ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH.
THE SUTRA ON THE PAST VOWS OF KSITIGARBHA BODHISATTVA
(ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH)
TRANSLATOR: NGUYỄN VĂN HẢI, M.A.
PHẦN 1: DỊCH NGUYÊN VĂN.
KHAI KINH KỆ
Vô thượng thậm thâm vô diệu pháp,
Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải như lai chân thực nghĩa.
ĐAO LỢI THIÊN CUNG THẦN THÔNG PHẨM ĐỆ NHẤT.
Như thị ngã văn. Nhất thời Phật tại Đao Lợi Thiên, vị mẫu thuyết pháp.Nhĩ thời thập
phương vô lượng thế giới, bất khả thuyết bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, cập Đại Bồ
Tát Ma Ha Tát, giai lai tập hội, tán thán Thích Ca Mâu Ni Phật, năng ư ngũ trọc ác thế,
hiện bất khả tư nghị đại trí tuệ thần thông chi lực, điều phục cương cường chúng sinh, tri
khổ lạc pháp, các khiển thị giả vấn tấn Thế Tôn, thị thời Như Lai hàm tiếu, phóng bách
thiên vạn ức đại quang minh vân, sở vị Đại Viên Mãn quang minh vân, Đại Từ Bi quang
minh vân, Đại Trí Tuệ quang minh vân, Đại Bát Nhã quang minh vân, Đại Tam Muội
quang minh vân, Đại Kiết Tường quang minh vân, Đại Phúc Đức quang minh vân, Đại
Công Đức quang minh vân, Đại Quy Y quang minh vân, Đại Tán Thán quang minh vân,
phóng như thị đẳng bất khả thuyết quang minh vân dĩ, hựu xuất chủng chủng vi diệu chi
âm, sở vị Đàn Na Ba La Mật âm, Thi La Ba La Mật âm, Sạn Đề Ba La Mật âm, Bì Ly Da
Ba La Mật âm, Thiền Ba La Mật âm, Bát Nhã Ba La Mật âm, Từ Bi âm, Hỷ Xả âm, Giải
Thoát âm, Vô Lậu âm, Trí Tuệ âm, Đại Trí Tuệ âm, Sư Tử Hống âm, Đại Sư Tử Hống
âm, Vân Lôi âm, Đại Vân Lôi âm, xuất như thị đẳng bất khả thuyết bất khả thuyết âm dĩ,
Sa Bà thế gìới cập tha phương quốc thổ, hữu vô lượng ức Thiên Long Quỷ Thần, diệc
tập đáo Đao Lợi Thiên Cung, sở vị Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Tu Diễm Ma
Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Hoá Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Phạm Chúng Thiên,
Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên, Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang
Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Phúc Sinh Thiên,
Phúc Ái Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên,
Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, Ma Ê Thủ La Thiên, cập chí Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ Thiên, nhất thiết thiên chúng, long chúng, quỷ thần đẳng chúng, tất lai tập hội.
Phục hữu tha phương quốc thổ, cập Sa Bà thế giới, Hải Thần, Giang Thần, Hà Thần, Thụ
Thần, Sơn Thần, Địa Thần, Xuyên Trạch Thần, Miêu Giá Thần, Trú Thần, Dạ Thần, Không
Thần, Thiên Thần, Ẩm Thực Thần, Thảo Mộc Thần, như thị đẳng Thần, giai lai tập hội.
Phục hữu tha phương quốc thổ,cập Sa Bà thế giới, chư Đại Quỷ Vương, sở vị Ác Mục
Quỷ Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noãn Quỷ
Vương, Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phúc Lợi
Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương, như thị đẳng Quỷ Vương, giai lai tập hội. Nhĩ thời
Thích Ca Mâu Ni Phật cáo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát, nhữ
quán thị nhất thiết chư Phật Bồ Tát, cập Thiên Long Quỷ Thần, thử thế giới, tha thế giới,
thử quốc thổ tha quốc thổ. Như thị kim lai tập hội, đáo Đao Lợi Thiên giả, nhữ tri số bất,
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật ngôn, Thế tôn, nhược dĩ ngã thần lực, thiên kiếp trắc độ, bất
năng đắc tri. Phật cáo Văn Thù Sư Lợi. Ngô dĩ Phật nhãn quán cố, do bất tận số, thử giai
thị Địa Tạng Vương Bồ Tát cửu viễn kiếp lai dĩ độ, đương độ, vị độ, dĩ thành tựu, đương
thành tựu, vị thành tựu. Văn Thù Sư Lợi bạch Phật ngôn, Thế Tôn, Ngã dĩ quá khứ tu
thiện căn, chứng Vô Ngại Trí, văn Phật sở ngôn, tức đương tín thụ, tiểu quả Thanh Văn,
Thiên Long Bát Bộ, cập vị lai thế chư chúng sinh đẳng tuy văn Như Lai thành thực chi
ngữ, tất hoài nghi hoặc. Thiết sử đỉnh thụ, vị miễn hứng báng, duy nguyện Thế Tôn,
quảng thuyết Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, nhân địa tác hà hạnh, lập hà nguyện, nhi năng
thành tựu bất tư nghị sự. Phật cáo Văn Thù Sư Lợi, thí như tam thiên đại thiên thế giới
sở hữu thảo mộc tùng lâm, đạo, ma, trúc, vi, sơn thạch vi trần, nhất vật nhất số, tác nhất
Hằng hà, nhất Hằng hà sa, nhất sa chi giới, nhất giới chi nội, nhất trần chi kiếp, nhất kiếp
chi nội, sở tích trần số, tận khắc vi kiếp Địa Tạng Bồ Tát chứng thập địa quả vị dĩ lai,
thiên bội đa ư thượng dụ. Hà huống Địa Tạng Bồ Tát tại Thanh Văn Bích Chi Phật Địa,
Văn Thù Sư Lợi, thử Bồ Tát uy thần thệ nguyện, bất khả tư nghị, nhược vị lai thế hữu
thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị Bồ Tát danh tự, hoặc tán than hoặc chime lễ hoặc
xướng danh hoặc cúng dường, cập chí thải họa, khắc lũ, tố tất, hình tượng, thị nhân
đương đắc bách phản sinh ư tam thập tam thiên, vĩnh bất đọa ác đạo. Văn Thù Sư Lợi,
thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, ư quá khứ cửu viễn, bất khả thuyết, bất khả thuyết kiếp
tiền, thân vi đại trưởng giả tử, thời thế hữu Phật, hiệu viết Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn
Hạnh Như Lai. Thời trưởng giả tử kiến Phật tướng hảo, thiên phúc trang nghiêm, nhân
vấn bỉ Phật, tác hà hạnh nguyện, nhi đắc thử tướng. Thời Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn
Hạnh Như Lai cáo trưởng giả tử, dục chứng thử thân, đương tu cửu viễn độ thoát nhất
thiết thụ khổ chúng sinh.. Văn Thù Sư Lợi, thời trưởng giả tử nhân phát nguyện ngôn, ngã
kim tận vị lai tế, bất khả kế kiếp, vi thị tội khổ, lục đạo chúng sinh, quảng thiết phương
tiện tận linh giải thoát, nhi ngã tự thân tương thành Phật đạo, dĩ thị ư bỉ Phật tiền lập tư
Đại Nguyện. Vu kim bách thiên vạn ức na do tha bất khả thuyết kiếp, thượng vi Bồ Tát.
Hựu ư quá khứ bất khả tư nghị a tăng kỳ kiếp, thời thế hữu Phật, hiệu viết Giác Hoa Định
Tự Tại Vương Như Lai, bỉ Phật thọ mệnh tứ bách thiên vạn ức a tăng kỳ kiếp, tượng
pháp chi trung hữu nhất Bà La Môn nữ, túc phúc thâm hậu, chúng sở khâm kính, hành trụ
tọa ngọa chư thiên vệ hộ, kỳ mẫu tín tà, thường khinh Tam Bảo, thị thời Thánh Nữ, quảng
thuyết phương tiện, khuyến dụ kỳ mẫu, linh sinh chính kiến, nhi thử nữ mẫu, vị toàn sinh
tín, bất cửu mệnh chung hồn thần đọa tại vô gián địa ngục. Thời Bà La Môn nữ tri mẫu tại
thế, bất tín nhân quả, kế đương tùy nghiệp, tất sinh ác thú, toại mại gia trạch, quảng cầu
hương hoa, cập chư cúng cụ, ư tiên Phật tháp tự, đại hưng cúng dường, kiến giác Hoa
Định Tự Tại Vương Như Lai, kỳ hình tượng tại nhất tự trung, tố họa uy dung, đoan
nghiêm tất bị.
Thời Bà La Môn nữ chiêm lễ tôn dung, bội sinh kính ngưỡng, tư tự niệm ngôn, Phật
danh Đại Giác, cụ nhất thiết trí, nhược tại thế thời, ngã mẫu tử hậu, thảng lai vấn Phật, tất
tri xứ sở. Thời Bà La Môn nữ, thùy khấp lương cửu, chiêm luyến Như Lai, hốt văn thinh
không thanh viết, khấp giả Thánh nữ, vật chí bi ai, ngã kim thị nữ mẫu chi khứ xứ, Bà La
Môn nữ hợp chưởng hướng không, nhi bạch không viết, thị hà Thần Đức, khoan ngã ưu
lự, ngã tự thất mẫu dĩ lai, trú dạ ức luyến, vô xứ khả vấn, tri mẫu sinh giới. Thời thinh
không hữu thanh, tái báo nữ viết, ngã thị nữ sở chiêm lễ giả, quá khứ Giác Hoa Định Tự
Tại Vương Như Lai
Kiến nữ ức mẫu bội ư thường tình, chúng sinh chi phận, cố lai cáo thị. Bà La Môn nữ
văn thử thanh dĩ, cử thân tự phác, chi tiết giai tổn, tả hữu phù thị, lương cửu phương tô,
nhi bạch không viết, nguyện Phật từ mẫn tốc thuyết ngã mẫu sinh giới, ngã kim thân tâm
tương tử bất cửu. Thời Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai cáo Thánh Nữ viết, nữ
cúng dường tất, đãn tảo phản xá, đoan tọa tư duy ngô chi danh hiệu, tức đương tri mẫu
sở sinh khứ xứ. Thời Bà La Môn nữ tầm lễ Phật dĩ, tức qui kỳ xá.
Dĩ ức mẫu cố, đoan tọa niệmGiác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai kinh nhất nhật nhất
dạ, hốt kiến tự thân đáo nhất hải biên, kỳ thủy dũng phí, đa chư ác thú, tận phục thiết thân,
phi tẩu hải thượng, đông tây trì trục, kiến chư nam ttử nữ nhân, bách thiên vạn số, xuất
một hải trung, bị chư ác thú tranh thủ thực đạm, hựu kiến dạ xoa, kỳ hình các dị, hoặc đa
thủ đa nhãn, đa túc đa đầu, khẩu nha ngoại xuất, lợi đao như kiếm, khu chư tội nhân, sử
cận ác thú, phục tự đoàn quặc, đầu túc tương tựu, kỳ hình vạn loại, bất cảm cửu thị.
Thời Bà La Môn nữ dĩ niệm Phật lực cố, tự nhiên vô cụ. Hữu nhất quỉ vương, danh viết
Vô Độc khể thủ lai nghênh, bạch Thánh Nữ viết, thiện tai, Bồ Tát hà duyên lai thử. Thời
Bà La Môn nữ vấn quỉ vương viết, thử thị hà xứ, Vô Độc đáp viết, thử thị Đại Thiết Vi
Sơn, tây diện đệ nhất trùng hải. Thánh Nữ vấn viết, ngã văn Thiết Vi chi nội, địa ngục tại
trung, thị sư thực bất. Vô Độc đáp viết, thực hữu địa ngục. Thánh Nữ vấn viết, ngã kim
vân hà đắc đáo ngục sở. Vô Độc đáp viết, nhược phi uy thần, tức tu nghiệp lực, phi thử
nhị sự, chung bất năng đáo.
Thánh Nữ hựu vấn, thử thủy hà duyên nhi nãi dũng phí, đa chư tội nhân, cập dĩ ác thú.
Vô độc đáp viết, thử thị Diêm Phù Đề tạo ác chúng sinh. Tân tử chi giả, kinh tứ thập cửu
nhật hậu, vô nhân kế tự, vi tác công đức, cứu bạt khổ nạn. Sinh thời hựu vô thiện nhân,
đương cứ bản nghiệp sở cảm địa ngục, tự nhiên tiên độ thử hải. Hải đông thập vạn do
tuần, hựu hữu nhất hải, kỳ khổ bội thử. Bỉ hải chi đông, hựu hữu nhất hải, kỳ khổ phục
bội, tam nghiệp ác nhân chi sở chiêu cảm, cộng hiệu nghiệp hải, kỳ xứ thị dã. Thánh Nữ
hựu vấn quỉ vương Vô Độc viết, địa ngục hà tại. Vô Độc đáp viết, tam hải chi nội, thị đại
địa ngục, kỳ số bách thiên, các các sai biệt.
Sở vị đại giả cụ hữu thập bát, thứ hữu ngũ bách, khổ độc vô lượng, thứ hữu thiên bách,
diệc vô lượng khổ. Thánh Nữ hựu vấn đại quỷ vương viết, ngã mẫu tử lai vị cửu, bất tri
hồn thần đương chí hà thú. Quỷ vương vấn Thánh Nữ viết, Bồ Tát chi mẫu tại sinh tập hà
hành nghiệp. Thánh Nữ đáp viết, ngã mẫu tà kiến, ky huỷ Tam Bảo, thiêế hoặc tạm tín,
toàn hựu bất kính. Tử tuy nhật thiển, vị tri sinh xứ. Vô Độc Vấn viết, Bồ Tát chi mẫu tính thị
hà đẳng, Thánh Nữ đáp viết, ngã phụ ngã mẫu, câu Bà La Môn chủng. Phụ hiệu Thi La
Thiện Hiện, Mẫu hiệu Duyệt Đế Lợi. Vô Độc hợp chưởng khải Bồ Tát viết, nguyện Thánh
giả khước phản bản xứ.
Vô chí ưu lự bi luyến Duyệt Đế Lợi tội nữ, sinh thiên dĩ lai, kinh kim tam nhật, vân thừa
hiếu tự chi thuận, vị mẫu thiết cúng tu phúc, bố thí Giác Hoa Địng Tự Tại Vương Như Lai
tháp tự. Phi duy Bồ Tát chi mẫu, đắc thoát địa ngục, ứng thị vô gián địa ngục nhân, thử
nhật tất đắc thụ lạc, câu đồng sinh cật. Quỷ vương ngôn tất, hợp chưởng nhi thối. Bà La
Môn Nữ tầm như mộng qui, ngộ thử sự dĩ, tiện ư Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai
tháp tượng chi tiền lập hoằng thệ nguyện. Nguyện ngã tận vị lai kiếp, ưng hữu tội khổ
chúng sinh quảng thiết phương tiện, xử lệnh giải thoát. Phật cáo Văn Thù Sư Lợi, thời
quỷ vương Vô Độc giả, đương kim Tài Thủ Bồ Tát thị, Bà La Môn nữ giả tức Địa Tạng
Bồ Tát thị.
