7 phần hưởng được một)
     Một trung âm thân đến âm phủ thẩm định tội tôi
thấy sự thẩm định rất có chất lượng. Tổng quát mà
nói, người này không giống là người tu hành. Thần
ở Thiện Ty xuất hiện dùng đá trắng để tính việc làm
thiện, rồi Thần ở Ác Ty xuất hiện dùng đá đen để tính
việc làm ác. So sánh giữa thiện và ác, đó chính là
thẩm định hình tội vậy. Còn có âm gian có “Nghiệp
Kính”, toàn thể cuộc đời trải qua của bạn đều hiện ra
trong Nghiệp Kính, mọi việc rất phân minh, nói dối
cũng vô ích. Chính tôi chứng kiến một vị Liên Hoa
hành giả bị thẩm hình, người này do bị ác nghiệp
trói buộc mà chẳng sao chứng nhập được. Trong lúc
mê bị Diêm La Vương ra lệnh cho ngục sử hung lang
(chó dữ) dùng dây đen trói chặt  cổ, chặt đầu, toàn
bộ óc não đem cho thú vật chung quanh ăn mút. Kế
đến Liên Hoa hành giả rơi vào ảo tưởng, cứ như lại
bị chặt giết. Nửa sống nửa chết đau khổ lạ thường.
Diêm La Vương hỏi Liên Hoa hành giả: 1/ Anh từng
xé bỏ hình ảnh của Căn Bản Thượng Sư quăng vào
sọt rác phải không? 2/ Anh từng dùng lửa đốt chết
một đàn kiến, có phải không? 3/ Anh phát nguyện sẽ
in Chân Phật Kinh để đền bù lại những lỗi lầm trong
quá khứ, nhưng lời nguyện đã nói ra nhưng không
thực hiện phải không? 4/ Anh gần gũi với những bạn
bè tà ác, bạn xấu mang anh đến quán rượu, anh đã
uống say và đã cùng người nữ hầu rượu làm những
hành vi tà dâm, có phải không? 5/ Anh đã mưu tính
danh vị để cướp lấy địa vị của người trưởng khóa
nên đã gây tai họa cho người ấy kết quả là anh và
người trưởng khóa đã hoán đổi chức vị cho nhau, có
phải không? 6/ Anh không những cùng nữ hầu rượu
phát sinh tà dâm mà còn dụ dỗ vợ của thuộc hạ của
mình, người phụ nữ này tuy cũng thuận lòng nhưng
anh và phụ nữ có chồng này đã tham luyến ái dâm
lạc lâu đến nửa năm, có phải không? 7/ Anh tham
lam, keo kiệt không xả bỏ đồng nào, rõ ràng có nhiều
tiền tài xây chùa, anh không đóng góp gì cả, còn
khuyến khích vợ con đừng quyên góp, có đúng
không? 8/ Anh là người vong ân bội nghĩa vì đã thay
đổi người quản lý, người đã từng giúp anh, bằng
một người khác, đó cũng chỉ vì mưu đồ lợi lộc, có
phải không? 9/ Mặc dầu anh chưa từng tự tay giết
hại ai, nhưng anh đã rất độc ác đuổi một vài người
thuộc hạ làm việc giỏi, làm cho họ không có việc
làm. Trong số đó có một người không kiếm ra đâu
tiền để sinh sống, gia đình người này rơi vào tình
cảnh rất túng quẫn, đứa con nhỏ bệnh hoạn, cuối
cùng người này phải tự sát, có phải không? 10/ Anh
đố kỵ với những người đồng sự lương thiện, hiền
năng, dùng toàn những người của mình, gạt bỏ ra
ngoài những người lương thiện, hiền năng, có phải
không? 11/ Anh quy y Căn Bản Thượng Sư mượn
danh đi đến các chi nhánh khác có người đồng tu
chỉ mơ tưởng đến danh vị, có phải không? 12/ Anh
tại các chi nhánh toàn nói chuyện thị phi về các
người khác, không hề chuyên tâm đến Tu Pháp, nói
nhiều ít vọng ngữ, thêu dệt, hai lưỡi, ác khẩu, có
phải không? 13/ Anh không giữ giới, không làm điều
thiện, cũng chẳng giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý được
thanh tịnh, có phải không? 14/ Bạn xấu mang anh đi
săn bắn, anh cũng đi, anh đã dùng súng săn giết hại
cầm thú, có phải không? 15/ Tường vây quanh của
anh đã lấn chiếm đất của người khác , có phải
không? Vị Liên Hoa hành giả đáp “Không có”. Diêm
La Vương ra lệnh cho ngục sứ mở Nghiệp Kính.
Nghiệp Kính cho phóng ra trước mắt tất cả những gì
đã ghi lại, sống ác, hành động ác của Liên Hoa hành
giả. Liên Hoa hành giả chỉ biết trố mắt nhìn và miệng
câm nín. Những lời dối trá đã bị phá hỏng. Diêm La
Vương hỏi: “Căn Bản Thượng Sư của anh là Liên
Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn, thực sự mà nói, anh
là con người nói hoàn toàn vô căn cứ. Nhưng anh có
niệm được Tứ Qui Y Chú không? Vị Liên Hoa hành
giả này tự nhiên trong đầu được thông suốt:
             Na Mo Gu Lu Bei (Quy y Căn Bản Thượng
Sư)
Na Mo Bu Da Ye (Quy Y Phật)
             Na Mo Da Ma Ye (Quy Y Pháp)
              Na Mo Seng Jia Ye(Quy Y Tăng)
     Lúc bấy giờ thiên khiếu mở ra và có thanh âm
nói: “Liên Hoa hành giả tôn quý, hãy nhất tâm trì Tứ
Quy Y Chú. Tự mình biết niệm Tứ Quy Y Chú. Hành
Giả có thể niệm từ bất cứ câu Nam Mô nào cũng sẽ
được giải thoát, không được tán loạn. Một lòng niệm,
Xám hối các tội đã qua, một lòng quy y để được nhận
ánh quang minh”. Liên Hoa hành giả nước mắt chảy
lòng ròng, một lòng xám hối, một lòng trì chú. Quả
nhiên Tịnh Quang xuất hiện, Diêm La Vương và các
lính ngục tất cả đều biến mất. Đây là: Một câu Nam
Mô Phật, hoạch khai Thiên Địa giới. Chỉ trong một
niệm ngắn. Lập tức vượt qua ba nghiệp ác.

PHÁP SƯ TRONG SIÊU ĐỘ PHÁP HỘI
     Nói cho thật chính xác về Siêu Độ thì trong đó có
bí mật của nghi pháp, tuyệt đối không chỉ là những
nghi thức biểu tướng (bên ngoài) mà thôi. Trong đó
có Mật Sự, Mật Hành, Mật Du Già, Mật Vô Thượng.
Đầu tiên là Triệu Thỉnh Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ
Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Tái triệu thỉnh trung
âm thân được siêu độ. Cúng dường Phật, trung âm
thân, du già diễm khẩu, mông sơn thí thực đều ở
trong đó. Điểm tối trọng yếu là tốt nhất do Thượng
Sư đã chứng ngộ triệu thỉnh trung âm thân đến, cho
đến hội các quỷ thần, đại chúng, chính lý khai thị
giải thoát
     Quán thân bất tịnh - Quán thụ là khổ - Quán tâm
vô thường - Quán pháp vô ngã.
Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã, làm cho trung âm
thân nghe pháp và quỷ thần đại chúng đoạn tuyệt ba
thứ trói buộc. Vị Thượng Sư đã chứng ngộ cần giả
thoát, khai mở Đạo Bồ Đề mà Phật Đà đã truyền dạy
đây chính là Bát Nhã đáo đạt Bỉ Ngạn Tính, tiến vào
Thực Tướng Bát Nhã, đó là Đại Phúc Phần chân
chính vậy. Ở tại đây có rất nhiều trung âm thân, cũng
có các người oán, kẻ thân, chủ nợ, con nợ khi còn
tại thế gian lợi dụng thời gian pháp hội mà đến để
đòi vật nợ, những oán hận, ràng buộc không rõ ràng.
Vị Kim Cương Thượng Sư đã chứng ngộ phải chỉ rõ
cho thấy đạo lý “oán thân bình đẳng”, khiến cho hai
bên hòa giải, cộng đồng phát nguyện, oán gia nên
giải hòa, không nên trói buộc, song song vãng sinh
Thế Giới Cực Lạc, mọi người được hoan hỉ. Còn có
ba lúc luôn nhớ. Nhiếp triệu Bản Tôn Phật Bồ Tát
quang minh đến tiếp dẫn Tổ Tiên và linh hồn các
trung âm thân, các người oán, kẻ thân, chủ nợ, con
nợ cũng siêu độ tham gia quỷ thần pháp hội. Các đệ
tử của Phật trên dương thế lắng nghe Kim Cương
Thượng Sư khai thị, hiểu rõ được giáo hóa của Phật
Đà, học được Bồ Đề Đạo và Giải Thoát Đạo, khai phát
được Trí Tuệ Bát Nhã, gặt hái được nhiều ích lợi của
vô thượng Pháp: Âm, Dương đều lợi - Quỷ Thần giải
thoát - Đại chúng tín thụ. Đó mới là Siêu Độ Pháp Hội
chân chính. Tôi từng thấy một vị Căn Bản Pháp Sư
giả chẳng hiểu biết gì cả, chưa hề quy y Tam Bảo,
chưa từng thụ giới cũng không Tăng Bảo, chưa hề tu
qua một đàn Mật Pháp nào. Tuy nhiên ông ta theo
người đi lễ kinh xám, học qua vài ngày về nghi lễ rồi
nhảy ra làm Pháp Sư. Đầu ông ta đội mũ có năm vị
Phật (ông tự mua để đội), tay cầm phất trần, để tóc
dài, mặc quần tây, bên ngoài mặc áo cà sa, hồng sắc
y giới, cổ đeo tràng hạt, chân mang dép. Ông ta cùng
mai tang quán thông đồng, phàm có những lễ nghi
mai táng thì do ông ta lo phần cúng lễ. Ông ta tập
họp một số tay dưới giúp việc và ông tự mình đến
các nơi để làm lễ siêu độ cho người ta. Ông trở nên
vị Pháp sư giả làm thế chỉ do lợi ích về tiền bạc. Ông
ta niệm chân ngôn thí thực cũng không do Pháp Sư
nào dạy, so với thủ ấn lại càng không có Pháp Sư,
chỉ là nghi lễ an tang. Cử hành pháp hội siêu độ an
táng mỗi lúc càng lớn. Loại Pháp Sư như thế này hỏi
có hay không có? Câu trả lời là CÓ, còn có nhiều
nữa là đằng khác. Bởi vì chúng sinh trên thế gian
không có Pháp Nhãn, nên căn bản là nhìn không ra.
Các vị Pháp Sư giả này đều chưa tiêu tan được
nghiệp tội của chính mình thì làm sao có khả năng
tiêu trừ ác nghiệp của những người vong. Cử hành
nghi thức Phật giáo chỉ vì tiền mà thôi, chưa hề một
lòng. Nên thân thuộc bố thí bao nhiêu toàn rơi vào
túi đẫy của Pháp Sư. Vị giả Pháp Sư này là không
như Pháp, hôn trầm tán loạn, nghi thức hành lễ bất
tịnh, hành động sai trái. Những lời kinh niệm thuần
tuý là kinh doanh (buôn bán). Pháp Sư giả niệm a
niệm, niệm theo ý mình, cuối cùng xướng lên bản
sơn ca, bản sơn ca hàm hồ, ai nghe cũng chẳng hiểu
gì cả: tiểu muội trên núi hái lá trà! Ca rằng ở dưới núi
cắt cỏ dại! Giật mình kinh sợ chim bật tung bay bốn
phía! Tiểu muội hãy đến vui với bạn trai! Giả Pháp
Sư cũng niệm loạn lên rằng đạo sinh một đứa trẻ
con! Hai đứa sinh ba đứa! Ba đứa sinh một đôi! Một
đôi sinh vạn vật! Lại niệm tiếp rằng hôm nay đồ cúng
rất nhiều! Nào kim châm, nấm mèo, miến gạo, đậu
hủ, khoai tây, chuối,táo, quít, đu đủ và thạch lựu.