PHÂN THÂN TẬP HỘI PHẨM ĐỆ NHỊ
Nhĩ thời bách thiên vạn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả luợng vô
lượng a tăng kỳ thế giới, sở hữu địa ngục xứ, phân thân Địa Tạng Bồ Tát câu lai tập tại
Đao Lợi Thiên Cung, dĩ Như Lai thần lực cố, các dĩ phương diện dữ chư đắc giải thoát.
Tòng nghiệp đạo xuất giả, diệc các hữu thiên vạn ức na do tha số, cộng trì hương hoa,
lai cúng dường Phật. Bỉ chư đồng lai đẳng bối, giai nhân Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa, vĩnh
bất thối chuyển ư A Nậu Đa La Tam Niệu Tam Bồ Đề, thị chư chúng đẳng, cửu viễn kiếp
lai lưu lãng sinh tử, lục đạo thụ khổ, tạm vô hưu tức, dĩ Địa Tạng Bồ Tát quảng đại từ bi,
thâm thệ nguyện cố, kết hoạch quả chứng.
Ký chí Đao Lợi, tâm hoài dũng dược, chiêm ngưỡng Như Lai, mục bất tạm xả. Nhĩ thời
Thế Tôn thư kim sắc tý, ma bách thiên vạn ức, bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng,
bất khả thuyết vô lượng a tăng kỳ thế giới chư phân thân Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
đỉnh, nhi tác thị ngôn, ngô ư ngũ trọc ác thế giáo hóa như thị cương cường chúng sinh,
lệnh tâm điều phục, xả tà qui chính. Thập hữu nhất, nhị, thượng ác tập tại, ngô diệc phân
thân thiên bách ức, quảng thiết phương tiện, hoặc hữu lợi căn, văn tức tín thụ, hoặc hữu
thiện quả, cần khuyến thành tựu, hoặc hữu ám độn, cửu hóa phương qui, hoặc hữu
nghiệp trọng, bất sinh kính ngưỡng, như thị đẳng bối chúng sinh, các các sai biệt, phân
thân độ thoát, hoặc hiện nam tử thân, hoặc hiên nữ nhân thân, hoặc hiện thiên long thân,
hoặc hiện thần quỷ thân, hoặc hiện sơn lâm xuyên nguyên, hà trì tuyền tỉnh, lợi cập ư
nhân, tất giai độ thoát, hoặc hiện Thiên Đế thân, hoặc hiện Phạm Vương thân, hoặc hiện
Chuyển Luân Vương thân, hoặc hiện cư sĩ thân, hoặc hiện quốc vương thân, hoặc hiện tể
phụ thân, hoặc hiện quan thuộc thân, hoặc hiện tỉ khiêu, tỉ khiêu ni, ưu bà tắc, ưu bà di
thân, nãi chí Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát đẳng thân, nhi dĩ hoá độ, phi đản
Phật thân độc hiện kỳ tiền, nhữ quan ngô lũy kiếp cần khổ độ thoát như thị đẳng, nan hóa
cương cường tội khổ chúng sinh, kỳ hữu vị điều phục giả, tùy nghiệp báo ứng.
Nhược đọa ác thú, thụ đại khổ thời, nhữ đương ức niệm, ngô tại Đao Lợi Thiên Cung ân
cần phó chúc, lệnh Sa Bà thế giới chí Di Lặc xuất thế dĩ lai chúng sinh, tất sử giải thoát,
vĩnh li chư khổ, ngộ Phật thụ ký. Nhĩ thời chư thế giới phân thân Địa Tạng Bồ Tát cộng
phục nhất hình, thế lệ ai luyến, bạch kỳ Phật ngôn, ngã tong cửu viễn kiếp lai, mông Phật
tiếp dẫn, sử hoạch bất khả tư nghị thần lực, cụ đại trí tuệ, ngã sở phân thân, biến mãn
bách thiên vạn ức hằng hà sa thế giới. Mỗi nhất thế giới hóa bách thiên vạn ức thân, mỗi
nhất thân độ bách thiên vạn ức nhân, lệnh qui kính Tam Bảo, vĩnh ly sinh tử chí Niết Bàn
lạc. Đản ư Phật Pháp trung, sở vi thiện sự, nhất mao nhất trệ, nhất sa nhất trần hoặc hào
phát hứa, ngã tiệm độ thoát, sử hoạch đại lợi. Duy nguyện Thế Tôn, bất dĩ hậu thế ác
nghiệp chúng sinh vi lự. Như thị tam bạch Phật ngôn, duy nguyện Thế Tôn bất dĩ hậu thế
ác nghiệp chúng sinh vi lự. Nhĩ thời Phật tán Địa Tạng Bồ Tát ngôn, thiện tai, thiện tai,
ngô trợ nhữ thiện, nhữ năng thành tựu cửu viễn kiếp lai, phát hoằng thệ nguyện, quảng
độ tương tất, tức chứng Bồ Đề.
QUAN CHÚNG SINH NGHIỆP DUYÊN PHẨM ĐỆ TAM.
Nhĩ thời Phật mẫu Ma Da phu nhân, cung kính hợp chưởng vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn,
Thánh giả, Diêm Phù chúng sinh tạo nghiệp sai biệt, sở thụ báo ứng kỳ sự vân hà. Địa
Tạng đáp ngôn, thiên vạn thế giới nãi cập quốc thổ, hoặc hữu địa ngục, hoặc vô địa
ngục, hoặc hữu nữ nhân, hoặc vô nữ nhân, hoặc hữu Phật Pháp, hoặc vô Phật Pháp, nãi
chí Thanh Văn, Bích Chi Phật diệc phục như thị, phi đản địa ngục tội báo nhất đẳng. Ma
Da phu nhân trọng bạch Bồ Tát, thả nguyện văn ư Diêm Phù tội báo sở cảm ác thú. Địa
Tạng đáp ngôn, Thánh Mẫu duy nguyện thính thụ, ngã thô thuyết chi. Phật mẫu bạch ngôn,
nguyện Thánh giả thuyết. Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu ngôn, Nam Diêm
Phù Đề , tội báo danh hiệu như thị, nhược hữu chúng sinh bất hiếu phụ mẫu, hoặc chí sát
hại, đương đọa vô gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ. Nhược hữu chúng
sinh xuất Phật thân huyết, hủy báng Tam Bảo, bất kính Tôn Kinh, diệc đương đọa vô gián
địa ngục thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ. Nhược hữu chúng sinh xâm tổn Thường Trụ,
điểm ô Tăng Ni, hoặc Già Lam, nội tứ hành dâm dục, hoặc sát hoặc hại như thị đẳng bối,
đương đọa vô gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ. Nhược hữu chúng sinh
ngụy tác Sa Môn, tâm phi Sa Môn, phá dụng Thường Trụ, khi cuống bạch y, vi bối giới
luật, chủng chủng tạo ác, như thị đẳng bối đương đọa vô gián địa ngục thiên vạn ức kiếp,
cầu xuất vô kỳ. Nhược hữu chúng sinh thâu thiết Thường Trụ tài vật, cốc mễ, ẩm thực y
phục nãi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa vô gián địa ngục thiên vạn ức kiếp, cầu
xuất vô kỳ. Địa Tạng bạch ngôn, Thánh Mẫu, nhược hữu chúng sinh tác như thị tội đương
đọa ngũ vô gián địa ngục, cầu tạm đình khổ nhất niệm bất đắc. Ma Da phu nhân trọng
bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn, vân hà danh vi vô gián địa ngục. Địa Tạng bạch ngôn, chư
hữu địa ngục tại Đại Thiết Vi Sơn chi nội, kỳ đại địa ngục hữu nhất thập bát sở, thứ hữu
ngũ bách danh hiệu các biệt. Thứ hữu thiên bách, danh tự diệc biệt, vô gián ngục giả, kỳ
ngục thành chu tạp bát vạn dư lý, kỳ thành thuần thiết, cao nhất vạn lý, thành thượng hỏa
tụ, thiểu hữu không khuyết, kỳ ngục thành trung, chư ngục tương lien, danh hiệu các biệt,
độc hữu nhất ngục danh viết vô gián, kỳ ngục chu tạp vạn bát thiên lý, ngục tường cao
nhất thiên lý, tất thị thiết vi, thượng hỏa triệt hạ, hạ hỏa triệt thượng, thiết xà, thiết cẩu, thổ
hỏa trì trục ngục tường chi thượng, Đông Tây nhi tẩu, ngục trung hữu sàng, biến mãn vạn
lý, nhất nhân thụ tội, tự kiến kỳ thân biến ngọa mãn sàng. Thiên vạn nhân thụ tội, diệc các
tự kiến thân mãn sàng thượng, chúng nghiệp sở cảm, hoạch báo như thị. Hựu chư tội
nhân, bị thụ chúng khổ, thiên bách dạ xoa cập dĩ ác quỷ, khẩu nha như kiếm, nhãn như
điện quang, thủ phục đồng trảo, tha duệ tội nhân. Phục hữu dạ xoa chấp đại thiết kích,
trung tội nhân thân hoặc trung khẩu tị hoặc trung phúc bối phao không phiên tiếp, hoặc trí
sàn thượng, phục hữu thiết ung đạm tội nhân mục, phục hữu thiết xà chước tội nhân
cảnh, bách chi tiết nội, tất hạ trường đinh, bạt thiệt canh lê, trừu trường tỏa trảm, dương
đồng quán khẩu, nhiệt thiết triền thân.
Vạn tử thiên sinh, nghiệp cảm như thị, động kinh ức kiếp, cầu xuất vô kỳ, thử giới hoại
thời, ký sinh tha giới, tha giới thứ hoại, chuyển ký tha phương, tha phương hoại thời,
triển chuyển tương ký. Thử giới thành hậu, hoàn phục nhi lai, vô gián tội báo, kỳ sự như
thị. Hựu ngũ sự nghiệp cảm, cố xưng vô gián. Hà đẳng vi ngũ? nhất giả, nhật dạ thụ tội dĩ
chí kiếp số, vô thời gian tuyệt, cố xưng vô gián; nhị giả, nhất nhân diệc mãn, đa nhân diệc
mãn, cố xưng vô gián; tam giả, tội khí xoa bổng, ưng, xà, lang, khuyển, đối, ma, cứ, tạc,
toả, chước, hoạch, thang, thiết võng, thiết thằng, thiết lư, thiết mã.
Sinh cách các thủ, nhiệt thiết kiêu thân, cơ thốn thiết hoàn, khát ẩm thiết trấp. tòng niên
cánh kiếp, số na do tha, khổ sở tương liên, cánh vô gián đoạn, cố xưng vô gián. Tứ giả,
bất vấn nam tử nữ nhân, Khương Hồ Di Địch, lão ấu quí tặc, hoặc long hoặc thần, hoặc
thiên hoặc quỉ, tội hành nghiệp cảm, tất đồng thụ chi, cố xưng vô gián. Nhược đọa thử
ngục, tòng sơ nhập thời, chí bách thiên kiếp, nhất nhật nhất dạ, vạn tử vạn sinh, cầu nhất
niệm gián tạm trụ bất đắc, trừ phi nghiệp tận, phương đắc thụ sinh, dĩ thử liên miên, cố
xưng vô gián. Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu ngôn, vô gián địa ngục thô thuyết như
thị. Nhược quảng thuyết địa ngục tội khí đẳng danh, cập chư khổ sự, nhất kiếp chi trung,
cầu thuyết bất tận. Ma Da phu nhân văn dĩ, sầu ưu hợp chưởng, đỉnh lễ nhi thối.
DIÊM ĐỀ CHÚNG SINH NGHIỆP CẢM PHẨM ĐỆ TỨ.
Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn, Thế Tôn ngã thừa Phật Như Lai uy
thần lực cố, biến bách thiên vạn ức thế giới, phân thị thân hình, cứu bạt nhất thiết nghiệp
báo chúng sinh. Nhược phi Như Lai đại từ lực cố, tức bất năng tác như thị biến hóa. Ngã
kim hựu mông Phật phó chúc, chí A Dật Đa thành Phật dĩ lai, lục đạo súc sinh, khiển lệnh
độ thoát. Tuy nhiên Thế Tôn, nguyện bất hữu lự. Nhĩ thời Phật cáo Địa Tạng Bồ Tát, nhất
thiết chúng sinh vị giải thoát giả, tính thức vô định, ác tập kết nghiệp, thiện tập kết quả. Vi
thiện vi ác, trục cảnh nhi sinh, luân chuyển ngũ đạo, tạm vô hưu tức, động kinh trần kiếp,
mê hoặc chướng nạn, như ngư du võng, tương thị trường lưu, thoát nhập tạm xuất, hựu
phục tao võng, dĩ thị đẳng bối. Ngô đương ưu niệm, nhữ ký tất thị vãng nguyện, luỹ kiếp
trọng thệ quảng độ tội bối. Ngô phục hà lự thuyết thị ngữ thời. Hựu trung hữu nhất Bồ Tát
Ma Ha Tát, danh Định Tự Tại Vương, bạch Phật ngôn, Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát luỹ
kiếp dĩ lai, các phát hà nguyện, kim mông Thế Tôn ân cần tán thán. Duy nguyện Thế Tôn
lược nhi thuyết chi. Nhĩ thời Thế Tôn cáo Định Tự Tại Vương Bồ Tát, đế thính, đế thính
thiện tư niệm chi. Ngô đương vi nhữ phân biệt giải thuyết, nãi vãng quá khứ vô lượng a
tăng kỳ na do tha, bất khả thuyết kiếp. Nhĩ thời hữu Phật hiệu Nhất Thiết Trí Thành Tựu
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư Phật. Thế Tôn kỳ Phật thọ mệnh lục
vạn kiếp, vị xuất gia thời, vi Tiểu Quốc Vương dữ lân Quốc Vương vi hữu, đồng hành
thập thiện, nhiêu ích chúng sinh. Kỳ lân quốc nội
sở hữu nhân dân, đa tạo chúng ác. Nhị Vương nghị kế quảng thiết phương tiện, nhất
Vương phát nguyện, tảo thành Phật đạo, đương độ thị bối, lệnh sử vô dư. Nhất Vương
phát nguyện, nhược bất tiên độ tội khổ, lệnh thị an lạc, đắc chí Bồ Đề, ngã chung vị
nguyện thành Phật. Phật cáo Định Tự Tại Vương Bồ Tát, nhất Vương Phát nguyện tảo
thành Phật giả, tức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai thị. Nhất Vương phát nguyện vĩnh
độ tội khổ chúng sinh, vị nguyện thành Phật giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị. Phục ư quá khứ
vô lượng a tăng kỳ kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kỳ
Phật thọ mệnh tứ thập kiếp Tượng Pháp chi trung, hữu nhất La Hán, phúc độ chúng sinh,
nhân thứ giáo hóa, quá nhất nữ nhân, tự viết Quang Mục thiết thực cúng dường, La Hán
vấn chi, dục nguyện hà đẳng, Quang mục đáp ngôn, ngã dĩ mẫu vong chi nhật, tư phúc
cứu bạt, vị tri ngã mẫu sinh xứ hà thú. La Hán mẫn chi, vi nhập định quán, kiến Quang
Mục nữ mẫu đọa tại ác thú, thụ cực đại khổ, La Hán vấn Quang Mục ngôn, nhữ mẫu tại
sinh tác hà hành nghiệp, kimtại ác thú, thụ cực đại khổ. Quang Mục đáp ngôn, ngã mẫu
sở tập, duy hảo thực đạm ngư miết chi thuộc, sở thực ngư miết, đa thực kỳ tử hoặc sao
hoặc chử, tứ tình thực đạm, kế kỳ mệnh số, thiên vạn phục bội, Tôn Giả từ mẫn, như hà
ai cứu. La Hán mẫn chi, vi tác phương tiện, khuyến Quang Mục ngôn, nhữ khả chí thành
niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai kiêm tố họa hình tượng, tồn vong hoạch báo.