Chư vong linh hãy mau đến ăn! Lúc này các trung
âm thân đến dự Pháp hội cùng các vong linh sở
hữu, nhân vì quỷ có năm lực thông, một nhìn thấy rõ
hai, nên biết người chủ trì Pháp hội siêu độ là một vị
Pháp Sư giả. Điều này làm cho các vong linh mất
lòng tin vào Pháp Sư, thậm chí đối với cái gọi là siêu
độ sinh ra sự nghi kỵ, lại thêm đối với Phật Pháp
sinh ra bất mãn. Nghi thức tụng niệm căn bản không
tương hợp, nên chẳng có tí gì Pháp lực. Trong tâm
các vong linh bất mãn, sinh ra ý niệm giận dữ. Vị
Pháp Sư này đã lừa bịp các vong linh cùng các
chúng sinh khác! Để đánh gục vị Pháp Sư giả này.
     Do các vong linh phát khởi sự giận dữ, cũng là
việc chẳng lành, đâu còn nghi ngờ gì nữa, vì sự giận
dữ này trói buộc chính mình phải đọa nhập vào cảnh
địa bi thảm. Tới đây tôi đặc biệt báo cáo với mọi
người rằng trong thời gian trung âm thân cần phải
ghi nhớ lời cảnh giác của Đại Thiện Tri Thức: 1/
Đừng tham lam; 2/ Đừng nóng giận; 3/ Đừng si mê.
Vì tính rằng Pháp Sư giả lừa bịp, bạn cũng không
được nổi giận hoặc vì tính rằng con cháu bất hiếu,
bạn cũng đừng giận hoặc vì tính rằng người ta tranh
giành tiền bạc, của cải của bạn giằng co chưa giải
quyết xong, khi lên đến pháp viện bạn cũng đừng
nóng giận, chỉ kiên trì, thành tâm cầu nguyện
Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp, Phật Bồ Tát quang
linh cứu giúp. Khi Pháp Sư giả không thể cứu bạn,
bạn chỉ còn cách tự cứu lấy mình, tự độ lấy mình.
Hỡi các đệ tử của ta!

TỰ CHẾ THAM ÁI SẮC TƯỚNG
     Tôi đã từng nói rằng trung âm thân có sức thần
hành, nghĩ đến đâu thì thần hành ngay đến đó. Do
tình huống này mà có tính bất định, giống như có gì
cố định khả dĩ dựa vào được, lại thêm không có tí
trọng lượng nào nên luôn luôn trong sự biến động
không ngừng, lại chẳng hiểu rõ chi cả. Nhưng Đại
Thiện Tri Thức khuyến cáo bạn: Xin đừng dựa vào
khả năng thần hành mà đi du lịch cả bốn đại châu.
Purvavideha ở hướng Đông, Apara-godaniya ở
hướng Tây, Jambudvipa ở hướng Nam và Uttarakuru
ở hướng Bắc. Bất luận bạn trên đường gặp được
những phong cảnh đẹp đẽ như thế nào, bạn cũng
không được mê luyến, không được để tâm bị động,
lệch lạc. Bởi vì tham lam hoặc y luyến bạn sẽ bi
chuyển thế ngay tại nơi đó. Những người nghiệp
nặng thì phải gặp đến: Tuyết ngưu, vũ thủy, hắc ám,
cuồng phong - Đại quỷ, ác quỷ, thú lạ. voi dị kỳ.
Những người nghiệp nhẹ hơn phải gặp đến cảnh
đẹp, hoa thơm, cỏ lạ, đồ ăn ngon, khoái lạc, hạnh
phúc, an nhàn, điềm nhiên. Mặc kệ là cảnh ác hay
thiện. Đại Tri Thức khuyến cáo bạn hãy phóng bỏ tất
cả những tham trước, luyến lưu đi. Lời dạy của Lục
Tổ Huệ Năng trước kia thật có đạo lý: Đừng nghĩ đến
thiện, đừng nghĩ đến ác. Chỉ một lòng cầu nguyện
Thượng Sư và Tam Bảo hộ trì. Bạn hãy tự mình bảo
trì chính mình để bất loạn trong thủ ấn thiền định,
cầu Thượng Sư và Tam Bảo tiếp dẫn.
     Vào lúc này trong tâm nghĩ gì thì cái đó sẽ hiện ra
trước mắt, cho nên chỉ có thể luôn luôn tĩnh niệm.
Ức niệm đến Thượng Sư và Tam Bảo không được
ngưng nghỉ, hơn nữa không được lười biếng, phải
kiên trì đó là thiết yếu, nhất là không được tán loạn.
Giới hạn giữa giải thoát và đọa lạc chính là như thế
đó. Nếu như một hành giả trong tâm vẫn còn mang
thói tham ái và tà dâm, không có cách nào tự chế thì
hành giả đó thì sẽ mau trông thấy cảnh tượng nam
nữ giao hợp. Đây là “tham ái sắc tướng” xuất hiện
(hiện nay rất nhiều người thích xem tranh ảnh lõa
thể. Đây là thói quen tham sắc. Những kẻ phàm phu
đều thường như thế. Nhưng những người tu hành
không thể có vậy, phải biết tự chế. Phật Đà đã dạy
chúng ta rằng tham dục là căn bản của luân hồi). Nếu
bạn là trung âm thân, trong tâm tưởng đến cái gì thì
cái đó xuất hiện. Một khi có nghĩ đến sắc dục thì ắt
bạn sẽ rơi vào sự đón mời nguy hiểm. Bởi vì bạn
trông thấy nam nữ giao hợp mà bạn không kiềm chế
được, bạn sẽ vì tham ái sắc tướng mà đầu thai. Liên
Hoa hành giả tối tôn quý, vào lúc này bạn phải tâm
tưởng đến những lời dạy mà bạn đã từng đọc qua
của Lô Thắng Ngạn Thượng Sư: Phải giữ cho tâm
được trong lành, Phải là ngọn đèn sáng, Những lời
tâm sự của vị cha già này bạn phải chú tâm nghe
theo.
_ Hồng bạch phân minh tướng, thanh hoàng ứ lạn
thân, thỉnh quân khai nhãn khán, bất thị lưỡng ban
nhân
_ Bỉ nhục ký đọa lạc, ngũ tạng ư trung hiện, bằng
quân tái tế khan, hà xứ kham lưu luyến.
_ Vô man (?) chu nhan tại, không dư ân huyết đồ,
dục tầm nghiên xú tướng, hình chất tiệm mơ hồ
_ Phủ lạn ưng nan đổ, tinh tao bất khả văn, khởi tri
nùng hội xứ, lan tích tăng huân
_ Dương khuyển thực nhân nhục, nhân tằng thực
khuyển dương, bất tri nhân dữ súc, thùy xú man
thùy hương
_ Hình hài nhất dĩ tán, thủ túc tiệm di trí, đế quan
nga my tư, tất cánh quy hà xứ
_ Bản thị khô lâu cốt, tằng tương cuống cảm nhân,
tích nhật khan thị giả, kim nhật đổ phương chân.
_ Hoả nhiệt ký mãnh liệt, tàn hài hốt vô hữu, thí khan
yên diễm trung, trước đắc tham tâm phủ
     Đây là “Bất Tịnh Quán” tụng. Phật vì sự tham
dục của chúng sinh mà nói về “bất tịnh quán”, quán
thật lâu tham dục tuc trừ bỏ. Khả dĩ vượt sông ái mà
siêu khổ hải. Lại tụng:
     Hữu ái giai quy tận, thử thân ninh cửu trường,
thế thùy không đọa lệ, thùy giải phản tư lượng
     Ký đắc nùng hoa thái, nga thành giáng trường
khu, nhãn tiền phong thiếu giả, dung mạo cánh hà
như.
     Khán phá nam nữ giao hợp- khán phá nam nữ
giao hợp- khán phá nam nữ giao hợp. Trông thấy
việc này, nếu thấy mà không phá bỏ đi, bạn tham
người nữ sẽ sinh làm bào thai nam, bạn tham người
nam, sẽ sinh làm bào thai nữ.
     Ai! Bạn nhập thai rồi, thật đáng buồn đáng
thương, lại phải sinh tử luân hồi nữa! Có lúc nhập
thai không nhất định là thai của người, có lúc là thai
của ngựa, thai của dê, thai của gà, thai của chó, thai
của trâu, “tứ sinh” đều là thai. Tham ái sắc tướng
trông thấy mà không phá bỏ đi, đây chính là phàm
phu, cho nên phải sinh tử luân hồi cho đến ngày
nay. Đây toàn là duyên cớ tham ái sắc tướng cả. Sự
tham ái sắc tướng là luân hồi đến vô tận, phiêu bạt
trong biển sinh tử. Đó chỉ vì tham ái dục, vĩnh viễn
không còn cách nào thoát ra khỏi lục đạo luân hồi!
Trung âm thân khi thấy thai môn, nam căn, nữ âm,
nhất tâm hướng về tất đầu thai không nghi ngờ gì
nữa. Vào lúc này có khả năng cứu bạn, duy nhất là
đọc câu “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng”.
Tiếng ÔNG, nam nữ giao hợp sẽ thành không có, vì
sao vậy? Ông tức là bản tướng Chân Như của vũ trụ
thiên địa, toàn thể tịch tịch bất động. Tiếng CỔ LỖ,
bạn nhớ đến Căn Bản Thượng Sư, Thượng Sư sẽ
quang minh đến giúp bạn (trung âm thân). Tiếng
LIÊN SINH, không phải là Tứ Sinh: noãn sinh, thai
sinh, hóa sinh, mà là Liên Sinh đến tiếp dẫn vãng
sinh, là thanh tịnh vãng sinh. Tiếng TẤT ĐỊA là Phật
Quốc thanh tịnh hiện tại trước mặt bạn. Tiếng
HỒNG, là thành tựu rồi, giải thoát rồi, giải thoát rồi!
Thượng Sư Tâm Chú bạn phải cẩn thận ghi nhớ
trong tâm khảm trong thời khắc tối trọng yếu và phải
dùng đến Tâm Chú này vào lúc trọng yếu này. Liên
hoa hành giả tôn quý! Bạn nhất định phải ghi nhớ
Thượng Sư Tâm Chú, một lòng chú ý, vãng sinh Thế
Giới Cự Lạc Song Liên Trì mà tôi đã nhiều lần chú
giải Thượng Sư Tâm Chú, bạn còn chưa hiểu rõ sao
hoặc còn do dự nghi ngờ sao? Quyết tâm vãng sinh!
Không được biến đổi. Đừng nghe lại lời hủy báng.
Tuyệt đối không thay đổi.
     Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng. Những lời
chú này không phải niệm cho tôi mà là niệm cho
chính bạn. Liên Hoa hành giả hãy niệm chú đi! Đừng
nên tham ái sắc tướng khoái lạc nhất thời, nam căn,
nữ âm, ái dục như huyễn, như tiếng vang, ảnh trong
kính, mặt trăng trong nước, khoái lạc như bọt nước
rất mau bị hủy diệt, chỉ có thế giới cực lạc mới thật
tốt đẹp.

TÔI VÀ PHẬT BỒ TÁT LÀ MỘT NHÀ
     Đóng cửa ẩn cư ở Hồ Diệp Tử tôi nói rằng “Tôi
với Phật Bồ Tát là chung một nhà”. Trước Phật Bồ
Tát tôi thường nói “mời Chư Phật Bồ Tát dùng cơm”,
“tôi phải đi ra ngoài mua trái cây tươi”. “Tôi buồn
ngủ rồi”, “hôm nay trời nóng, tôi chỉ mặc áo lót,
quần ngắn”, “Phật ôi! Tôi tỉnh dậy rồi!” Tôi tuyệt đối
không hề tự cao, ngạo mạn. Tôi xác thực ở trong
tình trạng đóng cửa ẩn mình. Thậm chí khi tôi ngã
bệnh, tôi nói trước Phật Bồ Tát rằng “Tôi không
muốn sống quá lâu, nghiệp bệnh quá khổ, quá ghê
sợ, xin để tôi đừng bị bệnh có được không? Xin Phật
Bồ Tát tiếp dẫn tôi vãng sinh! Nghĩ đến quãng đời
của kiếp nhân sinh này, tôi phá ra cười lớn! Tôi
chẳng trách cứ bất cứ ai, tự nhiên đến, tự nhiên đi,
chẳng có việc gì  phải lo hoặc trở ngại cả, nên căn
bản tôi với Chư Phật Bồ Tát là chung một nhà, luôn
ở bên nhau. Mọi người có biết Du Già là gì không?
Du Già chính là tương ứng, chính là kết hợp. Cá
nhân tôi và Phật Bồ Tát là tiếp thông, cho nên tôi là
“Đại Thiện Tri Thức”. Kỳ thực một linh hồn thấp kém
chỉ cần từ sự cố tâm bắt đầu tu hành, không để cho
tình thức sai ngộ, ô nhiễm, tâm không chịu sự
chướng ngại, chân tâm, chân như, chân Phật, bản
hữu Như Lai Tạng Thức. Toàn thể trí trí, Pháp thân
Bản hữu quang minh, làm sao không hiển đạt được?
     Tu hành Du Già tôi với Phật Bồ Tát là một nhà, tu
hành Du Già bạn với Phật Bồ Tát là một nhà, mọi
người cũng là một nhà. Trung âm thân (linh hồn) kỳ
thực là một sự thoát ra sự trói buôc của thân thể.
Trong thời gian chưa phải vào lục đạo luân hồi hoặc
vãng sinh sự thanh minh cũng là cơ hội có khả năng
phản ảnh thực tướng quang minh, lúc này nhận
thức ra bản lai diện mục là rất tốt. Tôi nhận định như
thế này: Bệnh chướng đã trừ bỏ, thống khổ đã trừ
bỏ, nhục thể đã trừ bỏ, ô nhiễm đã trừ bỏ, vậy trung
âm thân với Phật Bồ Tát tương ứng kết hợp, không
phải là một nhà sao? Trung âm thân có thể cứu độ,
nó không khác bao nhiêu so với dương gian, âm
gian cũng có cứu độ chứ, tỉ như ở Thái Âm Sơn tôi
đã thuyết Pháp, độ chúng sinh ở âm gian, nhưng là
nhất định có Chính Trí thì mới làm cho trung âm
thân gặt hái được hiệu ích trên thực tế. Có một lần
tôi trông thấy một vị Liên hoa hành giả. Vong giả này
trông thấy một cặp trai gái thanh tú giao hợp, trong
lòng thấy sung sướng, toàn thân cảm thấy tê dại đến
nỗi chính mình muốn mau nhập vào thai môn. Tôi
hiện ra ngăn cản vong giả. Vong giả nói “Sư Tôn
đừng ngăn cản tôi”. Vong giả đi về Đông, tôi ngăn
Đông, vong giả đi về Tây, tôi ngăn Tây, vong giả đi về
Bắc, tôi ngăn Bắc, vong giả đi về Nam, tôi ngăn Nam.
Vị Liên Hoa hành giả này khi còn tại thế thích xem
hình ảnh khiêu dâm. Sau khi chết rồi tính xấu vẫn
không cải bỏ nên trông thấy nam nữ giao hợp thâm
tâm rất thích chí, hồn phách phiêu nhiên, cho nên
Tôn Sư hiện thân cứu lại không bằng lòng, bỏ chạy
trốn Tôn Sư, muốn nhập vào thai môn. Phải biết rằng
kẻ bị mê mẩn muốn nhập thai môn cũng giống y hệt
sự khoái lạc do tiếp xúc. Chỉ một lần ma sát cảm
thấy sung sướng trong vài giây đồng hồ thì lại phải
đầu thai lại và chuyển thế vào lục đạo luân hồi. Tôi
kêu lên “Đừng vào thai môn”. Hắn đáp lại: “Tôi muốn
được sung sướng mà chết chết trong hoa đẹp Mai
Côi (woman’s womb) làm quỷ cũng được”. “ Mai Côi
có gai nhọc”. “Chịu không thể được”. Tôi khuyên
nhủ hắn: “Mục đích của tu hành là gì?” Hắn tỏ ra
hoang mang, tôi lại nói: “Chân Phật Mật Pháp chính
là Du Già, Du Già có điểm vi diệu, chính là điểm
mạnh mẽ điều chế tâm mình, người điều chế được
tâm mình chính là Thánh Hiền, không điều chế được
tâm mình chỉ là kẻ phàm phu. Bạn đã ở trong Du Già
Tương Ứng Pháp hãy vận dụng một phần công phu
sở hữu tất cả quy y, tu pháp, mục đích của Du Già
giúp cho bạn thoát khỏi sự ràng buộc của sinh tử
luân hồi, bạn không muốn được giải thoát sao?” Vị
Liên Hoa hành giả này khi còn tại thế tuy quy y Tu
Pháp, nhưng không tương ứng nên nghĩ điều tôi nói
rõ ràng, vẫn lắc lắc đầu. Tôi hỏi: “Thế nào là chính
trí”. “Tôi không biết”. “Tứ Quy Y Chú là gì?”. “Tôi
không nhớ được” “Thế nào là Thượng Sư Tâm
Chú?”  “Tôi quên rồi”. Thế nào là Bản Tôn Chú?”.
Hắn như người uống rượu say sưa, hỏi ngược lại
tôi: “Bản Tôn là gì?”.
     Chẳng cần nói, tâm linh của trung âm thân này
mang theo mình những tập tính xấu từ kiếp trước
đến đời nay nên hiểu biết không nhiều. Kể ra hắn đã
quy y, cũng tu một chút ít Pháp, nhưng đã không kết
hợp tương ứng sức lực Du Già,  do đó ánh sáng của
Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp và Tam Bảo chưa
xuất hiện. Ngược lại khi thai môn xuất hiện, theo tập
tính tự nhiên hắn chui vào.
     Đương nhiên tu hành của Chân Phật Mật Pháp
cũng không phải là cứ theo là được. Có những
người phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp mới có thể
hoàn toàn tịnh hành. Nhưng mà cứu độ trung âm
thân chính là phải làm thức tỉnh chính trí, thức tỉnh
Tam Bảo, thức tỉnh Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp,
chỉ cần làm thức tỉnh là có sự cứu độ. Trước khi
chết cần phải có chính trí, sau khi chết cũng cần
chính trí, như thế mới có thể cùng Phật Bồ Tát là một
nhà. Vị Liên Hoa hành giả này đã nhập vào hư
huyễn. Hắn không tỉnh lại được. Tôi than tiếc! Sự
sống của hắn chỉ xoáy vào khoái lạc, hắn không biết
đó là cái miệng của con rắn độc, xoáy vào chính là
vào thai môn. Tôi cố đánh thức tỉnh tạng thức của
hắn (chính trí). Đánh thức không tỉnh được Như Lai
Tạng Thức của hắn, thức thứ 8 A Lại Da Thức, Chân
Phật kiến văn giác tri siêu việt ý thức.

NIỆM PHẬT VÀ TRÌ CHÚ
     Khi tôi mới học Phật tôi đã đọc được một câu
chuyện ngắn làm tôi thật cảm động trong lòng, câu
chuyện như sau: Có một lão bà niệm Phật, phát
nguyện một đại nguyện rằng bà sẽ niệm đầy đủ năm
nghìn vạn vạn lần A Di Đà Phật mới xin được vãng
sinh Phật Quốc. Lão bà niệm Phật mỗi ngày đếm số
bằng những hạt đậu. Nhưng lão bà thân thể sinh
bệnh nặng. nhưng đậu không có đủ nhiều, nên năm
nghìn vạn vạn lần còn rất xa. Vậy phải làm sao?
Trong thâm tâm lão bà cảm thấy rất gấp rút, nhưng
càng gấp càng thấy bất lực. Vào lúc này đã làm cảm
động hai vị Đại Bồ Tát. Hai vị Đại Bồ Tát hóa ra làm
hai vị tăng nhân đi đến nhà lão bà. Sau khi hỏi và
biết rõ nguyên do, hai vị tăng này nói với lão bà rằng
“Lão bà có thể niệm : Nam Mô 36 ngàn tỉ , 119 ngàn,
500 Đồng Danh Đồng Hiệu A Di Đà Phật” . Một niệm
như thế đã đủ số rồi vả lại còn nhiều hơn số lần
niệm dự trù. Lão bà bèn nghe theo và niệm: Nam Mô
36 ngàn tỉ, 119 ngàn, 500 Đồng Danh Đồng Hiệu A Di
Đà Phật! Toàn thể đậu bị đảo lộn rơi xuống đất và lão
Bà tức khắc được vãng sinh. Hai vị tăng nhân hóa
trở lại là hai vị Đại Bồ Tát và cũng không thấy đâu
nữa.  Ngay sau khi đọc xong mẩu chuyện ngắn này
tôi tức khắc dặn lòng ghi nhớ sau này tôi nhớ niệm:
Nam Mô 36 ngàn tỉ, 119 ngàn, 500 Đồng Danh Đồng
Hiệu A Di Đà Phật. Tôi ghi nhớ trước khi niệm Phật
nhất định tôi sẽ niệm câu này. Sau khi niệm Phật
trước khi hồi hướng tôi cũng sẽ đọc câu này. Theo
miệng niệm ra cũng là niệm câu này. Có cảm ứng có
chứng nghiệm. Tôi cũng dạy các đệ tử niệm câu này:
“Nam Mô 36 ngàn tỉ, 119 ngàn, 500 Đồng Danh Đồng
Hiệu A Di Đà Phật”. Hiện nay có rất nhiều, rất nhiều
các đồng môn niệm câu này. Nhưng tôi xin báo cho
mọi người rõ rằng đối với việc niệm Phật mọi người
không được trễ nải, lười biếng “Phải Thực Tâm Niệm
Phật” mới đúng. Không phải chỉ niệm một câu là
xong mà phải niệm thêm “A Di Đà Phật” sau mỗi câu
niệm dài. Câu “Nam Mô 36 ngàn tỉ, 119 ngàn, 500
Đồng Danh Đồng Hiệu A Di Đà Phật” là đọc trong
khẩn cấp. Nhớ không được trễ nải, lười biếng! Niệm
Phật có điểm tốt như thế nào? Xin thưa rằng cánh
cửa Tịnh Thổ đã từng đón nhận tất cả thượng, trung,
hạ căn, ngũ nghịch thập ác, địa ngục hiện tướng một
niệm thành tâm tức thì được đến Bỉ Ngạn.