Quang Mục văn dĩ, tức xả sở ái, tầm họa Phật tượng nhi cúng dường chi. Phục cung kính
tâm, bi khấp chiêm lễ. Hốt ư dạ hậu, mộng kiến Phật thân kim sắc hoảng diệu như Tu Di
sơn, phóng đại quang minh, nhi cáo Quang Mục, nhữ mẫu bất cửu đương sinh nhữ gia,
tài giác cơ hàn, tức đương ngôn thuyết, kỳ hậu gia nội tì sinh nhất tử, vị mãn tam nhật, nhi
nãi ngôn thuyết, khể thủ bi khấp, cáo ư Quang Mục, sinh tử nghiệp duyên, quả báo tự thụ.
Ngô thị nhữ mẫu, cửu xứ ám minh, tự biệt nhữ lai, luỵ đọa đại địa ngục, mông nhữ phúc
lực, phương đắc thụ sinh, vi hà tiện nhân, hựu phục đoản mệnh, thọ niên thập tam, cánh
lạc ác đạo, nhữ hữu hà kế, lệnh ngô thoát miễn. Quang Mục văn thuyết, tri mẫu vô nghi,
ngạnh yết bi đề nhi bạch tì tử, ký thị ngã mẫu, hợp tri bản tội, tác hà hành nghiệp, đọa ư
ác đạo. Tì tử đáp ngôn, dĩ sát hại huỷ mạ nhị nghiệp thụ báo. Nhược phi mông phúc cứu
bạt ngô nạn, dĩ thị nghiệp cố, vị hợp giải thoát. Quang Mục vấn ngôn, địa ngục tội báo, kỳ
sự vân hà. Tì tử đáp ngôn, tội khổ chi sự, bất nhẫn xưng thuyết, bách thiên tuế trung, tốt
bạch nan cánh. Quang Mục văn dĩ, đề lệ hào khấp, nhi bạch không giới, nguyện ngã chi
mẫu, vĩnh thoát địa ngục, tất thập tam tuế, cánh vô trọng tội, cập lịch ác đạo, thập phương
chư Phật từ ai mẫn ngã, thính ngã vi mẫu sở phát quảng đại thệ nguyện, nhươọc đắc
ngã mẫu vĩnh ly tam đồ cập tư hạ tiện. Nãi chí nữ nhân chi thân vĩnh kiếp bất thụ giả.
Nguyện ngã tự kim nhật hậu, đối Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai tượng tiền, khước
hậu bách thiên vạn ức kiếp trung, ưng hữu thế giới, sở hữu địa ngục, cập tam ác đạo
chư tội khổ chúng sinh, thệ nguyện cứu bạt, lệnh ly địa ngục ác thú, súc sinh ngã quỉ
đẳng, như thị tội báo đẳng nhân, tận thành Phật cánh. Ngã nhiên hậu phương thành
Chánh Giác. Phát thệ nguyện dĩ, cụ văn Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai nhi cáo chi
viết, Quang Mục, nhữ đại từ mẫn, thiện năng vi mẫu phát như thị đại nguyện. Ngô quán
nhữ mẫu thập tam tuế tất, xả thử báo dĩ, sinh vi Phạm Chí, thọ niên bách tuế, quá thị báo
hậu, đương sinh Vô Ưu quốc thổ, thọ mệnh bất khả kế kiếp, hậu thành Phật quả, quảng
độ nhân thiên, số như hằng hà sa.
Phật cáo Định Tự Tại Vương, nhĩ thời La Hán phúc độ Quang Mục giả, tức Vô Tận Ý
Bồ Tát thị, Quang Mục Mẫu giả, tức Giải Thoát Bồ Tát thị, Quang Mục Nữ giả, tức Địa
Tạng Bồ Tát thị. Quá khứ cửu viễn kiếp trung, như thị từ mẫn phát hằng hà sa nguyện,
quảng độ chúng sinh. Vị lai thế trung, nhược hữu nam tử nữ nhân, bất hành thiện giả,
hành ác giả, nãi chí bất tín nhân quả giả, tà dâm vọng ngữ giả, lưỡng thiệt ác khẩu giả,
hủy báng Đại Thừa giả, như thị chư nghiệp chúng sinh, tất đọa ác thú, nhược ngộ thiện trí
thức, khuyến lệnh nhất đạn chỉ gián, qui y Địa Tạng Bồ Tát, thị chư chúng sinh, tức đắc
giải thoát tam ác đạo báo. Nhược năng chí tâm qui kính cập chiêm lễ tán thán, hương
hoa y phục, chủng chủng trân bảo hoặc phục ẩm thực, như thị phụng sự giả, vị lai bách
thiên vạn ức kiếp trung, thường tại chư thiên thụ thắng diệu lạc. Nhược thiên phúc tận, hạ
sinh nhân gian, do bách thiên kiếp thường vi đế vương, năng ức túc mệnh nhân quả bản
mạt. Định Tự Tại Vương, như thị Địa Tạng Bồ Tát hữu như thử bất khả tư nghị đại uy
thần lực, quảng lợi chúng sinh. Nhữ đẳng chư Bồ Tát đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu
bố. Định Tự Tại Vương bạch Phật ngôn, Thế Tôn, nguyện bất hữu lự, ngã đẳng thiên vạn
ức Bồ Tát Ma Ha Tát, tất năng thừa Phật uy thần quảng diễn thị kinh, ư Diêm Phù Đề lợi
ích chúng sinh. Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Thế Tôn dĩ, hợp chưởng cung kính, tác
lễ nhi thối. Nhĩ thời tứ phương Thiên Vương câu tòng tòa khởi, hợp chưởng cung kính
bạch Phật ngôn, Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát ư cửu viễn kiếp lai, phát như thị đại nguyện,
vân hà chí kim do độ vị tuyệt, cánh phát quảng đại thệ ngôn. Duy nguyện Thế Tôn vi ngã
đẳng thuyết. Phật cáo Tứ Thiên Vương, thiện tai, thiện tai. Ngô kim vi nhữ cập vị lai, hiện
tại Thiên Nhân chúng đẳng, quảng lợi ích cố, thuyết Địa Tạng Bồ Tát ư Sa Bà thế giới
Diêm Phù Đề nội sinh tử đạo trung, từ ai cứu bạt, độ thoát nhất thiết tội khổ chúng sinh
phương tiện chi sự. Tứ Thiên Vương ngôn, Duy nhiên Thế Tôn, nguyện lạc dục văn
Phật cáo tứ Thiên Vương, Địa Tạng Bồ Tát cửu viễn kiếp lai, hất chí vu kim, độ thoát
chúng sinh do vị tất niệm. Từ mẫn thử thế tội khổ chúng sinh, phục quán vị lai vô lượng
kiếp trung, nhân man bất tuyệt, dĩ thị chi cố, hựu phát trọng nguyện, như thị Bồ Tát ư Sa
Bà Thế Giới, Diêm Phù Đề trung, bách thiên vạn ức phương tiện, nhi vi giáo hóa. Tứ
Thiên Vương, Địa Tạng Bồ Tát nhược ngộ sát sinh giả, thuyết ương đoản mệnh báo.
Nhược ngộ thiết đạo giả, thuyết bần cùng khổ sở báo. Nhược ngộ tà dâm giả, thuyết
tước cáp uyên ương báo. Nhược ngộ ác khẩu giả, thuyết quyến thuộc đấu tránh báo.
Nhược ngộ hủy báng giả, thuyết vô thiệt sang khẩu báo. Nhược ngộ sân khuể giả, thuyết
xú lậu lung tàn báo. Nhược ngộ khan lận giả, thuyết sở cầu vi nguyện báo. Nhược ngộ
ẩm thực vô độ giả, thuyết cơ khát yết bệnh báo. Nhược ngộ điền liệp tứ tình giả, thuyết
kinh cuồng táng mệnh báo. Nhược ngộ bội nghịch phụ mẫu giả, thuyết thiên địa tai sát
báo. Nhược ngộ thiêu sơn lâm mộc giả, thuyết cuồng mê thủ tử báo. Nhược ngộ tiền hậu
phụ mẫu ác độc giả, thuyết phản sinh tiên thát hiện thụ báo. Nhược ngộ võng bộ sinh sồ
giả, thuyết cốt nhục sinh ly báo. Nhược ngộ hủy báng Tam Bảo giả, thuyết manh lung âm
á báo. Nhược ngộ khinh Pháp mạn Giáo giả, thuyết vĩnh xứ ác đạo báo. Nhược ngộ phá
dụng Thường Trụ giả, thuyết ức kiếp luân hồi địa ngục báo. Nhược ngộ ô Phạm vu Tăng
giả, vĩnh tại súc sinh báo. Nhược ngộ thang hỏa trảm chước thương sinh giả, thuyết luân
hồi đệ thường báo. Nhược ngộ phá giới phạm trai, thuyết cầm thú cơ nga báo. Nhược
ngộ phi lý hủy dụng giả, thuyết, thuyết sở cầu khuyết tuyệt báo. Nhược ngộ ngô ngã cống
cao giả, thuyết ti sử hạ tiện báo. Nhược ngộ lưỡng thiệt đấu loạn giả, thuyết vô thiệt bách
thiệt báo. Nhược ngộ tà kiến giả, thuyết biên địa thụ sinh báo. Như thị Diêm Phù Đề
chúng sinh, thân khẩu ý nghiệp, ác tập kết quả, bách thiên báo ứng. Kim thô lược thuyết
như thị đẳng Diêm Phù Đề chúng sinh nghiệp cảm sai biệt. Địa Tạng Bồ Tát bách thiên
phương tiện nhi giáo hóa chi. Thị chư chúng sinh, tiên thụ như thị đẳng báo, hậu đọa địa
ngục, động kinh kiếp số, vô hữu xuất kỳ, thị cố nhữ đẳng hộ nhân hộ quốc, vô lệnh thị chư
chúng nghiệp mê hoặc chúng sinh. Tứ Thiên Vương văn dĩ, thế lệ bi than hợp chưởng nhi
thối.
ĐỊA NGỤC DANH HIỆU PHẨM ĐỆ NGŨ.
Nhĩ thời Tăng Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn, Nhân giả nguyện vi
Thiên long tứ chúng, cập vị lai hiện tại nhất thiết chúng sinh thuyết Sa Bà thế giới, cập
Diêm Phù Đề tội khổ chúng sinh sở thụ báo xứ địa ngục danh hiệu, cập ác báo đẳng sự,
sử vị lai thế , mạt pháp chúng sinh tri thị quả báo. Địa Tạng đáp ngôn, Nhân giả ngã kim
thừa Phật uy thần, cập Đại Sĩ chi lực, lược thuyết địa ngục danh hiệu, cập tội báo ác báo
chi sự. Nhân giả Diêm Phù Đề Đông phương hữu sơn, hiệu viết Thiết Vi, ky sơn hắc
thúy, vô nhật nguyệt quang, hữu đại địa ngục, hiệu Cực Vô Gián. Hựu hữu địa ngục danh
Đại A Tị. Phục hữu địa ngục danh viết Tứ Giác, phục hữu địa ngục danh viết Phi Đao,
phục hữu địa ngục danh viết Hỏa Tiễn, phục hữu địa ngục danh viết Giáp Sơn, phục hữu
địa ngục danh viết Thông Thương, phục hữu địa ngục danh viết Thiết Xa, phục hữu địa
ngục danh viết Thiết Sàng, phục hữu địa ngục danh viết Thiết Ngưu, phục hữu địa ngục
danh viết Thiết Y, phục hữu địa ngục danh viết Thiên Nhận, phục hữu địa ngục danh viết
Thiết Lư, phục hữu địa ngục danh viết Dương Đồng, phục hữu địa ngục danh viết Bão
Trụ, phục hữu địa ngục danh viết Lưu Hỏa, phục hữu địa ngục danh viết Canh Thiệt, phục
hữu địa ngục danh viết Tỏa Thủ, phục hữu địa ngục danh viết Thiêu Cước, phục hữu địa
ngục danh viết Đạm Nhãn, phục hữu địa ngục danh viết Thiết Hoàn, phục hữu địa ngục
danh viết Tránh Luận, phục hữu địa ngục danh viết Thiết Phu, phục hữu địa ngục danh
viết Đa Sân. Địa Tạng bạch ngôn, Nhân giả, Thiết Vi chi nội, hữu như thị đẳng địa ngục,
kỳ số vô hạn, cánh hữu Khiếu Hoán địa ngục, Bạt Thiệt địa ngục, Phấn Niệu địa ngục,
Đồng Tỏa địa ngục, Hỏa Tượng địa ngục, Hỏa Cẩu địa ngục, Hỏa Mã địa ngục, Hỏa
Ngưu địa ngục, Hỏa Sơn địa ngục, Hỏa Thach địa ngục, Hỏa Sàng địa ngục, Hỏa
Lương địa ngục, Hỏa Ưng địa ngục, Cứ Nha địa ngục, Bác Bì địa ngục, Ẩm máu địa
ngục, Thiêu Thủ địa ngục, Thiêu Cước địa ngục, Đảo Thích địa ngục, Hỏa Ốc địa ngục,
Thiết Ốc địa ngục, Hỏa Lang địa ngục. Như thị đẳng địa ngục, kỳ trung các các phục hữu
chư tiểu địa ngục, hoặc nhất, hoặc nhị, hoặc tam, hoặc tứ nãi chí bách thiên kỳ trung danh
hiệu các các bất đồng. Địa Tạng Bồ Tát cáo Tăng Hiền Bồ tát ngôn, nhân giả, thử chư
giai thị Nam Diêm Phù Đề hành ác chúng sinh, nghiệp cảm như thị, nghiệp lực thậm đại
năng địch Tu Di, năng thâm cự hải, năng chướng Thánh Đạo, thị cố chúng sinh mạc
khinh tiểu ác, dĩ vi vô tội, tử hậu hữu báo tiêm hào thụ chi. Phụ tử chí thân kì lộ phân biệt.