     Vạn Ích Đại Sư nói: “Chư Phật thương xót chúng
sinh mê muội, tùy cơ mà thí hóa, phương tiện thì rất
nhiều tuy nhiên truy nguyên thì vô nhị. Trong tất cả
các phương tiện từ trực tiếp đến thật hoàn hảo thì
niệm Phật cầu được vãng sinh là hơncả. Chúng ta
đối trước trung âm thân mà khuyên nhủ như sau:
Tây Phương Cực Lạc ở trước mặt bạn. Bạn hãy một
lòng niệm Phật, nghĩ cho mình được vãng sinh đến
Tây Phương Cực Lạc. Đây chính là: “Lâm Chung Chỉ
Yếu”. Chúng ta hiểu được rằng CHÚ là bí mật ngữ
của chư Phật Bồ Tát, được gọi là CHÂN NGÔN, chân
ngôn Đà La Ni, mỗi mỗi chân ngôn đều là cực diệu
ngữ của Như Lai, là tất cả sự sâu xa của Như Lai khả
dĩ tự giác Thánh Trí. Tông Khách Ba nói như thế
này: Niệm Phật giúp ta nhận biết được Phật, còn trì
chú giúp ta tiếp cận được với tâm của Phật. Trì chú
có sự tương ứng Du Già, tức diệt chướng tăng tuệ,
uy đức thân lực, không thể nghĩ bàn nên mới nói là
BÍ MẬT.
     Luận về niệm Phật và trì chú, cá nhân tôi chủ
trương cả hai như nhau không có phần cao thấp.
Ngày xưa Liên Trì Đại Sư chủ trương: Chuyên trì A
Di Đà Phật Danh Hiệu thì có công đức hơn hẳn tất
cả. Trì danh ắt chí tâm niệm Phật một tiếng tức diệt
bỏ được 80 ức kiếp sinh tử trọng tội. Chuyên trì
danh hiệu, tức đại thần chú, đại minh chú, vô
thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Niệm 10 niệm được
sinh, sinh tức không thối lui, uy linh khôn đo lường
được, Đại Thần Chú. Nhất tâm bất loạn, chấm dứt vô
minh, kiến tự tính, Đại Minh Chú. Vãng sinh Cực
Lạc, cứu cánh thành Phật, Vô Thượng Chú. Chứng
vô sinh nhẫn, hồi nhập Sa Bà thế giới phổ độ chúng
sinh, Vô Đẳng Đẳng Chú. Niệm Phật cũng chính là trì
chú vậy. Tôi rất ca tụng! Tôi tu bí mật chân ngôn, tôi
nói chú như sau: 1/ Là Như Lai Tâm, 2/ Là Như Lai
mắt, 3/ Chư Pháp vô nhiễm, 4/ Thần biến gia trì, 5/
Bất sinh bất diệt, 6/ Liên hoa tạng, 7/ Kim cương
nghĩa, 8/ Chân trí, 9/ Rất tịch tính, 10/ Thân sạch như
Tịnh thổ, 11/ Không khác nhau, không hình tướng,
12/ Phật Pháp hằng thường, 13/ Giác ngộ căn bản,
14/ vô nhiễm hoàn toàn, 15/ Thành Phật.
     Tôi nói chú là vô tận tạng. Tôi tả ra từng đặc tính
trong 15 điểm chính là sự khó thể nghĩ bàn, là bao
gồm khắp pháp giới, không gì không đến được, sự
hóa dụng vô tận vậy. Đó là Thường, Lạc, Ngã, Tĩnh,
đó là Không. Vi trần số thập phương thế giới đại bi
vạn hạnh ba la mật môn như hoa tạng. Tam thừa lục
đạo vô số ứng thân như rễ hành, cọng lá, phát huy
tương gian giống như những công đức bí mật luân
chuyển viên mãn và  hoàn hảo, như Mạn Đà La, Đà
La Ni là bí mật giáo. Tôi nói như sau: Chỉ là chú ngữ
bí mật Thánh Tôn Truyền Thừa bạn được quán đỉnh
và Thánh Tôn kiến lập cảm ứng âm ba tâm linh,
chính là du già, trì chú thì sẽ có sự quan hệ giao
cảm. Do ở thanh âm có lực lượng vô thượng nên trì
chú cũng có lực lượng, lực lượng này chính là tần
số chấn động. Cũng do lực lượng vô thượng của mật
chú , những quy củ truyền pháp được kiến lập bởi
các Kim Cương Thượng Sư qua các thời đại, nhờ
vào sự bảo hộ và mật chú chân ngôn truyền thừa
không bị kém đi hoặc bọn người xấu dùng sai đi.
Đây cũng là mật chú truyền thừa không truyền sai lạc
mà thành một nguyên nhân của mật chú. Chúng tôi
dạy trung âm thân niệm Phật, niệm Phật hiệu mà
người đó thường niệm, gọi hắn hoàn tỉnh. Chúng tôi
gọi trung âm thân trì chú là trì chú hắn thường trì
chú, hoàn tỉnh trì chú truyền thừa của hắn, Một buổi
sáng tụng chú đó tức có thể tương ứng, có thể nhờ
vào chú đó lần lần thượng thăng kết hợp với ánh
minh quang.

LIÊN HOA HÀNH GIẢ ĐỐI VỚI CHÍNH TRÍ CỦA
TRUNG ÂM THÂN.
     Trong sự chứng ngộ cá nhân của tôi, tôi muốn
nói với các Liên Hoa hành giả rằng sự thực tồn tại
của con người là biến hóa thay đổi. Chỉ có thể vĩnh
hằng bất biến là chứng ngộ Phật Đà. Vị trí phàm phu
trong luân hồi đều là hư huyễn không thực, cổ nhân
là kim nhân, kim nhân cũng là cổ nhân. Sinh tức là
mở đầu của tử, tử cũng là bắt đầu của sinh. Sinh tử
có tính bất ổn định, phải vĩnh sinh và bất hủ chỉ có
tu hành chứng quả. Nhân loại từ trước tới nay hoàn
toàn tồn tại trong huyễn vọng vô minh, sinh tử cũng
là huyễn vọng vô minh, chịu sự sắp đặt của nó, một
số người cho đó là thực tướng, sự thực là huyễn
vọng vô minh, sinh tử là một hồi sự, ngay cả trung
âm thân cũng đồng dạng một hồi sự, làm mộng,
huyễn tượng cũng cùng là một hồi sự. Con người
căn bản chính là mê, mê thì không có cách nào nhìn
rõ ràng sự thực được.
     Con người sau khi chết, trung âm thân là tạm
thời, kỳ thực sinh tử là tạm thời, thiên giới hoặc địa
ngục giới cũng chỉ là tạm thời, toàn bộ đều có thời
hạn, cũng giống như nhân sinh, có người trường
thọ, có người đoản mệnh. Đây toàn là nhân quả, vô
minh, nghiệp chướng.
     Tôi xin nói với mọi người rằng việc độ hóa chúng
sinh không chỉ ở tại dương thế, không chỉ tại trung
âm thân, không chỉ tại minh gian (địa ngục), thậm
chí Phật Đà vẫn phân thân dùng Báo Thân Phật
thuyết Pháp tại Sắc Cứu Cánh Thiên, Lô Xá Na Phật
chính là Thích Ca Mâu Ni Phật. Tu hành là hiểu minh
bạch một kẻ phàm phu có tư tưởng sai lầm cùng với
kiến, văn, giác, tri, trừ bỏ những hành vi hư vọng tạo
ra nghiệp chướng, để cho thực tướng chân chính
hiện ra. Một cá nhân phải hoàn toàn thoát ra khỏi trói
buộc không ngừng của nghiệp chướng. Khi nghiệp
chướng tiêu trừ thì ánh quang minh của thực tướng
chính trí mới hiển hiện ra được. Thân thanh tịnh,
khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Phiền não mới thực
sự dứt bỏ được, tâm thức mới là Chân Ngã của Như
Lai Tạng, Chân Tâm, Chân Như, Chân Phật. Đây mới
là Pháp thân, cảnh giới đại viên mãn.
     Nhân loại từ khi bị luân hồi đến nay (không phải
chỉ là con người, mà phải nói tất cả các chúng sinh)
đã có vô minh từ vô thuỷ, đó chính là vô lượng vô
biên sự vô minh. Vô minh của chúng sinh đương
nhiên có khác nhau, có những sự bất nhất, người
dày, người mỏng không giống nhau, có người sáng
sủa, người kém cỏi. Chướng ngại chính là Ngã Kiến,
Tham, Sân, Si, Phiền Não, vân vân. Nhưng tất cả từ
vô minh mà khởi ra. Phải diệt bỏ vô minh, nên biết
nhân tâm là vọng tưởng, cần phải tu “Xuất Ly Pháp”
cũng là “Giải Thoát Đạo”, dùng tứ niệm xứ của Phật
Đà: Quán thân bất tịnh – Quán thụ thị khổ - Quán
tâm vô thường – Quán Pháp vô ngã. Do tu hành
“Ngũ uẩn đều không”, vô minh ắt diệt, vì vô minh
diệt, tâm Vô ắt khởi, do Vô khởi mà nhân duyên đều
diệt mới chứng được giải thoát A La Hán. Phải biết
rằng tất cả các Pháp toàn là “tâm thức”, ngoài tâm
thức là vô pháp. Nói rằng tất cả cảnh giới toàn do
tâm thức khởi nên. Bát thức tâm vương (thức thứ 8)
tức Như Lai Tạng Thức chứa tất cả Trí Trí, chứa Như
Lai Chân Phật. Nếu tâm xa rời vọng động tức vô kiến
văn giác tri chi tâm, ắt tất cả các cảnh giới đều diệt.
Duy nhất Chân Tâm, nguyên bản ở tại, bất biến hằng
chiếu. Do một nguyên nhân, ba giới nguyên lai là hư
huyễn, dục giới, sắc giới, vô sắc giới đều là hư
huyễn, ngay cả lục đạo cũng là hư huyễn, toàn là do
tâm làm ra. Xa lìa tâm chính là không có cảnh giới
của lục trần, tất cả các cảnh giới đều là từ tâm khởi
vọng niệm mà sinh ra, tất cả phân biệt tức phân biệt
tự tâm. Như cùng với mặt trăng trong nước, ảnh
trong kính, thận lâu hải thị (ánh sáng soi biển giọi
lên trên không trung thành ra muôn hình vạn trạng).
Tâm sinh ắt chủng chủng pháp sinh, tâm diệt ắt
chủng chủng pháp diệt. Cho nên trung âm thân
chính trí là bất kinh (không sợ hãi), bất bố (không
hoảng sợ), bất cụ (không lo lắng), bất loạn (không
cuống cuồng). Như nay sắc thể đã không là trí thân.
Do trí tính mà có thể thị hiện được 10 phương tam
thế vô lượng chư Phật Bồ Tát pháp thân, báo thân,
vô lượng trang nghiêm Tịnh Thổ, là thần dụng Chân
Như Tự Tại. Có ba trọng điểm: Y theo đệ nhất nghĩa
đế, do sinh, diệt, nhiễm mới thị hiện sai biệt, độ sinh
tử khổ, chỉ cần tâm bất vọng hữu, tự tính căn bản là
Vô, cứu cánh trung âm thân xa lìa vọng chấp, nghĩa
là xa lìa kiến văn giác tri, qui về Chân Như ắt chứng
được Chân Phật. Chân Phật là gì? Mã Minh Bồ Tát
nói: “Chân Ngã, Chân Như, Chân Phật là tất cả Phàm
Phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Chư Phật,
không có tăng giảm, không sinh thêm trước, không
diệt đi sau, mãi mãi hằng thường. Từ xưa đến nay
Tự Tính luôn đầy đủ tất cả công đức, nói rằng Tự
Tính có đại Trí Tuệ quang minh, Biến Chiếu Pháp,
Chân Thực Trí Thức,, Tự Tính thanh tịnh. Thường,
Lạc, Ngã, Tĩnh, thanh lương bất biến, tự tại”. Bản lai
diện mục đầy đủ tất cả trí là không xa lìa, không đứt
đoạn, không khác biệt và không thể nghĩ bàn, thậm
chí đầy đủ không có sự thiếu, mệnh danh là Như Lai
Tạng hoặc Như Lai Pháp Thân, tức là Chân Phật vậy.
Xin ghi nhớ: Ngũ âm pháp tự tính không sinh, ắt
không có diệt, bản lai Niết Bàn, Như Lai Tạng không
thêm trước, không bớt sau. Bạn và Chư Phật cùng
sở đắc Niết Bàn. Tôi tại trong bản văn đã bàn về
chính trí của trung âm thân, đã tự giác nói rất thâm
sâu nhưng cũng có những người xem không hiểu.
Nhưng tôi xin dạy lại, thuyết minh rằng mỗi cá nhân
đều có Phật Tính (Chân Thực Như Lai Tạng), đều là
đầy đủ. Mật Giáo không là bá cáo với bạn, bạn chính
là Phật không? Tại chính trí trung âm thân cũng thế.
Kỳ thực không cần phải sợ hãi tất cả các hình tướng
bên ngoài, một niệm không sinh, nhất tâm bất loạn
là tối trọng yếu, xa lìa kiến văn giác tri tâm. Ánh
quang minh tức thì xuất hiện, chính như ngọn Phật
đăng điểm thêm dầu, loại Lực Tự Tính này, Bản Lai
Diện Mục là do Căn Bản Thượng Sư Liên Sinh Hoạt
Phật của tôi truyền thừa. Hết sức đầy đủ truyền cho
các đệ tử của Chân Phật Tông, đây chính là Chính
Trí của Như Lai Tạng.

CẢNH TƯỚNG KHÁC BIỆT
     Có người hỏi tôi rằng trung âm thân là tất cả
tướng giống hệt Hồng Giáo Mật Tông nói, ngày thứ
nhất đến ngày thứ 7 là Thánh Tôn Bộ Hỉ Lạc hiện
tiền. Ngày thứ 8 đến ngày thứ 14 là Thánh Tôn Bộ
Phẫn Nộ hiện tiền. Còn có Thẩm Phán của Minh giới,
cảnh giới của trung âm thân trong 49 ngày của chúng
sinh trông thấy đều một dạng như nhau không? Tôi
đáp rằng Mật Giáo trung âm đắc độ là Liên Hoa sinh
Đại Sĩ tin giống nhau về nội dung ý thức của cảnh
tướng. Có thể nói là cảnh tướng của Hồng Giáo, cứ
như tôi biết các cảnh tướng là bất nhất, không thể là
các chúng sinh đều một dạng. Người hỏi nghi hoặc
như vậy là thế nào? Tôi đáp: “Bạn có nằm mộng
không?.” Tôi có nằm mộng. “Cảnh trong mộng đều
giống nhau sao?”. Không giống nhau. Tôi nói:
“Trung âm cảnh tướng như thế với mộng tướng của
chúng sinh thụ cảm càng có nhiều sự ly kỳ, có thể
nói không có gì là không có”. Người đó lại hỏi: “Đây
có ý nghĩa gì?.” Tôi đáp: “Nhân tâm cũng như trung
âm thân vậy, biến hóa từng sát na, hạt giống gieo là
cái gì thì sinh ra cái đó! Đây chính là ý nghĩa ấy. Tín
đồ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là có chư tôn của Hỉ Lạc
Bộ và Phẫn Nộ Bộ hiện thân. Ngay cả trung âm thân
của Cơ Đốc Giáo, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Đạo Giáo tự
nhiên sinh ra những sai biệt bất đồng.” Người đó lại
hỏi: “Nếu là người theo duy vật thì sẽ trông thấy
tướng gì?” Tôi đáp: “Không đỗng” (cái hang trống
rỗng). “Không đỗng là gì?” “Không có cảnh tướng gì
cả, tiêu cực phải vào cái hang trống rỗng, nhưng cứ
y theo nghiệp báo của hắn, như phải vào trong vùng
nước lớn lũ lụt, lục đạo luân hồi, không có một sự
cứu độ nào, đây quả là sự bi thương của người theo
chủ nghĩa duy vật.” “Duy vật luận đúng hay không?”
Tôi đáp: “Mộng cảnh bình thường của người duy vật
chính là trung âm cảnh tướng của hắn. Duy vật là
chủ tể trong tâm thức của hắn. Duyên phận căn bản
là không có một sự cứu độ nào cả.” “Người duy vật
thì không có thẩm phán và địa ngục tướng hiện ra
hay sao?” Tôi cười lớn: “Lục đạo luân hồi, thuần túy
là nghiệp báo, bất kể là duy vật hay duy tâm” Người
ấy lại hỏi: “Người duy vật nghĩ không có nhân quả
báo ứng, há không là không hiện nhân quả báo ứng
sao?” “Chủng tử đó, Phật giáo chủng tử, người hiện
nay nói gieo nhân nào, được quả đó, lại nữa phải thu
lấy cái gì mình đã trồng.” Địa Tạng Bồ Tát Bản
Nguyện Kinh nói: “Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát bạch
với Thánh Mẫu rằng tội báo danh hiệu của Nam Diêm
Phù Đề là như thế này, nếu có chúng sinh bất hiếu
với phụ mẫu hoặc sát hại, phải đọa vô gián địa ngục,
ngàn vạn ức kiếp, không có thời hạn được cứu ra.
Nếu có chúng sinh làm cho thân thể Phật chảy máu,
hủy báng Tam Bảo, không kính trọng Tôn Kinh cũng
phải đọa vô gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp, không
mong gì có ngày ra. Nếu có chúng sinh xâm nhập
làm tổn hại chùa chiền, làm điếm nhục tăng ni hoặc
trong nơi thờ phụng lén lút làm chuyện dâm dục
hoặc sát hoặc hại, những tội như trên sẽ phải đọa vô
gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp, không mong gì có
ngày ra. Nếu có chúng sinh làm giả sa môn, tâm
không phải sa môn phá hoại dụng cụ trong chùa, khi
thường những người thế tục, vi phạm giới luật, làm
các hành động ác, những tội kể trên phải đọa vô gián
địa ngục ngàn vạn ức kiếp, không mong gì có ngày
ra. Nếu có chúng sinh trộm cắp trong chùa các tài
vật, lúa, gạo, đồ uống, đồ ăn, quần áo thậm chí một
đồ vật không phải của mình phải đọa vô gián địa
ngục ngàn vạn ức kiếp, không mong gì có ngày ra.
(Đây là gieo nhân nào thì được quả ấy) và (tin hay
không tin không quan hệ). Tôi xin đề cử như sau: Có
một vị mua gà giết gà bán ở các chợ lớn. Vị này đã
giết ngàn ngàn, vạn vạn, ức ức con gà, không thẻ kể,
không thể đếm. Sau khi vị này chết, toàn thân thấy
những lỗ và những vết bầm tím, trước khi chết vị
này cảm thấy đau đớn lạ thường, thấy gà mổ mình.
Sau chết rồi thấy gà vây bốn chung quanh, ngàn
ngàn, vạn vạn, ức ức con. Hồn ma gà kêu réo: “trả lại
mạng ta”, “trả lại mạng ta”. Vị này trước khi chết
cũng đã kêu to lên: “Bọn gà đang đến đòi mạng.”
     Đề cử thứ 2: Có một phụ nữ tử cung có bướu
phải vào bệnh viện, trong giấc ngủ mơ thấy nhiều
tên “thủy tử linh”, những đứa bé mà bà chưa đẻ,
những đứa bé do bác sĩ phá thai, tay dắt tay, vây
quanh giường nhảy múa, gọi bà: “má má trả lại mạng
tôi, má má trả lại mạng tôi”. Vị phụ nữ này mỗi khi
vào mộng đều trông thấy cảnh tướng này, nên rất là
kinh hãi, bà công nhận đã phá thai mấy lần và không
biết tính làm sao, rất nhiều người không bị như thế,
bà từ nay không để tâm đến nữa. Nhưng từ ngày
nhập viện các đứa trẻ cứ vây quanh giường nhảy
múa, cuối cùng bà chịu không nổi tự vẫn mà chết.
     Đề cử thứ 3: Có một người căn bản là không tin
Phật, không tin Thần, không tin nhân quả, hắn giết
người phóng hỏa, gian dâm với phụ nữ vô kể. Sau
cùng bị kết án tử hình. Sau khi chết hắn thấy toàn bộ
những người hắn giết hiện thân đòi trả nợ. Chính nó
cũng phải vào địa ngục thụ án trong vô gián địa
ngục. Điều tôi muốn bá cáo với mọi người là Phật,
Thân, Quỷ Mị, Thiên Đường, Địa Ngục, vân vân, tất
cả xuất ra từ hình thái ý thức của chúng sinh, người
người bất nhất, đó chính là vấn đề thuần túy nghiệp
của thân, khẩu, ý . Duy vật luận cái gì cũng không
tin. Tuy nhiên hắn gieo xuống hạt giống gì, cũng
nhất dạng trồng loại dưa gì, loại đậu gì tuỳ theo ý
thức của hắn mà sinh ra. Đây chính là sự sai biệt
cảnh tướng trung âm thân.

ĐỘ QUA BIỂN LỚN SINH TỬ.
     Cứ như tôi biết người tu hành phải “minh tâm
kiến tánh”, “tự chủ sinh tử” mới tính chuyện độ qua
biển lớn sinh tử. Loại vong linh này đã hoàn toàn
được tịnh hóa. Trong Mật Giáo, do chuyển thức
thành trí, trí này là căn bản trí tức thân thành Phật.
     Tổng quát tu hành trong Hiển Giáo phải “Minh
Tâm Kiến Tánh”, “Tự Chủ Sinh Tử”, phải tu “Giải
Thoát Đạo” và “Tam Thừa Bồ Đề Đạo”, từ A La Hán
đến Bồ Tát Thập Địa, 52 giai vị, tối hậu Đẳng Giác,
Diệu Giác mới chứng Phật Quả. Mật Giáo, Hiển Giáo
kỳ thực đều có “trung âm cứu độ”, chẳng những Mật
Pháp coi trọng, Hiển Pháp cũng coi trọng chỉ yếu lâm
chung. Tôi cho rằng giai đoạn của thời gian trong 49
ngày là phi thường trọng yếu. Nếu như vận dụng
được một cách rất thích đáng thì khả dĩ độ qua biển
lớn sinh tử rất nhẹ nhàng. Vân dụng không thích
đáng, ắt sinh ra chướng ngại, nghiệp lực gây
chướng ngại ắt phải rơi vào lục đạo luân hồi thôi. Tôi
cho rằng cảnh giới trung âm thân xác thực là một
yếu điểm, không thể coi thường. Trong thời gian này
phải trải qua giấc ngủ, xuất thần, xa lìa khỏi máu thịt
của cơ thể, bản hữu thanh tịnh xuất hiện, cảnh
tướng của trung âm thân xuất hiện (ảo tướng của
nghiệp chướng trói buộc), cảnh tướng chuyển thế
đầu sinh của lục đạo luân hồi xuất hiện, chuyển thế.