Túng nhiên tương phùng, vô khẳng đại thụ. Ngã kim thừa Phật uy lực, lược thuyết địa
ngục tội báo chi sự, duy nguyện Nhân giả tạm thuyết thính thị ngôn. Tăng Hiền đáp ngôn,
ngô dĩ cửu tri tam ác đạo báo vọng Nhân giả thuyết lệnh hậu thế mạt pháp nhất thiết ác
hành chúng sinh, văn Nhân giả thuyết sử lệnh qui Phật. Địa Tạng bạch ngôn, Nhân giả
địa ngục tội báo, kỳ sự như thị., hoặc hữ địa ngục thủ tội nhân thiệt sử ngưu canh chi,
hoặc hữu địa ngục thủ tội nhân tâm dạ xoa thực chi, hoặc hữu địa ngục hoạch thang thịnh
phí chử tội nhân thân, hoặc hữu địa ngục xích thiêu đồng trụ xử tội nhân bão, hoặc hữu
địa ngục xử chư hỏa thiêu, sấn cập tội nhân, hoặc hữu địa ngục nhất hướng hàn băng,
hoặc hữu địa ngục vô hạn phấn niệu, hoặc hữu địa ngục thuần phi tật lê, hoặc hữu địa
ngục đa toàn hỏa thương, hoặc hữu địa ngục duy chàng hung bối, hoặc hữu địa ngục
đãn thiêu thủ túc, hoặc hữu địa ngục bàn chước thiết xà, hoặc hữu địa ngục khu trục thiết
cẩu, hoặc hữu địa ngục tận giá thiết loa. Nhân giả như thị đẳng báo, các các ngục trung,
hữu bách thiên chủng nghiệp đạo chi khí, vô phi thị đồng, thị thiết, thị thạch, thị hỏa. Thử
tứ chủng vật, chúng nghiệp hành cảm. Nhược quảng thuyết địa ngục tội báo đẳng sự,
nhất nhất ngục trung cánh hữu bách thiên chủng khổ sở, hà huống đa ngục, ngã kim thừa
Phật uy thần cập Nhân giả vấn lược thuyết như thị. Nhược quảng giải thuyết cùng kiếp
bất tận.
NHƯ LAI TÁN THÁN PHẨM ĐỆ LỤC.
Nhĩ thời Thế Tôn cử thân phóng đại quang minh, biến chiếu bách thiên vạn ức hằng hà sa
đẳng chư Phật thế giới, xuất đại âm thanh tằng cáo chư Phật thế giới, nhất thiết chư Bồ
Tát Ma Ha Tát, cập Thiên Long, Quỉ Thần, Nhân, Phi Nhân đẳng, thính ngô kim nhật xưng
dương tán thán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ư thập phương thế giới, hiện đại bất khả tư
nghị uy thần, từ bi chi lực, cứu hộ nhất thiết tội khổ chi sự. Ngô diệt độ hậu, nhữ đẳng
chư Bồ Tát Đại Sĩ, cập Thiên Long Quỉ Thần đẳng, quảng tác phương tiện, vệ hộ thị kinh,
lệnh nhất thiết chúng sinh chứng Niết Bàn lạc. Thuyết thị ngữ dĩ, hội trung hữu nhất Bồ Tát
danh viết Tăng Quảng hợp chưởng, cung kính nhi bạch Phật ngôn, kim kiến Thế Tôn tán
thán Địa Tạng Bồ Tát hữu như thị bất khả tư nghị đại uy thần đức. Duy nguyện Thế Tôn vi
vị lai thế, mạt pháp chúng sinh, tuyên thuyết Địa Tạng Bồ Tát lợi ích Nhân Thiên nhân quả
đẳng sự, sử chư Thiên Long Bát Bộ cập vị lai thế chúng sinh đỉnh thụ Phật ngữ. Nhĩ thời,
Thế Tôn cáo Tăng Quảng Bồ Tát cập tứ chúng đẳng, đế thính, đế thính, ngô đương vi
nhữ lược thuyết Địa Tạng Bồ Tát lợi ích Nhân Thiên phúc đức chi sự. Tăng Quảng bạch
ngôn, duy nhiên Thế Tôn, nguyện lạc dục văn. Phật cáo Tăng Quảng Bồ Tát, vị lai thế
trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát danh
giả, hoặc hợp chưởng giả, tán than giả, tác lễ giả, luyến mộ giả, thị nhân siêu việt tam
thập kiếp tội. Tăng Quảng, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, hoặc thải họa hình
tượng, hoặc thổ thạch, giao tất, kim ngân đồng thiết tác thử Bồ Tát, nhất chiêm nhất lễ
giả, thị nhân bách phản sinh ư tam thập tam thiên, vĩnh bất đọa ư ác đạo. Giả như Thiên
phúc tận cố, hạ sinh nhân gian, do vi quốc vương, bất thất đại lợi. Nhược hữu nữ nhân
yếm nữ nhân thân, tận tâm cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, họa tượng, cập thổ thạch giao
tất, đồng thiết đẳng tượng, như thị nhật nhật bất thối, thường dĩ hoa hương, ẩm thực, y
phục, tăng thải, tràng phan, tiền bảo vật đẳng cúng dường, thị thiện nữ nhân tận thử nhất
báo nữ thân, bách thiên vạn kiếp, cánh bất sinh hữu nữ nhân thế giới, hà huống phục thụ.
Trừ phi từ nguyện lực cố, yêu thụ nữ thân, độ thoát chúng sinh. Thừa tư cúng dường Địa
Tạng lực cố, cập công đức lực, bách thiên vạn kiếp bất thụ nữ thân. Phục thứ Tăng
Quảng, nhược hữu nữ nhân, yếm thị xú lậu, đa tật bệnh giả, đãn ư Địa Tạng tượng tiền
chí tâm chiêm lễ thực khoảnh chi gian, thị nhân thiên vạn kiếp trung sở thụ sinh thân,
tướng mạo viên mãn, thị xú lậu nữ nhân như bất yếm nữ thân, tức bách thiên vạn ức sinh
trung, thường vi Vương Nữ, nãi cập Vương Phi, Tể Phụ đại tính, Đại Trưởng Giả Nữ
đoan chính thụ sinh, chư tướng viên mãn, do chí tâm cố, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hoạch
phúc như thị. Phục thứ Tăng Quảng, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân năng đối Bồ
Tát tượng tiền tác chư kỹ nhạc, cập ca vịnh tán thán, hương hoa cúng dường, nãi chí
khuyến ư nhất nhân đa nhân, như thị đẳng bối, hiện tại thế trung, cập vị lai thế, thường
đắc bách thiên quỉ thần nhật dạ vệ hộ, bất lệnh ác sự triếp văn kỳ nhĩ, hà huống thân thụ
chư hoạnh. Phục thứ Tăng Quảng, vị lai thế trung nhược hữu ác nhân, cập ác thần, ác
quỉ, kiến hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân qui kính cúng dường, tán thán, chiêm lễ Địa
Tạng Bồ Tát hình tượng, hoặc vọng sinh ky hủy, báng vô công đức cập lợi ích sự, hoặc lộ
xỉ tiếu, hoặc bối diện phi, hoặc khuyến nhân cộng phi, hoặc nhất nhân phi, hoặc đa nhân
phi, nãi chí nhất niệm sinh báng hủy giả, như thị chư nhân, hiền kiếp thiên Phật diệt độ, ki
hủy chi báo, thượng tại A Tỳ địa ngục thụ cực trọng tội, quá thị kiếp dĩ, phương thụ ngã
quỉ, hựu kinh thiên kiếp phục thụ súc sinh, hựu kinh thiên kiếp phương đắc nhân thân.
Túng thụ nhân thân bần cùng hạ tiện, chư căn bất cụ, đa bị ác nghiệp lai kết kỳ tâm, bất
cửu chi gian, phục đọa ác đạo. Thị cố Tăng Quảng, ky hủy tha nhân cúng dường, thượng
hoạch thử báo, hà huống biệt sinh ác kiến hủy diệt. Phục thứ Tăng Quảng, nhược vị lai
thế hữu nam tử, nữ nhân cửu xứ sàng chẩm, cầu sinh cầu tử, liễu bất khả đắc, hoặc dạ
mộng ác quỉ, nãi cập gia thân, hoặc du hiểm đạo, hoặc đa yểm mị, cộng quỉ thần du, nhật
nguyệt tuế thâm, chuyển phục uông sái, miên trung khiếu khổ, thảm thê bất lạc giả. Thử
giai thị nghiệp đạo luận đối, vị định khinh trọng, hoặc nan xả thọ, hoặc bất đắc dũ. Nam
nữ tục nhãn bất biện thị sự. Đãn đương đối chư Phật, Bồ Tát tượng tiền, cao thanh
chuyển độc thử kinh nhất biến, hoặc thủ bệnh nhân khả ái chi vật, hoặc y phục bảo cụ,
trang viên xá trạch, đối bệnh nhân tiền cao thanh xướng ngôn, ngã mỗ giáp đẳng, vi thị
bệnh nhân, đối kinh tượng tiền xả chư đẳng vật, hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo
Phật Bồ Tát hình tượng, hoặc tạo tháp tự, hoặc nhiên dầu đăng, hoặc thí thường trụ. Như
thị tam bạch bệnh nhân, khiển lệnh văn tri, giả lệnh chư thức phân tán, chí khí tận giả, nãi
chí nhất nhật, nhị nhật, tam nhật, tứ nhật, chí thất nhật dĩ lai, đãn cao thanh bạch, cao
thanh đọc kinh, thị nhân mệnh chung chi hậu, túc ương trọng tội, chí vu vô gián tội vĩnh
đắc giải thoát. Sở thụ sinh xứ thường tri túc mệnh. Hà huống thiện nam tử, thiện nữ nhân
tự thư thử kinh, hoặc giáo nhân thư, hoặc tự tố họa Bồ Tát hình tượng, nãi chí giáo nhân
tố họa. Sở thụ quả báo tất hoạch đại lợi. Thị cố Tăng Quảng, nhược kiến hữu nhân tán
tụng thị kinh, nãi chí nhất niệm tán than thị kinh, hoặc cung kính giả, nhữ tu bách thiên
phương tiện, khuyến thị đẳng nhân, khuyến tâm mạc thối, năng đắc vị lai, hiện tại thiên
vạn ức bất khả tư nghị công đức. Phục thứ Tăng Quảng, nhược vị lai thế chư chúng sinh
đẳng, hoặc mộng hoặc mị kiến chư quỉ thấn nãi cập chư hình, hoặc bi hoặc đề, hoặc sầu
hoặc than, hoặc khủng hoặc bố, thử giai thị nhất sinh, thập sinh, bách thiên, thiên sinh
quá khứ, phụ mẫu, nam nữ , đệ muội, phu thê, quyến thuộc tại ư ác thú vị đắc xuất ly, vô
xứ hy vọng phúc lực cứu bạt, đương cáo túc thế cốt nhục, sử tác phương tiện, nguyện ly
ác đạo. Tăng Quảng, nhữ dĩ thần lực khiển thị quyến thuộc lệnh đối chư Phật Bồ Tát
tượng tiền, chí tâm tự độc thử kinh, hoặc thỉnh nhân độc, kỳ số tam biến hoặc thất biến,
như thị ác đạo quyến thuộc, kinh thanh tất thị biến số, đương đắc giải thoát. Nãi chí mộng
mị chi trung, vĩnh bất phục kiến. Phục thứ Tăng Quảng, nhựơc vị lai thế hữu chư hạ tiện
đẳng nhân, hoặc nô hoặc tì, nãi chí chư bất tự do chi nhân, giác tri túc nghiệp, yêu xám
hối giả, chí tâm chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, nãi chí nhất thất nhật trung niệm Bồ
Tát danh, khả mãn vạn biến, như thị đẳng nhân, tận thử báo hậu, thiên vạn sinh trung,
thường sinh tôn quý, cánh bất kinh tam ác đạo khổ. Phục thứ Tăng Quảng, nhược vị lai
thế trung, Diêm Phù Đề nội, Sát Lợi, Bà La Môn, Trưởng giả, Cư sĩ nhất thiết nhân đẳng,
cập dị tính chủng hữu tân sản giả hoặc nam hoặc nữ, thất nhật chi trung, tảo dữ độc tụng
thử bất tư nghị kinh điển, cánh vi niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn biến, thị tân sinh tử,
hoặc nam hoặc nữ, túc hữu ương báo, tiện đắc giải thoát, an lạc dị dưỡng, thọ mệnh
tăng trưởng, nhược thị thừa phúc sinh giả , chuyển tăng an lạc cập dữ thọ mệnh. Phục
thứ Tăng Quảng, nhược vị lai thế chúng sinh, ư nguyệt nhất nhật, bát nhật, thập tứ nhật,
thập ngũ nhật, thập bát nhật, nhị thập tam, nhị thập tứ, nhị thập bát, nhị thập cửu nhật, nãi
chí tam thập nhật, thị chư nhật đẳng, chư tội kết tập, định kỳ khinh trọng, Nam Diêm Phù
Đề chúng sinh, cử chỉ động niệm vô bất, vô bất thị tội. Hà huống tứ tình, sát hại, thiết đạo,
tà dâm, vọng ngữ, bách thiên tội trạng, năng ư thị thập trai nhật, đối Phật Bồ Tát, chư
Hiền Thánh tượng tiền, đọc thị kinh nhất biến. Đông, Tây, Nam, Bắc bách do tuần nội vô
chư tai nạn, đương thử cư gia, nhược trưởng nhược ấu, hiện tại vị lai, bách thiên tuế
trung, vĩnh ly ác thú. Năng ư thập trai nhật, mỗi chuyển nhất biến, hiện thế lệnh thử cư gia
vô chư hoạnh bệnh, y thực phong dật. Thị cố Tăng Quảng, đương tri Địa Tạng Bồ Tát
hữu như thị đẳng bất khả thuyết bách thiên vạn ức đại uy thần lực, lợi ích chi sự. Diêm
Phù chúng sinh, ư thử Đại Sĩ hữu đại nhân duyên, thị chư chúng sinh văn Bồ Tát danh,
kiến Bồ Tát tượng, nãi chí văn thị kinh tam tự ngũ tự, hoặc nhất kệ nhất cú giả, hiện tại
thù diệu an lạc, vị lai chi thế, bách thiên vạn sinh thường đắc đoan chính, sinh tôn quý gia.
Nhĩ thời Tăng Quảng Bồ Tát văn Phật Như Lai xưng dương tán thán Địa Tạng Bồ Tát dĩ,
hồ quị hợp chưởng, phục bạch Phật ngôn, Thế Tôn ngã cửu tri thị Đại Sĩ hữu như thử bất
khả tư nghị thần lực, cập đại thệ nguyện lực, vị vị lai chúng sinh khiển tri lợi ích cố vấn
Như Lai, tuy nhiên đỉnh thụ, Thế Tôn, đương hà danh thử kinh, sử ngã vân hà lưu bố.
Phật cáo Tăng Quảng, thử kinh hữu tam danh, nhất danh Địa Tạng Bản Nguyện, diệc
danh Địa Tạng Bản Hạnh, diệc danh Địa Tạng Bản Thệ Lực Kinh. Duyên thử Bồ Tát cửu
viễn kiếp lai, phát đại trọng nguyện lợi ích chúng sinh, thị cố nhữ đẳng, y nguyện lưu bố.
Tăng Quảng văn dĩ, hợp chưởng cung kính, tác lễ nhi thối.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH QUYỂN THƯỢNG.
LỢI ÍCH TỒN VONG PHẨM ĐỆ THẤT.
Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã quan thị Diêm Phù
chúng sinh, cử tâm động niệm vô phi thị tội, thoát hoạch thiện lợi, đa thối sơ tâm, nhược
ngộ ác duyên, niệm niệm tăng ích, thị đẳng bối nhân, như lý nê đồ, phụ ư trọng thạch,
tiệm khốn, tiệm trọng, túc bộ thâm thúy, nhược đắc ngộ tri thức thế dữ giảm phụ, hoặc
toàn dữ phụ, thị tri thức hữu đại lực cố, phúc tương phù trợ, khuyến lệnh lao cước,
nhược đạt bình địa, tu tỉnh ác lộ, vô tái kinh lịch. Thế Tôn, tập ác chúng sinh, tòng tiêm
hào gian, tiện chí vô lượng, thị chư chúng sinh hữu như thử tập, lâm mệnh chung thời,
phụ mẫu quyến thuộc, nghi vị thiết phúc, dĩ tư tiền lộ, hoặc huyền phan cái, cập nhiên du
đăng, hoặc chuyển độc tôn kinh, hoặc cúng dường Phật tượng, cập chư Thánh tượng
nãi chí niệm Phật Bồ Tát cập Bích Chi Phật danh tự, nhất danh nhất hiệu, lịch lâm chung
nhân nhĩ căn, hoặc văn tại bản thức, thị chư chúng sinh sở tạo ác nghiệp, kế kỳ cảm quả,
tất đọa ác thú. Duyên thị quyến thuộc vị lâm chung nhân tu thử Thánh nhân, như thị chúng
tội tất giai tiêu giảm. Nhược năng cánh vị thân tử chi hậu, thất thất nhật nội, quảng tạo
chúng thiện, năng sử thị chư chúng sinh vĩnh ly ác thú, đắc sinh nhân thiên, thụ tháng diệu
lạc. Hiện tại quyến thuộc lợi ích vô lượng. Thị cố ngã kim đối Phật Thế Tôn, cập Thiên
Long Bát Bộ, Nhân, Phi Nhân đẳng, khuyến ư Diêm Phù Đề chúng sinh lâm chung chi
nhật, thận vật sát hại cập tạo ác duyên, bái tế quỷ thần, cầu chư võng lượng. Hà dĩ cố.
Nhĩ sở sát hạ, nãi chí bái tế vô tiêm hào chi lực lợi ích vong nhân, đãn kết tội duyên
chuyển tăng thâm trọng. Giả sử lai thế hoặc hiện tại sinh đắc hoạch Thánh phận, sinh
Nhân Thiên trung, duyên thị lâm chung bị chư quyến thuộc tạo thị ác nhân, diệc lệnh thị
mệnh chung nhân ương lụy đối biện, vãn sinh thiện xứ. Hà huống lâm mệnh chung nhân
tại sinh vị tằng hữu thiếu thiện căn. Các cứ bản nghiệp, tự thụ ác thú, hà nhẫn quyến
thuộc cánh vi tăng nghiệp, thí như hữu nhân tòng viễn địa lai, tuyệt lương tam nhật, sở
phụ đảm vật, cưỡng quá bách cân, nhẫn ngộ lân nhân cánh phụ thiếu vật. Dĩ thị chi cố
chuyển phục khốn trọng. Thế Tôn, ngã quan Diêm Phù chúng sinh, đãn năng ư chư Phật
giáo trung, nãi chí thiện sự, nhất mao, nhất trích, nhất sa, nhất trần, như thị lợi ích, tất giai
tự đắc. Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Trưởng Giả, danh viết Đại Biện. Thị
Trưởng Giả cửu chứng vô sinh, hóa độ thập phương, hiện trưởng giả thân, hợp chưởng
cung kính, vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn, Đại Sĩ, thị Nam Phù Đề chúng sinh mệnh chung chi
hậu, tiểu đại quyến thuộc, vị tu công đức, nãi chí thiết trai, tạo chúng thiện nhân, thị mệnh
chung nhân đắc đại lợi ích, cập giải thoát bất. Địa Tạng đáp ngôn, Trưởng Giả, ngã kim
vị vị lai, hiện tại nhất thiết chúng sinh, thừa Phật uy lực lược thuyết thị sự. Trưởng giả, vị
lai hiện tại chư chúng sinh đẳng, lâm mệnh chung nhật, đắc văn nhất Phật danh, nhất Bồ
Tát danh, nhất Bích Chi Phật danh, bất vấn hữu tội vô tội, tất đắc giải thoát. Nhược hữu
nam tử, nữ nhân, tại sinh bất tu thiện nhân, đa tạo chúng tội, mệnh chung chi hậu, quyến
thuộc tiểu đại, vi tạo phúc lợi, nhất thiết Thánh sự, thất phần chi trung nhi nãi hoạch nhất,
lục phần công đức sinh giả tự lợi, dĩ thị chi cố, vị lai hiện tại, thiện nam nữ đẳng, văn kiện
tự tu, phân phân dĩ hoạch, vô thường đại quỉ, bất kỳ nhi đáo, minh minh du thần, vị tri tội
phúc, thất thất nhật nội, như si như lung, hoặc tại chư ti, biện luận nghiệp quả, phán định
chi hậu, cứ nghiệp thụ sinh, vị trắc chi gian, thiên vạn sầu khổ. Hà huống đoạ ư chư ác
thú đẳng, thị mệnh chung nhân, vị đắc thụ sinh, tại thất thất nhật nội, niệm niệm chi gian
vọng chư cốt nhục quyến thuộc dữ tạo phúc lực cứu bạt, quá thị nhật hậu, tùy nghiệp thụ
báo, nhược thị tội nhân động kinh thiên bách tuế trung, vô giải thoát nhật, nhược thị ngũ
vô gián tội, đọa đại địa ngục. Thiên kiếp vạn kiếp, vĩnh thụ chúng khổ. Phục thứ Trưởng
Giả, như thị tội nghiệp chúng sinh mệnh chung chi hậu, quyến thuộc cốt nhục vị tu doanh
trai, tư trợ nghiệp đạo. Vị trai thực cánh, cập doanh trai chi thứ, mễ cam thái diệp, bất khí
ư địa, nãi chí chư thực vị hiến Phật Tăng, vâậ đắc tiên thực, như hữu vi thực cập bất tinh
cần, thị mệnh chung nhân, liễu bất đắc lực, như tinh cần hộ tịnh phụng hiến Phật Tăng, thị
mệnh chung nhân, thất phần hoạch nhất, thị cố trưởng giả. Diêm Phù chúng sinh, nhược
năng vị kỳ phụ mẫu nãi chí quyến thuộc, mệnh chung chi hậu thiết trai cúng dường, chí
tâm cần khẩn, như thị chi nhân tồn vong hoạch lợi. Thuyết thị ngữ thời, Đao Lợi Thiên
Cung hữu thiên vạn ức na do tha Diêm Phù quỷ thần, tất phát vô lượng Bồ Đề chi tâm.
Đại Biện trưởng giả tác lễ nhi thối.
DIÊM LA VƯƠNG CHÚNG TÁN PHẨM ĐỆ BÁT.
Nhĩ thời Thiết Vi sơn nội, hữu vô lượng quỷ vương, dữ Diêm La Thiên Vương câu nghệ
Đao Lợi, lai đáo Phật sở. Sở vị Ác Độc quỷ vương, Đa Ác quỷ vương, Đại Tĩnh quỷ
vương, Bạch Hổ quỷ vương, Huyết Hổ quỷ vương, Xích Hổ quỷ vương, Tán Ương quỷ
vương, Phi thân quỷ vương, Điện Quang quỷ vương, Lang Nha quỷ vương, Thiên Nhãn
quỷ vương, Đạm Thú quỷ vương, Phụ Thạch quỷ vương, Chủ Háo quỷ vương, Chủ Họa
quỷ vương, Chủ Thực quỷ vương, Chủ Tài quỷ vương, Chủ Súc quỷ vương, Chủ Cầm
quỷ vương, Chủ Thú quỷ vương, Chủ Mị quỷ vương, Chủ Sản quỷ vương, Chủ Mệnh quỷ
vương, Chủ Tật quỷ vương, Chủ Hiểm quỷ vương, Tam mục quỷ vương, Tứ Mục quỷ
vương, Ngũ Mục quỷ vương, Kì Lợi Thất vương, Đại Kì Lợi Thất vương, Kì Lợi Xoa
vương, Đại Kì Lợi Xoa vương, A Na Da vương, Đại A Na da vương. Như thị đẳng đại
quỷ vương, các các dữ bách thiên chư tiểu quỷ vương tận cư Diêm Phù Đề, các hữu sở
chấp, các hữu sở chủ, thị chư quỷ vương dữ Diêm La Thiên Tử, thừa Phật uy thần, cập
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lực, câu nghệ Đao Lợi, tại nhất diện lập. Nhĩ thời, Diêm La
Thiên Tử hồ quỵ hợp chưởng bạch Phật ngôn, ngã đẳng kim giả dữ chư quỷ vương thừa
Phật uy thần cập Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lực phương đắc nghệ thử Đao Lợi đại hội,
diệc thị ngã đẳng hoạch thiện lợi cố, ngã kim hữu tiểu nghi sự cảm vấn Thế Tôn, duy
nguyện Thế Tôn từ bi tuyên thuyết. Phật cáo Diêm La Thiên Tử, tứ nhữ sở vấn, ngô vi
nhữ thuyết. Thị thời Diêm La Thiên Tử chiêm lễ Thế Tôn, cập hồi thị Địa Tạng Bồ Tát, nhi
bạch Phật ngôn, ngã quan Địa Tạng Bồ Tát tại lục đạo trung bách thiên phương tiện nhi
độ tội khổ chúng sinh, bất từ bì quyện, thị Đại Bồ Tát hữu như thị bất khả tư nghị thần
thong chi sự, nhiên chư chúng sinh thoát hoạch tội báo vị cửu chi gian, hựu đọa ác đạo.
Thế Tôn, thị Địa Tạng Bồ Tát ký hữu như thị bất khả tư nghị thần lực, vân hà chúng sinh
nhi bất y chỉ thiện đạo, vĩnh thủ giải thoát. Duy nguyện Thế Tôn vi ngã giải thuyết. Phật
cáo Diêm La Thiên Tử, Nam Diêm Phù Đề chúng sinh, kỳ tính cương cường, nan điệu,
nan phục, thị Đại Bồ Tát ư bách thiên kiếp, đầu đầu cứu bạt như thị chúng sinh, tảo lệnh
giải thoát, thị tội báo nhân nãi chí đọa đại ác thú. Bồ Tát dĩ phương tiện lực cứu xuất căn
bản nghiệp duyên, nhi khiển ngộ túc thế chi sự. Tự thị Diêm Phù chúng sinh kết ác tập
trọng, toàn xuất toàn nhập, lao tư Bồ Tát cửu kinh kiếp số nhi tác độ thoát. Thí như hữu
nhân mê thất bản gia, ngộ nhập hiểm đạo, kỳ hiểm đạo trung, đa chư dạ xoa, cập hổ lang
sư tử, ngoan xà phúc hiết, như thị mê nhân, tại hiểm đạo trung, tu du chi gian tức tao chư
độc. Hữu nhất tri thức đa giải đại thuật, thiện cấm thị độc, nãi cập dạ xoa chư ác độc
đẳng hốt phùng mê nhân dục tấn hiểm đạo, nhi ngữ chi ngôn, đốt tai nam tử, vị hà sự cố
nhi nhập thử lộ, hữu hà dị thuật năng chế chư độc. Thị mê lộ nhân hốt văn thị ngữ,
phương tri hiểm đạo, tức tiện thối bộ, cầu xuất thử lộ. Thị thiện tri thứcđề huề tiếp thủ,
dẫn xuất hiểm đạo, miễn chư ác độc, chí vu hảo đạo, lệnh đắc an lạc, nhi ngữ chi ngôn,
đốt tai, mê nhân, tự kim dĩ hậu, vật lý thị đạo, thử lộ nhập giả, tốt nan đắc xuất, phục tổn
tính mệnh. Thị mê lộ nhân diệc sinh cảm trọng, lâm biệt chi thời, tri thức hựu ngôn, nhược
kiến thân tri cập chư lộ nhân, nhược nam nhược nữ, ngôn ư thử lộ đa chư độc ác, tang
thất tính mệnh, vô lệnh thị chúng tự thủ kỳ tử. Thị cố Địa Tạng Bồ Tát cụ đại từ bi, cứu bạt
tội khổ chúng sinh, sinh thiên nhân trung, lệnh thụ diệu lạc, thị chư tội chúng tri nghiệp đạo
khổ, thoát đắc xuất ly, vĩnh bất tái lịch, như mê lộ nhân ngộ nhập hiểm đạo ngộ thiện tri
thức dẫn tiếp lệnh xuất, vĩnh bất phục nhập, phùng kiến tha nhân, phục khuyến mạc nhập,
tự ngôn nhân thị mê cố, đắc giải thoát cánh, cánh bất phục nhập. Nhược tái lý tiễn, do
thượng mê ngộ, bất giác cựu tằng sở lạc hiểm đạo, hoặc trí thất mệnh, như đọa ác thú.
Địa Tạng Bồ Tát phương tiện lực cố, sử lệnh giải thoát, sinh nhân thiên trung, toàn hựu
tái nhập, nhược nghiệp kết trọng, vĩnh xử địa ngục, vô giải thoát thời. Nhĩ thời Ác Độc quỷ
vương hợp chưởng cung kính, bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã đẳng chư quỷ vương, kỳ số
vô lượng tại Diêm Phù Đề, hoặc lợi ích nhân, hoặc tổn hại nhân, các các bất đồng. nhiên
thị nghiệp báo sử ngã quyến thuộc du hành thế giới, đa ác thiếu thiện, quá nhân gia đình,
hoặc thành ấp tụ lạc, trang viên phòng xá, hoặc hữu nam tử nữ nhân tu mao phát thiện
sự, nãi chí huyền nhất phan nhất cái, thiếu hương thiếu hoa cúng dường Phật tượng, cập
Bồ Tát tượng, hoặc chuyển đọc tôn kinh, thiêu hương cúng dường nhất cú nhất kệ, ngã
đẳng quỷ vương kính lễ thị nhân. Như quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật sắc chư tiểu quỷ,
các hữu đại lực, cập thổ địa phận, tiện lệnh vệ hộ, bất lệnh ác sự hoạnh sự, ác bệnh
hoạnh bệnh, nãi chí bất như ý sự, cận ư thử xá đẳng xứ, hà huống nhập môn. Phật tán
quỷ vương, thiện tai, thiện tai, nhữ đẳng cập dữ Diêm La năng như thị ủng hộ thiện nam
nữ đẳng, ngô diệc cáo Phạm Vương Đế Thích, lệnh vệ hộ nhữ.
Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất quỷ vương, danh viết Chủ Mệnh, bạch Phật ngôn,
Thế Tôn ngã bản nghiệp duyên, chủ Diêm Phù nhân mệnh, sinh thời tử thời, ngã giai chủ
chi. Tại ngã bản nguyện thậm dục lợi ích, tự thị chúng sinh bất hội ngã ý trí lệnh sinh tử
câu bất đắc an. Hà dĩ cố. Thị Diêm Phù Đề nhân, sơ sinh chi thời, bất vấn nam nữ, hoặc
dục sinh thời, đãn tác thiện sự, tăng ích xá trạch, tự kim thổ địa vô lượng hoan hỉ, ủng hộ
tử mẫu đắc đại an lạc, lợi ích quyến thuộc, hoặc dĩ sinh hạ, thận vật sát hại, thủ chư tiên vị
cung cấp sản mẫu, cập quảng tụ quyến thuộc, ẩm tửu, thực nhục, ca nhạc, huyền quản
năng lệnh tử mẫu bất đắc an lạc. Hà dĩ cố. thị sản nan thời, hữu vô số ác quỷ, cập võng
lượng, tinh mị, dục thực tinh huyết. Thị ngã tảo lệnh xá trạch thổ địa linh kỳ, hạ hộ tử mẫu,
sử lệnh an lạc. Nhi đắc lợi ích như thị chi nhân, kiến an lạc cố, tiện hợp thiết phúc, đáp
chư thổ địa, phiên vi sát hại, tập tụ quyến thuộc, dĩ thị chi cố. Phạm ương tự thụ, tử mẫu
câu tổn. Hựu Diêm Phù Đề lâm mệnh chung nhân, bất vấn thiện ác, ngã dục lệnh thị
mệnh chung chi nhân bất lạc ác đạo. Hà huống tự tu thiện căn tăng ngã lực cố. Thị Diêm
Phù Đề hành thiện chi nhân lâm mệnh chung thời, diệc hữu bách thiên ác đạo quỷ thần,
hoặc biến tác phụ mẫu, nãi chí chư quyến thuộc dẫn tiếp vong nhân lệnh lạc ác đạo, hà
huống bản tạo ác giả. Thế Tôn, như thị Diêm Phù Đề nam tử nữ nhân lâm mệnh chung
thời, thần thức hôn muội, bất biện thiện ác, nãi chí nhãn nhĩ cánh vô kiến văn, thị chư
quyến thuộc đương tu thiết đại cúng dường, chuyển độc tôn kinh, niệm Phật Bồ Tát danh
hiệu, như thị thiện duyên năng lệnh vong giả ly chư ác độc, chư ma quỷ thần tất giai thối
tán. Thế Tôn, nhất thiết chúng sinh lâm mệnh chung thời, nhược đắc văn nhất Phật danh,
nhất Bồ Tát danh, hoặc Đại Thừa kinh điển, nhất cú nhất kệ, ngã quan như thị bối nhân,
trừ ngũ vô gián sát hại chi tội, tiểu tiểu ác nghiệp, hợp đọa ác thú giả, tầm tức giải thoát.
Phật cáo Chủ Mệnh quỷ vương, nhữ đại từ cố, năng phát như thị đại nguyện, ư sinh tử
trung hộ chư chúng sinh. Nhược vị lai thế trung hữu nam tử nữ nhân chí sinh tử thời, nhữ
mạc thối thị nguyện, tổng lệnh giải thoát, vĩnh đắc an lạc. Quỉ vương bạch Phật ngôn,
nguyện bất hữu lự, ngã tất thị hình, niệm niệm ủng hộ Diêm Phù chúng sinh, sinh thời tử
thời, câu đắc an lạc. Đãn nguyện chư chúng sinh ư sinh tử thời tín thụ ngã ngữ vô bất giải
thoát, hoạch đại lợi ích. Nhĩ thời Phật cáo Địa Tạng Bồ Tát, thị đại quỷ vương Chủ Mệnh
giả dĩ tằng kinh bách thiên sinh tác đại quỷ vương, ư sinh tử trung ủng hộ chúng sinh, thị
Đại Sĩ từ bi nguyện cố. Hiện đại quỷ thân thực phi quỷ dã. Cước hậu quá nhất bách thất
thập kiếp, đương đắc thành Phật, hiệu viết Vô Tướng Như Lai, kiếp danh An Lạc, thế
giới danh Tịnh Trụ, kỳ Phật thọ mệnh bất khả tư nghị kiếp. Địa Tạng, thị đại quỷ vương,
kỳ sự như thị bất khả tư nghị, sở độ thiên nhân diệc bất khả hạn lượng.
XỨNG PHẬT DANH HIỆU PHẨM ĐỆ CỬU.
Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã kim vị vị lai chúng
sinh diễn lợi ích sự, ư sinh tử trung đắc đại lợi ích. Duy nguyện Thế Tôn thính ngã thuyết
chi. Phật cáo Địa Tạng Bồ Tát, nhữ kim dục hứng từ bi cứu bạt nhất thiết tội khổ lục đạo
chúng sinh, diễn bất tư nghị sự, kim chính thị thời, duy đương tốc thuyết. Ngô tức Niết
Bàn sử nhữ tảo tất thị nguyện, ngô diệc vô ưu hiện tại vị lai nhất thiết chúng sinh. Địa
Tạng Bồ Tát bạch Phật ngôn, quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, hữu Phật xuất thế, hiệu
Vô Biên Thân Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh tạm sinh cung kính,
tức đắc siêu việt tứ thập kiếp sinh tử trọng tội, hà huống tố họa hình tượng, cúng dường
tán than, kỳ nhân hoạch phúc vô lượng vô biên. Hựu ư quá khứ, hằng hà sa số kiếp, hữu
Phật xuất thế, hiệu Bảo Tính Như Lai. Nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị danh Phật, nhất
đạn chỉ khoảnh, phát tâm quy y, thị nhân ư vô thượng đạo, vĩnh bất thối chuyển. Hựu ư
quá khứ hữu Phật xuất thế, hiệu Ba Đầu Ma Thắng Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân
văn thị Phật danh lịch ư nhĩ căn, thị nhân đương đắc thiên phản sinh ư lục dục thiên trung,
hà huống chí tâm xưng niệm. Hựu ư quá khứ bất khả thuyết, bất khả thuyết a tăng kỳ
kiếp, hữu Phật xuất thế, hiệu Sư Tử Hống Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị
danh Phật, nhất niệm quy y, thị nhân đắc ngộ vô lượng chư Phật ma đỉnh thụ ký. Hựu ư
quá khứ hữu Phật xuất thế, hiệu Câu Lưu Tôn Phật, nhược hữu nam tử nữ nhân, văn thị
Phật danh, chí tâm chiêm lễ, hoặc phục tán than, thị nhân ư Hiền kiếp thiên Phật hội trung
vi đại Phạm Vương, đắc thụ thượng ký. Hựu ư quá khứ hữu Phật xuất thế, hiệu Tỳ Bà
Thi, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh, vĩnh bất đọa ác đạo, thường sinh
nhân thiên, thụ thắng diệu lạc. Hựu ư quá khứ, vô lượng vô số, hằng hà sa kiếp,hữu Phật
xuất thế, hiệu Bảo Thắng Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh, tất
cánh bất đọa ác đạo, thường tại Thiên thượng thụ thắng diệu lạc. Hựu ư quá khứ hữu
Phật xuất thế, hiệu Bảo Tướng Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh,
sinh cung kính tâm, thị nhân bất cửu đắc A La Hán quả. Hựu ư quá khứ, vô lượng a tăng
kỳ kiếp, hữu Phật xuất thế, hiệu Cà Sa Tràng Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn
thị Phật danh giả, siêu nhất bách đại kiếp sinh tử chi tội. Hựu quá khứ hữu Phật xuất thế,
hiệu Đại Thông Sơn Vương Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh giả,
thị nhân đắc ngộ hằng hà sa Phật quảng vi thuyết pháp, tất thành Bồ Đề. Hựu ư quá khứ
hữu Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí
Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thanh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện
Phật, hữu như thị đẳng bất khả thuyết Phật. Thế Tôn, hiện tại vị lai nhất thiết chúng sinh,
nhược Thiên nhược Nhân, nhược nam nhược nữ, đãn niệm đắc nhất Phật danh hiệu,
công đức vô lượng, hà huống đa danh, thị chúng sinh đẳng, sinh thời tử thời, tự đắc đại
lợi, chung bất đọa ác đạo. Nhược hữu lâm mệnh chung nhân, gia chung quyến thuộc, nãi
chí nhất nhân, vị thị bệnh nhân cao thanh niệm nhất danh Phật, thị mệnh chung nhân, trừ
ngũ vô gián tội, dư nghiệp báo đẳng tất đắc tiêu diệt.Thị ngũ vô gián tội tuy chí cực trọng,
động kinh ức kiếp, liễu bất đắc xuất, thừa tư lâm mệnh chung thời. Tha nhân vị kỳ xưng
niệm Phật danh, ư thị tội trung diệc tiệm tiêu diệt, hà huống chúng sinh tự xưng tự niệm,
hoạch phúc vô lượng, diệt vô lượng tội.
GIÁO LƯỢNG BỐ THÍ CÔNG ĐỨC DUYÊN PHẨM ĐỆ THẬP.
Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, thừa Phật uy thần, tòng tọa nhi khởi, hồ quỵ hợp
chưởng bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã quan nghiệp đạo chúng sinh, giáo lượng bố thí
hữu khinh hữu trọng, hữu nhất sinh thụ phúc, hữu thập sinh thụ phúc, hữu bách sinh thiên
sinh thụ đại phúc lợi giả, thị sự vân hà. Duy nguyện Thế Tôn vị ngã thuyết chi. Nhĩ thời,
Phật cáo Địa Tạng Bồ Tát, ngô kim ư Đao Lợi Thiên Cung nhất thiết chúng hội, thuyết
Diêm Phù Đề bố thí giáo lượng công đức khinh trọng, nhữ đương đế thính, ngô vị nhữ
thuyết. Địa Tạng bạch Phật ngôn, ngã nghi thị sự, nguyện lạc dục văn. Phật cáo Địa Tạng
Bồ Tát, Nam Diêm Phù Đề hữu chư quốc vương, Tể Phụ, Đại Thần, Đại Trưởng Giả,
Đại Sát Lợi, Đại Bà La Môn đẳng, nhược ngộ tối hạ bần cùng, nãi chí lung tàn, âm á,
lung si vô mục, như thị chủng chủng bất hoàn cụ giả. Thị đại quốc vương đẳng dục bố thí
thời, nhược năng cụ đại từ bi hạ tâm hàm tiếu, thân thủ biến bố thí, hoặc sử nhân thí,
nhuyễn ngôn uý dụ. Thị quốc vương đẳng sở hoạch phúc lợi, như bố thí bách hằng hà sa
Phật công đức chi lợi. Hà dĩ cố, duyên thị quốc vương đẳng, ư thị tối bần cùng bối, cập
bất hoàn cụ giả phát đại từ tâm, thị cố phúc lợi hữu như thử báo, bách thiên sinh trung,
thường đắc thất bảo cụ túc, hà huống y phục thụ dụng. Phục thứ, Địa Tạng nhược vị lai
thế hữu chư quốc vương, chí bà la môn đẳng, ngộ Phật tháp tự, hoặc Phật hình tượng,
nãi chí Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật tượng, cung tự doanh bạn, cúng dường bố thí,
thị quốc vương đẳng đương đắc tam kiếp vi Đế Thích thân, thụ tắng diệu lạc, nhược
năng dĩ thử bố thí phúc lợi, hồi hướng pháp giới, thị đại quốc vương đẳng, ư thập kiếp
trung, thị quốc vương thường vi Đại Phạm Thiên Vương. Phục thứ Địa Tạng, nhược vị
lai thế, hữu chư quốc vương, chí bà la môn đẳng, ngộ tiên Phật tháp miếu hoặc chí kinh
tượng, huỷ hoại, phá lạc, cập năng phát tâm tu bổ, thị quốc vương đẳng, hoặc tự doanh
bạn hoặc khuyến tha nhân, nãi chí bách thiên nhân đẳng bố thí kết duyên, thị quốc vương
đẳng, bách thiên sinh trung thường vi Chuyển Luân Vương thân, như thị tha nhân đồng
bố thí giả, bách thiên sinh trung thường vi tiểu quốc vương thân, cánh năng ư tháp miếu
tiền, phát hồi hướng tâm như thị quốc vương nãi cập chư nhân, tận thành Phật đạo, dĩ
thử quả báo vô lượng vô biên. Phục thứ Địa Tạng, vị lai thế trung, hữu chư quốc vương,
cập bà la môn đẳng, kiến chư lão bệnh cập sinh sản phụ nữ, nhược nhất niệm gian, cụ
đại từ tâm, bố thí y dược, ẩm thực, ngọa cụ, sử lệnh an lạc, như thị phúc lợi tối bất tư
nghị, nhất bách kiếp trung thường vi Tịnh Cư Thiên Chủ, nhị bách kiếp trung thường vi
Lục Dục Thiên Chủ, tất cánh thành Phật, vĩnh bất đọa ác đạo, nãi chí bách thiên sinh trung
nhĩ bất văn khổ thanh. Phục thứ Địa Tạng, nhược vị lai thế trung hữu chư quốc vương bà
la môn đẳng năng tác như thị bố thí hoạch phúc vô lượng, cánh năng hồi hướng, bất vấn
đa thiếu, tất cánh thành Phật, hà huống Thích, Phạm, Chuyển Luân chi báo. Thị cố Địa
Tạng, tằng khuyến chúng sinh đương như thị học. Phục thứ Địa Tạng, vị lai thế trung,
nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư Phật Pháp trung chủng thiểu thiện căn, mao phát
sa trần đẳng hứa, sở thụ phúc lợi bất khả vi dụ. Phục thứ Địa Tạng, vị lai thế trung,
nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngộ Phật hình tượng, Bồ Tát hình tượng, Bích
Chi Phật hình tượng, Chuyển Luân Vương hình tượng, bố thí cúng dường, đắc vô lượng
phúc, thường tại Nhân Thiên thụ thắng diệu lạc. Nhược năng hồi hướng Pháp giới, thị
nhân phúc lợi bất khả vi dụ. Phục thứ Địa Tạng, vị lai thế trung nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân ngộ Đại Thừa kinh điển, hoặc thính văn nhất kệ nhất cú, phát ân trọng tâm,
tán thán cung kính, bố thí cúng dường, thị nhân hoạch đại quả báo, vô lượng vô biên.
Nhược năng hồi hướng Pháp giới, kỳ phúc bất khả vị dụ. Phục thứ Địa Tạng, nhược vị
lai thế trung hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân ngộ Phật tháp tự, Đại Thừa kinh điển, tân
giả bố thí cúng dường, chiêm lễ tán than, cung kính hợp chưởng, nhược ngộ cố giả hoặc
huỷ hoại giả, tu bổ doanh lý, hoặc độc phát tâm, hoặc khuyến đa nhân đồng cộng phát
tâm, như thị đẳng bối, tam thập sinh trung, thường vi chư tiểu quốc vương, đàn việt chi
nhân, thường vi Luân Vương, hoàn dĩ thiện pháp giáo hoá chư tiểu quốc vương. Phục
thứ Địa Tạng, vị lai thế trung nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, ư Phật Pháp trung
sở chủng thiện căn, hoặc bố thí cúng dường, hoặc tu bổ tháp tự, trang lý kinh điển, nãi chí
nhất mao, nhất trần, nhất sa, nhất tích, như thị thiện sự, đãn năng hồi hướng Pháp giới,
thị nhân công đức, bách thiên sinh trung thụ thượng diệu lạc. Như đãn hồi hướng tự gia
quyến thuộc, hoặc tự thân lợi ích như thị chi quả, tức tam sinh thụ lạc, xả nhất đắc vạn
báo, thị cố Địa Tạng, bố thí nhân duyên, kỳ sự như thị
ĐỊA THẦN HỘ PHÁP PHẨM ĐỆ THẬP NHẤT.