(kết quả trung âm thân). Những sự trải qua này cũng
giống như trong mộng ảo vậy. Thông thường trừ một
số người đã chứng ngộ có khả năng tự chủ. Hơn
nửa trung âm thân là mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng
chấp trước. Có những trung âm thân đã chết tiệt rồi
nhưng hắn vẫn còn không biết. Đợi cho đến khi biết
rõ ràng chính mình đã chết rồi thì lại sinh ra nguyện
vọng lớn lao, một lòng hy vọng lại có được một tấm
thân nên đầu thai vào bất cứ đường nào trong lục
đạo luân hồi. Phổ thông người ta nói đây là trạng
thái thường, tưởng duy trì sự trong sáng, khó lắm
khó lắm. Bởi vì gieo đậu được đậu, gieo dưa được
dưa. Để được “Minh Tâm Kiến Tánh”, “Tự Chủ Sinh
Tử”, độ qua biển lớn sinh tử, phái Thiền Tông có
một công án như sau: Hối Am Di Quang một hôm hỏi
Đại Tuệ Ngụ Quảng Thiền Sư: “Tôi đến đây luôn luôn
không thể thấu triệt được kinh nghiệm, bệnh tại đâu
vậy?” Đại Tuệ đáp: “Bệnh của anh rất nặng, bác sĩ
trên thế gian bó tay, người đã chết rồi thì sống trở lại
không được nữa, nay anh đang sống chưa từng
chết, vậy phải đến Đại Lạc Điền Địa, để chết một lần
mới được”.
     “Đại tử”, “phiên” ở đây tôi đã trải qua. Tôi do
Quan Thế Âm Bồ Tát cấp cho đôi giày thần để đi
(thần hành hài), từ đó mà tứ đại tạo thành thân thể
tôi tan rã, não bộ nứt nẻ thành múi và cũng từ đó
xuất hiện Chân Phật. Chính tôi đây đã chết rồi. “Chết
đi một lần” (đại tử nhất phiên) ở đây cũng không
phải là chết thật mà là tất cả phiền não, tất cả cái gì
tôi thấy biết, tất cả những chấp trước của tôi đều đã
chết tiệt rồi. Những phiền não, những thấy biết,
những chấp trước của tôi tất cả đều từ “kiến văn” và
“giác tri” mà ra, không có những cái này thì bản lai
Chân Diện Mục, Chân Ngã, Chân Như, Chân Phật
hoàn toàn xuất hiện. Đây chính là “đại tử nhất
phiên”. Đây cũng là điều đáng mừng. Dung nhập vào
trong ánh quang minh của bản lai Phật Tánh, ánh
quang minh Phật Tánh tự nhiên lưu lộ xuất hiện. Tại
sao lại đạt được theo cách này? Bởi vì Không còn
phiền não, không còn ngã kiến, không còn ngã chấp.
Chân Như Phật Tánh vốn có sẵn tại chỗ, chỉ là vì
bạn không biết mà thôi. Đây chính là Mật Nghĩa,
Thiền Cơ, Bát Nhã, Duy Thức, Trung Quán. Trong
quá khứ tôi thường nói: “Bỏ đi ngã chấp, bỏ chấp!
Bỏ chấp! Bỏ chấp! Bỏ chấp! Khi mà kiến, văn, giác tri
không còn nữa thì Chân Như thường trụ bất hoại sẽ
xuất hiện. Đây chính là thời cơ tốt đẹp của“Minh
Tâm Kiến Tánh”, “Tự Chủ Sinh Tử”. “Trung Âm
Thân” là thời cơ tốt đẹp nhất. Cho nên đối với trung
âm thân tôi có lời cảnh tỉnh như sau: “Liên Hoa
hành giả, từ vô thủy đến nay, lưu lạc trong lục đạo
luân hồi, trong bể khổ tử sinh, sinh tử cho đến hôm
nay đã biết bao là vô minh, biết bao là phiền não,
biết bao là chấp trước, nhưng hiện tại bạn đã cởi bỏ
được nhục thân, bạn đã đồng dạng với giải thoát
khỏi vô minh, giải thoát khỏi phiền não, ngã kiến,
ngã văn, ngã giác tri, nếu bạn quẳng ném đi tất cả
ngã chấp chính là thời gian bạn thoát ly khỏi mọi sự
trói buộc. Liên Hoa hành giả, bạn phải theo pháp mà
làm, cầu sinh tại Maha Song Liên Trì Thế Giới Cực
Lạc, trong hoa sen hóa sinh.” Ngã chấp của con
người là gì? Đây là NGÃ: danh vị, tài sản, vợ con,
cháu chắt, sắc dục, vân vân. Trung âm thân! chỉ cần
bỏ đi ngã chấp tức bỏ được những trói buộc. bởi vì
chỉ cần bạn tưởng nghĩ đến cái gì thì bạn sẽ bị chính
cái đó trói buộc và mãi mãi chẳng có cách nào nữa
để được đô qua biển lớn của sinh tử. Liên Hoa hành
giả, bạn phải khởi nên sự chán ngán trước lục đạo
luân hồi, phải biết rằng trong lục đạo toàn là Khổ,
Không, Vô Thường, Vô Ngã.
     Được như thế, bạn hãy nhất tâm bất loạn hướng
về Bỉ Ngạn mà tiến tới, hướng về Tịnh Thổ Tây
Phương Cực Lạc, hướng về Tịnh Thổ Maha Song
Liên Trì, hướng về Tịnh Thổ của Hỉ Lạc, hướng về
Tịnh Thổ Đông Phương Lưu Ly Quang mà đi. Tịnh
Thổ này chính là Quốc Thổ của các Thánh Nhân ở,
Tịnh Thổ này không có ô nhiễm bởi ngũ trọc.
     Chúng ta đối với trung âm thân thì pháp sự kêu
gọi cảnh tỉnh rất quan trọng, lúc ấy trung âm thân có
thể nhớ để giữ “không định” rất là trọng yếu, có thể
“không ngã chấp” rất trọng yếu, có thể biết vạn pháp
là huyễn rất trọng yếu, có thể như như bất động rất
trọng yếu, có thể nhất tâm bất loạn rất trọng yếu, có
thể quy y Thượng Sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng rất trọng yếu, niệm Phật, niệm Chú rất trọng
yếu. Chuyển thức đến Phật Thổ thanh tịnh! Giải
thoát mà chứng Phật Đạo! An trụ trong cảnh giới
Pháp Thân bất sinh bất diệt! Vô sinh mà quả vị được
viên giác! Bạn chính là Thánh Tôn Đại Bi vậy.

QUAN TÂM BẬC NHẤT KHI LÂM CHUNG
     Cá nhân tôi thấy được rằng một địa trường trợ
niệm cho người lâm chung rất quan trọng. Nếu như
địa trường quá phức tạp thì không tốt. (tối kỵ quá ồn
ào)
     Không kể tại y viện hay ở tại nhà mình, trước
tiên phải an bài một địa trường thanh tịnh, nếu như
có Thượng Sư, Pháp Sư trước tiên vẩy nước thanh
tịnh (sái tịnh) là trọng yếu. Nếu như có ảnh tướng
của Tam Thánh Tây Phương Cực Lạc là tốt nhất. Nếu
như không có cũng có thể dùng sách viết, nên để tại
chỗ nào người lâm chung trông thấy được. (Hoặc giả
y theo Bản Tôn của người lâm chung). Đoàn hộ niệm
phải biết được Bản Tôn của người lâm chung hoặc là
nơi Tịnh Thổ người lâm chung muốn vãng sinh. Có
rất nhiều người lâm chung hoan hỉ niệm Quan Thế
Âm Bồ Tát thì đoàn trợ niệm hãy niệm Quan Thế Âm
Bồ Tát. Bản Tôn của người lâm chung là Liên Hoa
Sinh Đại Sĩ thì đoàn hãy trì niệm Liên Sư Chú, có
người chuyên trì niệm A Di Đà Phật thì hãy niệm A Di
Đà Phật. Cũng có người Bản Tôn là Địa Tạng Vương
Bồ Tát thì hãy niệm Địa Tạng Vương Bồ Tát. Xin nhớ
đùng bao giờ trợ niệm sai.
     Dùng máy phát âm để niệm Phật, niệm chú có
được không? Có thể được, nhưng cần nhân duyên
tương hợp. Ví dụ như người đó muốn vãng sinh
Maha Song Liên Trì thì đừng cho máy phát âm tài
thần chú. Đương nhiên là phải cho phát âm Liên Hoa
Đồng Tử Tâm Chú hoặc Chân Thật Phật Tức Tai Tứ
Phúc Kinh. Có một Chú mà bất cứ người lâm chung
nào cũng có thể cho máy phát âm là Vãng Sinh Chú.
     Tôi nhận định rằng dùng máy phát âm để niệm
nhưng người trợ niệm cũng nhất tâm trợ niệm theo.
Đây là cùng phụ trợ thêm để thành công. Vị Đại
Thiện Tri Thức có mặt tại chỗ với người lâm chung
trước khi thần thức xuất ra khỏi nhục thân hoặc sau
khi thần thức xuất ra khỏi nhục thân hãy nên ở gần
bên tai người lâm chung để chỉ dạy, cảnh tỉnh,
thuyết Pháp, khuyên bảo, cảnh cáo, an ủi bằng
những câu tối trọng yếu. Đương nhiên là: nhất tâm
bất loạn, không ngã chấp, tất cả các hiện tượng là
hư huyễn, niệm Phật, trì Chú, dung nhập vào ánh
minh quang. Hãy nên bỏ hết tất cả phiền não của
kiếp sống nhân sinh, yêu ghét, tài, sắc, danh vọng,
vân vân. Đại Thiện Tri Thức phải chỉ dẫn cho người
lâm chung con đường ánh quang minh vãng sinh.
Nhớ kỹ đừng khuyên người lâm chung lại trở về
nhân gian đoàn tụ nữa. Thời gian trợ niệm phải niệm
trước và sau khi ngưng thở, thời gian niệm càng lâu
càng tốt, trước linh vị cũng có thể niệm.
     Toán trợ niệm đứng bên cạnh quyến thuộc để trợ
niệm, các con cháu không phải chỉ đứng một bên để
nhìn mà thôi, mà phải chắp tay cùng niệm Phật trì
chú. Niệm Phật hiệu có người chủ trương niệm “Nam
mô A Di Đà Phật”, cũng có người chủ trương niệm
“A Di Đà Phật”, theo tôi đều được cả. Do liên hệ đến
thời gian dài trợ niệm, thời gian có thể 10 tiếng đến
20 tiếng đồng hồ, nên đặt ban luân phiên trợ niệm,
mọi người luân phiên nhau niệm Phật trì Chú, âm
thanh đọc rõ ràng, an lạc, tuyệt diệu, không nhỏ quá,
không to quá, để cho người lâm chung được an ổn,
thích hợp là chính yếu. Chúng ta hiểu được một
người lâm chung thân tâm rất khổ. Nếu có thể được
nên để cho người ấy thân xác được thoải mái, tâm
được an ổn, quyến thuộc không nên khóc lóc, ồn ào,
tranh cãi, gọi ầm ĩ làm cho người lâm chung thêm
phiền não. Để tai của người lâm chung chỉ nghe thấy
Như Lai Thánh Hiệu, trong tâm cùng niệm, hoặc
miệng hoặc thần thức cùng niệm. được như thế thì
rất tự nhiên xả hết nghiệp báo. Toán trợ niệm hãy
chuẩn bị các thứ: phèn la, con cá gỗ nhỏ, tượng của
Tam Thánh, bút giấy, tape trợ niệm, máy nhỏ phát
âm, mang theo phẩm vật cúng dường Tôn Thánh.
Nếu tụng kinh phải mang theo sách kinh, áo pháp,
áo tụng, viên cam lồ, cát kim cương, vân vân. Có một
sự kiện rất trọng yếu, thường thế giới Sa Bà này,
người lâm chung không bỏ được những sự việc thế
gian. Trong lúc người này còn nói năng rõ ràng,
quyến thuộc cần hỏi người này mọi việc cho sáng tỏ
để trả lời cho người này biết rằng nhất định sẽ hoàn
thành mọi việc người này dặn dò, để người này an
tâm mà ra đi. Tối kỵ là người lâm chung còn tưởng
nhớ đến người nào, việc gì, người ân, kẻ oán,, người
ghét, kẻ yêu. Vị Đại Thiện Tri Thức cần phải giải toả
cho người lâm chung: “Liên Hoa hành giả, mong bạn
đừng ưu phiền chuyện thế sự, thế sự hãy bỏ đó, xóa
sạch đi. Bạn hãy nghe cho thật rõ ràng Thánh hiệu.
Phật dạy rằng nhân sinh ắt có ưu phiền, nhưng đó là
hiện tượng tự nhiên, không sao tránh khỏi, nếu như
bỏ đi tất cả, không chấp trước mọi thứ, chỉ một lòng
tưởng nghĩ đến Thế Giới Tây Phương Cực Lạc Maha
Song Liên Trì, đó là Tịnh Thổ an lạc có thể trú sinh,
đó là tối hạnh phúc. Nay bạn phải cầu sinh Phật
Quốc cùng xướng niệm Thánh Hiệu, Bản Tôn tất
nhiên các Ngài sẽ hiện thân đến tiếp dẫn bạn.”. Lúc
đó A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử) tất nhiên hiện
thân tiếp dẫn.

QUAN TÂM THỨ HAI KHI lÂM CHUNG.
     Nghĩ càng sâu sắc tôi thấy rằng lúc sinh tiền
những người có nghe Pháp, có tu Pháp thì tốt hơn
để độ thoát, còn những người sinh tiền hoàn toàn
không có nghe qua Pháp, không có tu qua Pháp thì
khó khăn hơn để độ thoát. Trên đường trung âm tôi
gặp một chuyện: Tôi đã trông thấy một trung âm thân
bị chết vì tai nạn xe. Thần thức của người này 4
phần 5 bị liệt, thân thể hoàn toàn không cử động
được nữa, vỡ đầu, thân thể gãy nát, tay chân gãy. Do
hảo ý của tôi nên đã vận dụng Châm ấn của Mật
Giáo, tôi đã đem đầu, thân, tay, chân của hắn vá
chắp lại như việc làm của Bác sĩ ngoại khoa vậy,
trông hoàn chỉnh như một người bình thường. Cần
phải biết người lâm chung chết ở nhà hay bệnh viện
còn là may mắn. nếu như là chết vì tai nạn xe, phi cơ
rơi, chết biển, chết song, leo núi, lụt lội, chết cháy
hoặc do dã thú cắn chết, bị chết ngoài ý muốn, chết
như kể trên thật đại bất hạnh. Sau khi dùng Châm ấn
giúp người bị xe cán chết, tôi hỏi hắn: “Bạn có biết
Phật Pháp hay không?” Đáp: “Tôi không biết.” –
“Biết Tịnh Thổ không?” – “Tôi không biết.” – “Biết A
Di Đà Phật không?” – “Bà của tôi có niệm.” – “Có tin
không?” – “Tôi không tin.” – “Hiện tại anh muốn làm
gi?” – “Tôi chỉ muốn tìm ra người đã dùng xe đâm tôi
chết, sau đó báo thù người chủ xe đã chạy trốn. Tôi
muốn chuyển thế làm con của hắn ta để đòi được nợ
này.” Hắn tỏ ra rất phẫn uất, bất bình. Tôi hỏi hắn:
“Nghĩ lại đi! Hãy vãng sinh Tây Phương An Lạc Tịnh
Thổ đi!” – “Không, tôi rất hận nó.” Sau đó hắn bay
bỏ chạy. Cho nên tôi nói lúc sinh tiền những người
có nghe qua Phật Pháp, có tu qua Phật Pháp thì dễ
dàng vãng sinh Phật Quốc Thanh Tịnh hơn, một khi
ánh quang minh hiện ra trước mặt những người này
có thể thức tỉnh nhận ra. Nếu không thì mơ hồ rồi lại
mơ hồ, ngay một câu Phật hiệu cũng không muốn
niệm!
     Lại thêm một thí dụ: (Tuy đã quy y, cũng đã học
qua Phật Pháp, tu qua Pháp, nhưng lại chấp trước
cũng rất khó độ.). Trung âm thân này biết rằng các
việc ác không làm, các việc thiện phải làm, giữ thanh
tịnh tâm ý, đó là lời Phật dạy. Không chỉ có thế, hắn
đã thụ qua quán đỉnh “Thân đàn thành pháp”, hai
mắt hoá như nhật nguyệt, tai hoá làm màn che quý,
đỉnh hóa thành bảo cái (mũ che đầu quý giá), răng
hoá làm đá quý. Thân dưới là đất, nước, lửa, gió, núi
Tu Di. Tự thân hóa làm Bản Tôn ngồi trên đỉnh núi
Tu Di. Tu qua Mật Pháp. Có tâm từ bi (tu tứ vô lượng
tâm): Từ vô lượng tâm với tất cả chúng sinh Lạc, Bi
vô lượng tâm dẹp bỏ tất cả chúng sinh Khổ, Hỉ vô
lượng tâm, thấy người làm thiện hoặc xa lìa khổ đắc
Lạc trong lòng sinh hoan hỉ, Xả vô lượng tâm, với ba
Tâm trên xả bỏ mà không chấp trước, oán hoặc thân
đều bình đẳng, không khởi lòng yêu ghét. Vị hành
giả này nếu tu thiền định ít nhất cũng được sinh ở
Phạm Thiên Sắc Giới. Nhân đó Tứ Vô Lượng Tâm
cũng gọi là Tứ Phạm Hành. Lại biết Thí Thụ Pháp:
Khi hít khí vào, đảm thừa tất cả thống khổ của chúng
sinh, khi thở khí ra, trị liệu tật ách của thế nhân. Hắc
khí nhập, bạch khí xuất: Đây chính là Tối Từ Bi “Thế
Đại Pháp.” Bình thường “tiêu nghiệp chướng” là
bạch khí nhập, hắc khí xuất.
     Tôi tại trung âm thân đã gặp vị này lủi thủi độc
hành ở dưới âm gian. Tôi nói: “Ông phải lên miền
Tịnh Thổ chứ.” Ông ta đáp: “Không” Tôi ngạc nhiên
hỏi: “Vì sao vậy?” Ông ta đáp: “Tôi rất là thương vợ,
người vợ có nguyện với tôi, kiếp sau chúng tôi sẽ tái
thế làm vợ chồng, tôi tất phải nhập đầu thai để làm
người, mới có thể cùng vợ tôi làm vợ chồng trở lại.
Nếu như lên Phật Quốc Tịnh Thổ, Tịnh Thổ không có
nữ tính, thì làm sao có thể làm lại chuyện vợ
chồng?” Ông ta cứ độc hành dưới âm gian để chờ
đợi mãi, đợi mãi. Tôi than thở! Tái thế phu thê cũng
là đại chướng ngại cho việc vãng sinh Tịnh Thổ, khi
xả bỏ thì hãy xả bỏ ngay. Tái thế phu thê, than ôi!

QUAN TÂM THỨ BA KHI LÂM CHUNG.
     Không phải là không có người bình thường tu trì
rất tốt, kính sư, trọng Pháp, rất thực tu, nhưng đến
khi lâm chung hoặc khi là trung âm thân thì đột
nhiên trở quẻ. Tôi nói là CÓ. Tôi thực sự bá cáo với
mọi người rằng đó là những người nợ kiếp này hoặc
kiếp trước trông thấy chủ nợ chết hoặc tại trung âm
thân rồi, bèn cướp lấy quyền sở hữu vào lúc người
này chết. Lúc đó cá nhân hoàn toàn thay đổi thành
người khác. Đây được gọi là “Nghiệp chướng hiện
tiền.” Sinh tiền khi trông thấy Pháp Tướng của Liên
Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn, hắn liền chắp tay
cung kính niệm: “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa
Hồng.” Trong nhà hắn treo Pháp Tướng của Tôn Sư.
Trên đàn thành cũng có Pháp Tướng của Thượng Sư
Liên Hoa Đồng Tử, ngày ngày lễ bái, cung kính cúng
dường. Nhưng khi lâm chung thì thay đổi hẳn: hắn
mang Pháp Tướng của Tôn Sư xé xuống, gọi người
đập nát Pháp Tướng của Tôn Sư. Đàn thành thờ Chư
Phật Bồ Tát nhất nhất quét hạ xuống, ném bỏ hoặc
cho người khác. Thân nhân mang ảnh Pháp Tướng
của Tôn Sư đến trước mặt người lâm chung thì nói:
“Đây là Tôn Sư của các người.” Hắn mạ li: “x.x.x”
(Tam Tự Kinh). Mắt hắn phát ra ánh sáng xanh: “Hãy
thiêu tôi đi.” Quyến thuộc rất sợ sệt, không biết phải
làm sao? Quyến thuộc mang Pháp Tướng của A Di
Đà Phật cho người lâm chung xem hắn cũng xuất
khẩu: “x.x.x.” (Tam Tự Kinh). Khi sống cung kính,
quý trọng như vàng, khi lâm chung sinh hận không
ngừng. Không thích Phật, không thích Pháp, không
thích Tăng, người xuất gia. Thượng Sư vừa vào hắn
vội vàng ngăn không cho ra và la mắng, chán ngán
người niệm Phật, trì Chú, nghe tiếng niệm Phật trì
Chú thì la phải ngừng lại, không bằng lòng cho
niệm. Thân thuộc đến nước này cũng phải bó tay,
không còn phương cách nào nữa! Đoàn trợ niệm bị
rủa đổ máu chó đầy đầu. Đây là do sự việc gì vậy?
Khi sống thì kính Sư, trọng Pháp, thực tu, chân
chính từng khắc, niệm Phật thành tâm thành ý. Một
con người đã hoàn toàn biến đổi, hoàn toàn không
giống nhau. Đây chính là oan hồn trước đến sách
nhiễu mệnh, chủ nợ cũ truy đòi, nghiệp chướng hiện
tiền, trở ngại cho việc vãng sinh. Lúc bấy giờ tôi biết
ngay, lập tức nói người thân thuộc của hắn mau mau
thay hắn niệm Địa Tạng Kinh. Từ nơi riêng biệt niệm
và hồi hướng cho hắn. (Không cần phải niệm Địa
Tạng Kinh, niệm Địa Tạng danh hiệu cũng được).