Nhĩ thời kiên lao Địa Thần bạch Phật ngôn, Thế Tôn ngã tong tích lai chiêm thị đỉnh lễ vô
lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, giai thị đại bất khả tư nghị thần thong trí tuệ, quảng độ chúng
sinh, thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ư chư Bồ Tát thệ nguyện thâm trọng. Thế Tôn, thị
Địa Tạng Bồ Tát, ư Diêm Phù Đề hữu đại nhân duyên, như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan
Âm, Di Lặc, diệc hóa bách thiên thân hình độ ư lục đạo, kỳ nguyện thượng hữu tất cánh.
Thị Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa lục đạo nhất thiết chúng sinh, sở phát thệ nguyện kiếp số,
như thiên bách ức hằng hà sa. Ngã quan vị lai cập hiện tại chúng sinh, ư sở trụ xứ, ư
nam phương thanh khiết chi địa, dĩ thổ thạch trúc mộc tác kỳ kham thất, thị trung năng tố
họa, nãi chí kim ngân đồng thiết tác Địa Tạng hình tượng, thiêu hương cúng dường,
chiêm lễ tán thán, thị nhân cư xứ tức đắc thập chủng lợi ích. Hà đẳng vi thập, nhất giả, thổ
địa phong nhưỡng; nhị giả, gia trạch vĩnh an; tam giả, tiên vong sinh thiên; tứ giả, hiện tồn
ích thọ; ngũ giả, sở cầu toại ý; lục giả, vô thủy hỏa tai; thất giả, hư háo tịch trừ; bát giả, đỗ
tuyệt ác mộng; cửu giả, xuất nhập Thần hộ,; thập giả, đa ngộ Thánh nhân. Thế Tôn, vị lai
thế trung, cập hiện tại chúng sinh nhược năng ư sở trụ xứ phương diện, tác như thị cúng
dường, đác như thị lợi ích. Phục bạch Phật ngôn, Thế Tôn, vị lai thế trung nhược hữu
thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư sở trụ xứ, hữu thử kinh điển, cập Bồ Tát tượng, thị nhân
cánh năng chuyển độc kinh điển, cúng dường Bồ Tát, ngã thường nhật dạ dĩ bản thần lực
vệ hộ thị nhân, nãi chí thuỷ hỏa đạo tặc, đại hoạnh tiểu hoạnh, nhất thiết ác sự tất giai tiêu
diệt. Phật cáo Kiên Lao Địa Thần, nhữ đại thần lực, chư thần thiếu cập, hà dĩ cố. Diêm
Phù Thổ Địa tất mông nhữ hộ, nãi chí thảo mộc sa thạch, đạo ma trúc vi, cốc mễ bảo cụ,
tòng địa nhi hữu, giai nhân nhữ lực, hựu thường xưng dương Địa Tạng Bồ Tát lợi ích chi
sự. Nhữ chi công đức, cập dĩ thần thông bách thiên bội ư thường phân địa thần. Nhược
vị lai thế trung, hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, cúng dường Bồ Tát, cập chuyển độc thị
kinh, đãn y Địa Tạng Bản Nguyện Kinh nhất sự tu hành giả, nhữ dĩ bản thần lực nhi ủng
hộ chi, vật lệnh nhất thiết tai hại, cập bất như ý sự triếp văn ư nhĩ, hà huống lệnh thụ. Phi
đãn nhữ độc hộ thị nhân cố, diệc hữu Thích Phạm quyến thuộc, ủng hộ thị nhân. Hà cố
đắc như thị Thánh Hiền ủng hộ, giai do chiêm lễ Địa Tạng hình tượng, cập chuyển độc thị
Bản Nguyện Kinh cố, tự nhiên tất cánh xuất ly khổ hải, chứng Niết Bàn lạc, dĩ thị chi cố
đắc đại ủng hộ.
KIẾN VĂN LỢI ÍCH PHẨM ĐỆ THẬP NHỊ.
Nhĩ thời Thế Tôn tòng đỉnh môn thượng phóng bách thiên vạn ức Đại Hào Tướng Quang.
Sở vị Bạch Hào Tướng Quang, Đại Bạch Hào Tướng Quang, Đoan Hào Tướng Quang,
Đại Đoan Hào Tướng Quang, Ngọc Hào Tướng Quang, Đại Ngọc Hào Tướng Quang,
Tử Hào Tướng Quang, Đại Tử Hào Tướng Quang, Thanh Hào Tướng Quang, Đại Thanh
Hào Tướng Quang, Bích Hào Tướng Quang, Đại Bích Hào Tướng Quang, Hồng Hào
Tướng Quang, Đại Hồng Hào Tướng Quang, Lục Hào Tướng Quang, Đại Lục Hào
Tướng Quang, Kim Hào Tướng Quang, Đại Kim Hào Tướng Quang, Khánh Vân Hào
Tướng Quang, Đại Khánh Vân Hào Tướng Quang, Thiên Luân Hào Quang, Đại Thiên
Luân Hào Quang, Bảo Luân Hào Quang, Đại Bảo Luân Hào Quang, Nhật Luân Hào
Quang, Đại Nhật Luân Hào Quang, Nguyệt Luân Hào Quang, Đại Nguyệt Luân Hào
Quang, Cung Điện Hào Quang, Đại Cung Điện Hào Quang, Hải Vân Hào Quang, Đại
Hải Vân Hào Quang. Ư đỉnh môn thượng phóng như thị đẳng Hào Tướng Quang dĩ, xuất
vi diệu âm cáo chư đại chúng, thiên long bát bộ, nhân, phi nhân đẳng, thính ngô kim nhật
ư Đao Lợi Thiên Cung, xưng dương, tán thán Địa Tạng Bồ Tát ư nhân thiên trung, lợi ích
đẳng sự, bất tư nghị sự, siêu Thánh nhân sự, chứng thập địa sự, tất cánh bất thối A Nậu
Đa La Tam Niệu Tam Bồ Đề sự. Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Bồ Tát Ma Ha
Tát, danh Quan Thế Âm, tòng tọa nhi khởi, hồ qụy hợp chưởng bạch Phật ngôn, Thế Tôn,
thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát cụ đại từ bi, lân mẫn tội khổ chúng sinh, ư thiên vạn ức
thế giới hóa thiên vạn ức thân, sở hữu công đức, cập bất tư nghị uy thần chi lực. Ngã văn
Thế Tôn, dữ thập phương vô luợng chư Phật dị khẩu đồng âm tán than Địa Tạng Bồ Tát
vân, chính sử quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật thuyết kỳ công đức do bất năng tận,
hướng giả hựu mông Thế Tôn tằng cáo đại chúng, dục xưng dương Địa Tạng lợi ích
đẳng sự. Duy nguyện Thế Tôn vị hiện tại vị lai nhất thiết chúng sinh xưng dương Địa
Tạng bất tư nghị sự, lệnh Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ hoạch phúc. Phật cáo Quan Thế
Âm Bồ Tát, nhữ ư Ta Bà thế giới hữu đại nhân duyên, nhược thiên, nhược long, nhược
nam nhược nữ, nhược thần nhược quỷ, nãi chí lục đạo tội khổ chúng sinh, văn nhữ danh
giả, kiến nhữ hình giả, luyến mộ nhữ giả, tán thán nhữ giả chúng sinh, ư Vô Thượng Đạo
tất bất thối chuyển, thường sinh nhân thiên, cụ thụ diệu lạc. Nhân quả tương thục, ngộ
Phật thụ ký. Nhữ kim cụ đại từ bi liên mẫn chúng sinh, cập Thiên Long Bát Bộ, thính ngô
tuyên thuyết Địa Tạng Bồ Tát bất tư nghị lợi ích chi sự. Nhữ đương đế thính, ngô kim
thuyết chi. Quan Thế Âm ngôn, duy nhiên Thế Tôn, nguyện lạc dục văn. Phật cáo Quan
Thế Âm Bồ Tát, vị lai hiện tại chư thế giới trung, hữu thiên nhân thụ thiên phúc tận, hữu
ngũ suy tướng hiện, hoặc hữu đọa ư ác đạo chi giả. Như thị thiên nhân, nhược nam,
nhược nữ, đương hiện tướng thời, hoặc kiến Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, hoặc văn Địa
Tạng Bồ Tát danh, nhất chiêm, nhất lễ, thị chư thiên nhân chuyển tăng thiên phúc, thụ đại
khoái lạc, vĩnh bất đọa tam ác đạo báo. Hà huống kiến văn Bồ Tát, dĩ chư hương hoa, y
phục, ẩm thực, bảo cụ anh lạc, bố thí cúng dường, sở hoạch công đức phúc lợi, vô
lượng vô biên. Phục thứ Quan Thế Âm, nhược vị lai hiện tại chư thế giới trung, lục đạo
chúng sinh lâm mệnh chung thời đắc văn Địa Tạng Bồ Tát danh, nhất thanh lịch nhĩ căn
giả, thị chư chúng sinh vĩnh bất lịch tam ác đạo khổ. Hà huống lâm mệnh chung thời, phụ
mẫu quyến thuộc, tương thị mệnh chung nhân xả trạch tài vật, bảo cụ, y phục tố họa Địa
Tạng hình tượng, hoặc sử bệnh nhân vị chung chi thời, nhãn nhĩ kiến văn, tri đạo quyến
thuộc tương xả trạch bảo cụ đẳng, vị kỳ tự thân tố họa Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, thị
nhân nhược thị nghiệp báo hợp thụ trọng bệnh giả, thừa tư công đức, tầm tức trừ dũ, thọ
mệnh tăng ích. Thị nhân nhược thị nghiệp báo mệnh tận, ưng hữu nhất thiết tội chướng
nghiệp chướng hợp đọa ác thú giả, thừa tư công đức, mệnh chung chi hậu, tức sinh
nhân thiên thụ thắng diệu lạc, nhất thiết tội chướng tất giai tiêu diệt. Phục thứ Quan Thế
Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế giới, hữu nam tử nữ nhân, hoặc nhũ bộ thời, hoặc tam tuế,
ngũ tuế, thập tuế dĩ hạ, vong thất phụ mẫu, nãi cập vong thất huynh đệ, tỉ muội, thị nhân
niên ký trưởng đại, tư ức phụ mẫu, cập chư quyến thuộc, bất tri lạc tại hà thú, sinh hà thế
giới, sinh hà thiên trung. Thị nhân nhược năng tố họa Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, nãi chí
văn danh, nhất chiêm nhất lễ, nhất nhật chí thất nhật, mạc thối sơ tâm, văn danh, kiến hình,
chiêm lễ, cúng dường, thị nhân quyến thuộc, giả nhân nghiệp cố, đọa ác thú giả, kế
đương kiếp số, thừa tư nam nữ, huynh đệ, tỉ muội tố họa Địa Tạng hình tượng chiêm lễ
công đức, tầm tức giải thoát, sinh nhân thiên trung thụ thắng diệu lạc giả. Thị nhân quyến
thuộc như hữu phúc lực dĩ sinh thiên trung thụ thắng diệu lạc giả tức thừa tư công đức
chuyển tư Thánh nhân, thụ vô lượng lạc. Thị nhân cánh năng tam thất nhật trung, nhất tâm
chiêm lễ Địa Tạng hình tượng, niệm kỳ danh tự, mãn ư vạn biến, đương đắc Bồ Tát hiện
vô biên thân, cụ cáo thị nhân, quyến thuộc sinh giới, hoặc ư mộng trung, Bồ Tát hiện đại
thần lực thân lĩnh thị nhân, ư chư thế giới kiên chư quyến thuộc. Cánh năng mỗi nhật
niệm Bồ Tát danh thiên biến, chí vu thiên nhật, thị nhân đương đắc Bồ Tát khiển sở tại
Thổ Địa Quỷ Thần chung thân vệ hộ, hiện thế y thực phong dật, vô chư tật khổ, nãi chí
hoạnh sự bất nhập kỳ môn, hà huống cập thân. Thị nhân tất cánh đắc Bồ Tát ma đỉnh thụ
ký. Phục thứ Quan Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục
phát quảng đại từ tâm, cứu độ nhất thiết chúng sinh giả, dục tu Vô Thượng Bồ Đề giả,
dục xuất ly tam giới giả, thị chư nhân đẳng kiến Địa Tạng hình tượng, cập văn danh giả,
chí tâm quy y, hoặc dĩ hương hoa, y phục, bảo cụ, ẩm thực cúng dường, chiêm lễ, thị
thiện nam, nữ đẳng sở nguyện tốc thành, vĩnh vô chướng ngại. Phục thứ Quan Thế Âm,
nhược vị lai thế hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục cầu hiện tại, vị lai bách thiên vạn
ứcđẳng nguyện, bách thiên vạn ức đẳng sự. Đãn đương quy y, chiêm lễ, cúng dường tán
than, Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, như thị sở nguyện, sở cầu tất giai thành tựu. Phục
nguyện Địa Tạng Bồ Tát cụ đại từ bi, vĩnh ủng hộ ngã, thị nhân ư thùy mộng trung tức đắc
Bồ Tát ma đỉnh thụ ký. Phục thứ Quan Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế, thiện nam tử
thiện nữ nhân, ư Đại Thừa kinh điển, thâm sinh trân trọng, phát bất tư nghị tâm, dục độc
dục tụng. Túng ngộ minh sư, giáo thị lãnh thục, toàn đắc toàn vong, động kinh niên
nguyệt, bất năng độc tụng, thị thiện nam tử đẳng hữu túc nghiệp chướng, vị đắc tiêu trừ,
cố ư Đại Thừa kinh điển, vô độc tụng tính, như thị chi nhân văn Địa Tạng Bồ Tát danh,
kiến Địa Tạng Bồ Tát tượng, cụ dĩ bản tâm cung kính trần bạch, cánh dĩ hương hoa, y
thực ẩm thực, nhất thiết ngoạn cụ cúng dường Bồ Tát, dĩ tịnh thủy nhất trản, kinh nhất
nhật, nhất dạ, an Bồ Tát tiền, nhiên hậu hợp chưởng thỉnh phục, hồi thủ hướng Nam, lâm
nhập khẩu thời, chí tâm trịnh trọng, phục thủy ký tất. Thận ngũ tân tửu nhục, tà dâm vọng
ngữ, cập chư sát hại. Nhất thất nhật hoặc tam thất nhật, thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư
thùy mộng trung, cụ kiến Địa Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân, ư thị nhân xứ, thụ quán đỉnh
thủy, kỳ nhân mộng giác, tức hoạch thông minh, ưng thị kinh điển, nhất lịch nhĩ căn, tức
đương vĩnh ký, cánh bất vong thất nhất cú nhất kệ. Phục thứ Quan Thế Âm Bồ Tát, nhược
vị lai thế hữu chư nhân đẳng, y thực bất túc, cầu giả quai nguyện, hoặc đa bệnh tật, hoặc
đa hung suy, gia trạch bất an, quyến thuộc phân tán, hoặc chư hoạnh sự đa lai ngỗ thân.