Các đồng môn tu Xám Hối Pháp và hồi hướng cho
hắn, đoàn trợ niệm trước Phật hoặc ở nơi khác niệm
Phật trì chú, tôi dùng Thí Quỷ Thần Pháp thỉnh Quỷ
Thần đi khỏi, nên có kết quả. Sau đó người lâm
chung tiếp nhận Pháp Tướng của Thượng Sư, Tam
Bảo, cũng tiếp thụ niệm Phật trì Chú sinh ra hoan hỉ
tâm, kết quả mới được vãng sinh.
     Tôi lại có một thí dụ khác: Trong lúc ở trung âm
thân tôi thấy một trung âm thân đến trước, trông
thấy tôi như chưa từng thấy, mắt nhìn lãnh đạm như
trăm người lạ khác. Tôi vẫy gọi hắn: “Liên Hoa hành
giả.” Hắn hỏi ngược lại tôi: “Ông là ai?.” “Tôi là Tôn
Sư đây.” “Tôi không cần biết Tôn Sư hay không Tôn
Sư, hãy để tôi sang một bên đi” (Vị đệ tử này lúc
sinh tiền đã từng cúng dường tôi). Tôi tức khắc
trông thấy một người nữ đi sát bên cạnh hắn muốn
lôi kéo hắn vào địa ngục, người nữ này khi còn sống
đã vì hắn mà tự sát chết. Tôi bèn nói với người nữ
bám sát theo hắn:”Không được làm như thế.” Người
nữ đáp: “Khi còn sống anh này bỏ bê tôi, làm cho tôi
đau đớn không muốn sống, cho nên bây giờ tôi cũng
phải ngăn cản anh ta vãng sinh Tịnh Thổ.” Tôi nói
với người nữ: “Tôi sẽ giúp cả hai người được vãng
sinh Tịnh Thổ.” “Ông là người nào vậy? Sao có thể
giúp tôi?” Tôi hoá làm Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Người nữ trông thấy rất vui mừng. Cuối cùng thì cả
hai Liên Hoa hành giả và người nữ tự sát đều cùng
một lúc được vãng sinh Thế Giới Tây Phương Cự
Lạc Maha Song Liên Trì. Tôi nhận thấy rằng người
lâm chung hoặc trung âm nhân khi lâm chung trở
quẻ (biến chất) không thiếu, đối với những người
này Vị Đại Tri Thức khai thị, đoàn trợ niệm, quyến
thuộc, Thượng Sư, Pháp Sư mau mau giúp hắn
“Xám Hối”, “Địa Tạng Kinh”, “Thí Quỷ Thần Pháp”,
“Kết Quả”, Rất trọng yếu! Trọng yếu!

SỰ QUAN TÂM THỨ 4 KHI LÂM CHUNG.
     Trong Mật Giáo chúng tôi đã dạy qua các Liên
Hoa hành giả tối tốc tiệp Vãng Sinh Pháp (phương
pháp vãng sinh rất nhanh chóng): A Hồng Quán,
Nguyệt Luân Quán, A Tự Quán, Ngũ Tướng Thành
Thân Thân, Đại Viên Mãn Không Quán, Nhãn Quang
Pháp, vân vân. Kỳ thực những Pháp trên đều là
những bí mật Pháp có khả năng chuyển  hóa thành
lâm chung Pháp. Mật Pháp là Hoạt (Sống) không
phải là Tử (Chết), tựu thành “Tứ Gia Hành”,
“Thượng Sư Tương Ứng”, “Bản Tôn Pháp”, “Kim
Cương Pháp”, “Vô Thượng Mật”… đều là Vãng Sinh
Pháp. Về phương diện duy thức: cũng có thể dùng
Duy Thức Thần biến lấy kiến văn tri tâm để tìm ra
Như Lai Tạng Thức, cũng có Duy Thức Thần Biến
Quán, vô nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Vô ý thức giới. Như Lai Tạng
Thức, sao sáng Đông phương, mọi người bản lai đầy
đủ Chân Thực Tâm, Chân Như Nhiếp Tạng Như Lai
toàn thể công đức trên Quả Địa, Pháp Thân chứng
quả.
     Trong pháp môn Tịnh Thổ của Hiển Giáo rất
nhiều Pháp Sư đề xướng là “Dị Hành Đạo”, lúc sinh
tiền trì danh niệm Nam Mô A Di Đà Phật, kiên trì
niệm, để gặp lúc lâm chung Phật hiệu từ tâm có thể
khởi lên, nhờ nhân duyên niệm Phật người ấy có thể
vãng sinh Tịnh Thổ. A Di Đà Kinh nói: “Nếu có thiện
nam tử, thiện nữ nhân nghe nói A Di Đà Phật mà
chấp trì Danh Hiệu, nếu trong một ngày, hai ngày, ba
ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày nhất
tâm bất loạn, người ấy khi lâm chung, A Di Đà Phật
và chư Thánh sẽ hiện ra trước người lâm chung,
người này khi lâm chung không bị điên đảo, tức
được vãng sinh Cực Lạc Quốc Thổ của A Di Đà
Phật.”
     Tôi thường dạy các chúng sinh rằng thừa cơ
(máy bay), thừa xa, thừa thuyền, thỉnh Phật trụ đỉnh,
niệm nhất niệm Phật hiệu tính mong được sự tao
ngộ ngoài ý không thể tính trước được, nhân sinh là
vô thường mà!  Chúng ta cũng khả dĩ chỉ trong từng
sát na, sát na được vãng sinh Tịnh Thổ Phật Quốc.
Tam học xuất thế khác “Luật Tông”, “Tam Luận”,
“Thiên Đài”, “Từ Ân”, “Thiền”, “Mật”, “Tịnh Thổ”,
Hoa Nghiêm”, người học thì có sâu, có nông nhưng
vãng sinh là trọng yếu!
     Nói đi nói lại, tôi thuyết minh về ba lực tối trọng
yếu:
     1/ Tự lực vãng sinh. Đây là công đức tu hành của
tự thân mình, đã Minh Tâm Kiến Tánh, Tự Chủ Sinh
Tử, tự tâm sở hữu Phật Tánh đã hiện. Từ “Tứ Gia
Hành”, “Thượng Sư Tương Ứng”, “Bản Tôn Pháp”,
“Bảo Ngõa Khí”, “Quật Hỏa”, “Thông Trung Mạch”,
“Khai Ngũ Luân”, “Ngũ Kim Cương”, “Ngũ Phật”,
“Vô Thượng Mật”, “Đại Viên Mãn”, cứ y theo thứ tự
mà tu, đắc tất cả Trí Trí, đắc căn bản Trí. Lúc bấy giờ
thì Phật Thân và Ngã Thân đồng thể, Phật Khẩu và
Ngã Khẩu đồng thể, Phật Ý và Ngã Ý đồng thể, tức
Thân thành Phật rồi! Mật Giáo lấy tự lực và gia trì lực
của Như Lai, tam mật gia trì làm cho nhục thân của
phàm phu trong một kiếp tức thành thân Phật, dùng
lực không thể nghĩ bàn mà trong kiếp này chứng đắc
được Phật Quả. Công đức này không thể dùng tâm
tư, công đức này không thể dùng lời nói, chữ nghĩa,
đây hoàn toàn không thể nghĩ bàn. Cho nên nói rằng
Mật Giáo là Như Lai Pháp Thân nội chứng Pháp,
ngay Đẳng Giác Bồ Tát cũng không thể đo biết, duy
Phật với Phật mới có thể biết. Đừng hủy báng!
     Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn đã hiện
chứng Hoa Quang Tự Tại Phật, chứng minh Đệ Bát
Thức Như Lai Tạng, Đệ Cửu Thức Am Ma La. Đây là
Chân Ngã, Chân Như, Chân Phật là từ Tâm sở cụ, từ
vô thủy đến giờ. Trong sự tu trì Mật Giáo, được:
Thích Ca Mâu Ni Phật thụ ký, A Di Đà Phật phó thác,
Di Lặc Bồ Tát ban đội Hồng Quan (mũ hồng), Liên
Hoa Sinh Đại Sĩ dạy cho Mật Pháp. Liên Sinh Hoạt
Phật Lô Thắng Ngạn chứng minh Chân Chính
Truyền Thừa: Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật
Mẫu, A Di Đà Phật, Liên Sinh Hoạt Phật. Nhân Gian
Truyền Thừa: Hồng Giáo (Liễu Minh Hoà Thượng),
Hoàng Giáo (Thổ Đăng Đạt Kết Thượng Sư), Bạch
Giáo (Thập Lục Thế Đại Bảo Pháp Vương Tạp Mã
Ba), Hoa Giáo (Tát Già Chứng Không Thượng Sư).
     Cái khác.
     2/ Tha lực vãng sinh: Người niệm Phật chính là
nhờ vào Phật lực (tha lực) để được vãng sinh Tịnh
Thổ. Đây chính là 48 Đại Nguyện của Đại Từ Đại Bi A
Di Đà Phật, chấp nhận tín nguyện niệm Phật của
chúng sinh ngõ hầu chúng sinh được vãng sinh Tây
Phương Tịnh Thổ, một lực lượng bất khả tư nghị.
Đây chính là: Nguyện lực của uy đức A Di Đà Phật -
Tam muội lực của A Di Đà Phật - Nhiếp thụ lực của A
Di Đà Phật.
     Các chúng sinh nào hiện tiền tâm nhất niệm với
A Di Đà Phật Tâm tương ứng, nhất niệm tương ứng
nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm
Phật. Đây là tâm Phật chúng sinh vốn không sai biệt,
Thánh nhân và phàm phu đồng nhất Như Lai Tạng
Thức, chư Phật và chúng sinh có chung một nguồn
của tâm. Niệm Phật thành Phật, tìm Phật Phật thành,
tất cả đầy đủ. Hành giả bản nguyện (đây là tha lực
vãng sinh Tịnh Thổ).
     3/ Pháp Giới Lực (Pháp lực) vãng sinh: Pháp giới
lực này có sự tổng hợp lực của chư Phật, Bồ Tát,
Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên. Đây
là Pháp lực của sự tín nguyện cảm ứng giao đạo
không thể nghĩ bàn. Bạn thành tâm tin vào Liên Sinh
Hoạt Phật có thể tiếp dẫn bạn, bạn nguyện ý Liên
Sinh Hoạt Phật tiếp dẫn bạn, bạn hãy chí thành niệm
Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, Pháp giới Lực ấy (Pháp
Lực) sẽ sinh xuất đến với bạn, Không Hành sẽ mang
trung âm thân đến tận chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật.
Cuối cùng do Đại Thiện Tri Thức hóa đạo bạn (trung
âm thân), do Pháp giới lực nhiếp triệu bạn sẽ được
vãng sinh ở một Tịnh Thổ Phật Quốc nào đó. Chỉ cần
chỉ tay bạn có thể đến Tối Thắng Tịnh Thổ, Diệu Bảo
Tịnh Thổ, Viên Châu Tịnh Thổ, Vô Ưu Tịnh Thổ, Tịnh
Trụ Tịnh Thổ, Pháp Ý Tịnh Thổ, Mãn Nguyệt Tịnh
Thổ, Diệu Hỉ Tịnh Thổ, Diệu Viên Tịnh Thổ, Hoa Tạng
Tịnh Thổ, Chân Như Tịnh Thổ, Viên Thông Tịnh Thổ,
Chân Phật Tịnh Thổ, Cực Lạc Tịnh Thổ….toàn bộ
xuất hiện. Đó là do Bí Mật Pháp Giới Lực của Liên
Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn Đại Bi Vô Thượng.
ĐỘ QUA BIỂN SINH TỬ