Thùy mộng chi gian đa hữu kinh bố. Như thị đẳng nhân, văn Địa Tạng danh, kiến Địa
Tạng hình chí tâm cung kính, niệm mãn vạn biến, thị chư bất như ý sự, tiệm tiệm tiêu diệt,
tức đắc an lạc, y thực phong dật, nãi chí ư thùy mộng trung tất giai an lạc. Phục tứ Quan
Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế, hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, hoặc nhân trị sinh,
hoặc nhân công tư, hoặc nhân sinh tử, hoặc nhân cấp sự, nhập sơn lâm trung, quá độ hà
hải, nãi cập đại thủy, hoặc kinh hiểm đạo, thị nhân tiên đương niệm Địa Tạng Bồ Tát
danh vạn biến, sở quá thổ địa, qủy thần vệ hộ, hành trụ tọa ngọa, vĩnh bảo an lạc, nãi chí
phùng ư hổ lang sư tử, nhất thiết độc hại bất năng tổn chi. Phật cáo Quan Thế Âm Bồ
Tát, thị Địa Tạng Bồ Tát ư Diêm Phù Đề hữu đại nhân duyên, nhược thuyết ư chư chúng
sinh kiến văn lợi ích đẳng sự, bách thiên kiếp trung thuyết bất năng tận. Thị cố Quan Thế
Âm, nhữ dĩ thần lực lưu bố thị kinh, lệnh Ta Bà thế giới chúng sinh bách thiên vạn kiếp
vĩnh thụ an lạc. Nhĩ thời Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn
Ngô quan Địa Tạng uy thần lực
Hằng hà sa kiếp thuyết nan tận
Kiến văn chiêm lễ nhất niệm gian
Lợi ích nhân thiên vô lượng sự
Nhược nam, nhược nữ, nhược long thần
Báo tận ưng đương đọa ác đạo
Chí tâm qui y Đại Sĩ thân
Thọ mệnh chuyển tăng trừ tội chướng
Thiếu thất phụ mẫu ân ái giả
Vị tri hồn thần tại hà thú
Huynh đệ tỉ muội cập chư thân
Sinh trưởng dĩ lai giai bất thức
Hoặc tố hoặc họa Đại Sĩ thân
Bi luyến, chiêm lễ bất tạm xả
Tam thất nhật trung niệm kỳ danh
Bồ Tát đương hiện vô biên thể
Thị kỳ quyến thuộc sở sinh giới
Túng đọa ác thú tầm xuất ly
Nhược năng bất thối thị sơ tâm
Tức hoạch ma đỉnh thụ Thánh ký
Dục tu Vô Thượng Bồ Đề giả
Nãi chí xuất ly tam giới khổ
Thị nhân ký phát đại bi tâm
Tiên đương chiêm lễ Đại Sĩ tượng
Nhất thiết chư nguyện tốc thành tựu
Vĩnh vô nghiệp chướng năng già chỉ
Hữu nhân phát tâm niệm kinh điển
Dục độ quần mê siêu bỉ ngạn
Tuy lập thị nguyện bất tư nghị
Toàn độc toàn vong đa phế thất
Tư nhân hữu nghiệp chướng hoặc cố
Ư Đại Thừa kinh bất năng ký
Cúng dường Địa Tạng dĩ hương hoa
Y phục ẩm thực chư ngoạn cụ
Dĩ tịnh thủy an Đại Sĩ tiền
Nhất nhật, nhất dạ cầu phục chi
Phát ân trọng tâm thận ngũ tân
Tửu nhục tà dâm cập vọng ngữ
Tam thất nhật nội vật sát hại
Chí tâm tư niệm Đại Sĩ danh
Tức ư mộng trung kiến vô biên
Giác lai tiện đắc lợi căn nhĩ
Ưng thị kinh giáo lịch nhĩ văn
Thiên vạn sinh trung vĩnh bất vong
Dĩ thị Đại Sĩ bất tư nghị
Năng sử tư nhân hoạch thử tuệ
Bần cùng chúng sinh cập tật bệnh
Gia trạch hung suy, quyến thuộc ly
Thùy mộng chi trung tất bất an
Cầu giả quai vi vô xưng toại
Chí tâm chiêm lễ Địa Tạng tượng
Nhất thiết ác sự giai tiêu diệt
Chí ư mộng trung tận đắc an
Y phục phong nhiêu thần quỷ hộ
Dục nhập sơn lâm cập độ hải
Độc ác cầm thú, cập ác nhân
Ác thần, ác quỷ tỉnh ác phong
Nhất thiết chư nan chư khổ não
Đãn đương chiêm lễ cập cúng dường
Địa Tạng Bồ Tát Đại Sĩ tượng
Như thị sơn lâm, đại hải trung
Ưng thị chư ác giai tiêu diệt
Quan Âm chí tâm thính ngô thuyết
Địa Tạng vô tận, bất tư nghị
Bách thiên vạn kiếp thuyết bất chu
Quảng tuyên Đại Sĩ như thị lực
Địa Tạng danh tự, nhân nhược văn
Nãi chí kiến tượng chiêm lễ giả
Hương hoa, y phục, ẩm thực phụng
Cúng dường bách thiên thụ diệu lạc
Nhược năng dĩ thử hồi pháp giới
Tất cánh thành Phật siêu sinh tử
Thị cố Quan Âm, nhữ đương tri
Tằng cáo hằng sa chư quốc thổ.
CHÚC LŨY NHÂN THIÊN PHẨM ĐỆ THẬP TAM
Nhĩ thời Thế Tôn cử kim sắc tý, hựu ma Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đỉnh nhi tác thị ngôn,
Địa Tạng Địa Tạng, nhữ chi thần lực bất khả tư nghị, nhữ chi từ bi bất khả tư nghị, nhữ
chi trí tuệ bất khả tư nghị, nhữ chi biện tài bất khả tư nghị. Chính sử thập phương chư
Phật tán thán tuyên thuyết. Nhữ chi bất tư nghị sự, thiên vạn kiếp trung, bất năng đắc tận.
Địa Tạng, Địa Tạng, ký ngô kim nhật tại Đao Lợi Thiên trung, ư bách thiên vạn ức bất
khả thuyết, bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, Bồ Tát, Thiên Long Bát Bộ đại hội chi trung
tái dĩ nhân thiên chư chúng sinh đẳng, vị xuất tam giới, tại hỏa trạch trung giả phó chúc ư
nhữ, vô lệnh thị chư chúng sinh đọa ác thú trung, nhất nhật, nhất dạ, hà huống cánh lạc
ngũ vô gián, cập a tỳ địa ngục, động kinh thiên vạn ức kiếp, vô hữu xuất kỳ. Địa Tạng, thị
Nam Phù Đề chúng sinh, chí tính vô định, tập ác giả đa, túng phát thiện tâm, tu du tức thối.
Nhược ngộ ác duyên, niệm niệm tăng trưởng, dĩ thị chi cố, ngô phân thị hình, bách thiên
ức hoá độ. Tùy kỳ căn tính nhi độ thoát chi. Địa Tạng, ngô kim ân cần, dĩ thiên nhân
chúng, phó chúc ư nhữ, vị lai chi thế. Nhược hữu thiên nhân, cập thiện nam tử, thiện nữ
nhân, ư Phật Pháp trung, chủng thiểu thiện căn, nhất mao, nhất trần, nhất sa, nhất thế,
nhữ dĩ đạo lực ủng hộ thị nhân tiệm tu Vô Thượng, vật lệnh thối thất. Phục thứ Địa Tạng ,
vị lai thế trung, nhược thiên nhược nhân đọa nghiệp báo ứng, lạc tại ác thú, lâm đọa thú
trung, hoặc chí môn thủ, thị chư chúng sinh, nhược năng niệm đắc nhất Phật danh, nhất
Bồ Tát danh, nhất cú nhất kệ Đại Thừa kinh đìển, thị chư chúng sinh, nhữ dĩ thần lực,
phương tiện cứu bạt. Ư thị nhân sở hiện vô biên thân, vi toái địa ngục, khiển lệnh sinh
thiên thụ thắng diệu lạc. Nhĩ thời Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn
Hiện tại, vị lai thiên nhân chúng
Ngô kim ân cần phó chúc nhữ
Dĩ đại thần thong, phương tiện độ
Vật lệnh đọa tại chư ác thú
Nhĩ thời Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát hồ quỵ, hợp chưởng bạch Phật ngôn, Thế Tôn duy
nguyện Thế Tôn bất dĩ vi lự. Vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân ư
Phật Pháp trung, nhất niệm cung kính, ngã diệc bách thiên phương tiện độ thoát thị nhân
ư sinh tử trung tốc đắc giải thoát. Hà huống văn chư thiện sự, niệm niệm tu hành, tự
nhiên ư Vô Thượng Đạo vĩnh bất thối chuyển. Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Bồ
Tát danh Hư Không Tạng bạch Phật ngôn, Thế Tôn ngã tự chí Đao Lợi văn ư Như Lai
tán thán Địa Tạng Bồ Tát uy thần thế lực bất khả tư nghị. Vị lai thế trung, nhược hữu thiện
nam tử, thiện nữ nhân, nãi cập nhất thiết thiên long văn thử kinh điển cập Địa Tạng danh
tự, hoặc chiêm lễ hình tượng đắc kỉ chủng phúc lợi. Duy nguyện Thế Tôn vị vị lai hiện tại
nhất thiết chúng đẳng, lược nhi thuyết chi. Phật cáo Hư Không Tạng Bồ Tát, đế thính, đế
thính, ngô đương vị nhữ phân biệt thuyết chi. Nhược vị lai thế hữu thiện nam tử, thiện nữ
nhân kiến Địa Tạng hình tượng, cập văn thử kinh, nãi chí độc tụng, hương hoa ẩm thực, y
phục trân bảo, bố thí cúng dường, tán thán chiêm lễ, đắc nhị thập bát chủng lợi ích. Nhất
giả, Thiên Long hộ niệm. Nhị giả, thiện quả nhật tăng. Tam giả, tập thánh thượng nhân.
Tứ giả, Bồ Đề bất thối. Ngũ giả, y thực phong túc. Lục giả, tật dịch bất lâm. Thất giả, ly
thủy hỏa tai. Bát giả, vô đạo tặc ách. Cửu giả, nhân kiến khâm kính. Thập giả, thần quỷ
trợ trì. Thập nhất giả, nữ chuyển nam thân. Thập nhị giả, vị vương thần nữ. Thập tam giả,
đoan chính tướng hảo. Thập tứ giả, đa sinh thiên thượng. Thập ngũ giả, hoặc vị đế
vương. Thập lục giả, túc trí mệnh thong. Thập thất giả, hữu cầu giai túng. Thập bát giả,
quyến thuộc hoan lạc. Thập cửu giả, chư hoạnh tiêu diệt. Nhị thập giả, nghiệp đạo vĩnh
trừ. Nhị thập nhất giả, khứ xứ tận thông. Nhị thập nhị giả, dạ mộng an lạc. Nhị thập tam
giả, Tiên vong ly khổ. Nhị thập tứ giả, túc phúc thụ sinh. Nhị thập ngũ giả, chư Thánh tán
thán. Nhị thập lục giả, thông minh lợi căn. Nhị thập thất giả, nhiêu từ ân tâm. Nhị thập bát
giả, tất cánh thành Phật. Phục thứ Hư Không Tạng Bồ Tát, nhược hiện tại, vị lai thiên
long, quỷ thần văn Địa Tạng danh, lễ Địa Tạng hình, hoặc văn Địa Tạng bản nguyện sự
hạnh tán thán chiêm lễ, đắc thất chủng lợi ích. Nhất giả, tốc siêu Thánh địa. Nhị giả, ác
nghiệp tiêu diệt. Tam giả, chư Phật hộ lâm. Tứ giả, Khổ đề bất thối. Ngũ giả, tăng
trưởng bản lực. Lục giả, túc mệnh giai thông. Thất giả, tất cánh thành Phật. Nhĩ thời thập
phương nhất thiết chư lai, bất khả thuyết, bất khả thuyết chư Phật Như Lai, cập Đại Bồ
Tát, Thiên Long Bát Bộ văn Thích Ca Mâu Ni Phật xưng dương tán thán Địa Tạng Bồ
Tát, đại uy thần lực bất khả tư nghị, thán vị tằng hữu. Thị thời Đao Lợi Thiên, vũ vô lượng
hương hoa, thiên y châu anh cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật, cập Địa Tạng Bồ Tát dĩ.
Nhất thiết chúng hội câu phục chiêm lễ, hợp chưởng nhi thối.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH QUYỂN HẠ.
THE SUTRA ON THE PAST VOWS OF KSITIGARBHA BODHISATTVA
(ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH)
PHẦN 2: DIỄN NGHĨA.
KỆ KHAI KINH:
Diệu Pháp, trời cao lại biển sâu
Muôn đời, muôn kiếp khó tìm đâu
Nay cho nghe, thấy con gìn giữ
Nguyện hiểu Như Lai mỗi chữ, câu.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH.
ĐAO LỢI THIÊN CUNG THẦN THÔNG PHẨM ĐỆ NHẤT.
Tôi nghe như vầy. Một lần Phật vì Thân mẫu mà thuyết pháp tại Đao Lợi Thiên Cung. Lúc
bấy giờ, toàn thể chư Phật, cùng chư Đại Bồ Tát, con số không thể nói hết được, ở thập
phương vô lượng thế giới đều đến dự hội, ca tụng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, sống tại
ngũ trọc, ác thế đã có thể thể hiện được lực của trí tuệ và thần thông một cách không thể
nghĩ bàn, điều phục được những chúng sinh ương ngạnh để biết được pháp khổ và lạc.
Các nơi đều gửi Thị Giả đến để vấn an Đức Thế Tôn. Bấy giờ Như Lai nở nụ cười hàm
tiếu phóng ra bách thiên vạn ức đại quang minh vân, được kể là đại viên mãn quang
minh vân, bao gồm đại từ bi quang minh vân, đại trí tuệ quang minh vân, đại bát nhã
quang minh vân, đại tam muội quang minh vân, đại kiết tường quang minh vân, đại phúc
đức quang minh vân, đại công đức quang minh vân, đại quy y quang minh vân, đại tán
thán quang minh vân. Phóng xong ngần ấy không thể nói hết được quang minh vân, lại
còn xuất ra các loại âm thanh thật vi diệu, được kể là đàn na ba la mật âm, thi la ba la
mật âm, sạn đề ba la mật âm, bì ly da ba la mật âm, thiền ba la mật âm, bát nhã ba la
mật âm, từ bi âm, hỉ xả âm, giải thoát âm, vô lậu âm, trí tuệ âm, đại trí tuệ âm, sư tử hống
âm, đại sư tử hống âm, vân lôi âm, đại vân lôi âm. Xuất ra như thế, không thể nói hết
được các loại âm đã xong, Sa Bà thế giới, cùng tha phương quốc thổ có vô lượng ức
thiên long quỷ thần, cũng tập họp đến Đao Lợi thiên cung, được kể là tứ Thiên Vương
thiên, Đao Lợi thiên, Tu Diễm Ma thiên, Đâu Suất Đà thiên, Hóa Lạc thiên, Tha Hóa Tự
Tại thiên, Phạm chúng thiên, Phạm Phụ thiên, Đại Phạm thiên, Thiểu Quang thiên, Vô
Lượng Quang thiên, Quang Âm thiên, Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên, Biến Tịnh
thiên, Phúc Sinh thiên, Phúc Ái thiên, Quảng Quả thiên, Vô Tưởng thiên, Vô Phiền thiên,
Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên, Ma Ê Thủ La
thiên, ngay cả đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên, toàn thể thiên chúng, long chúng,
quỷ thần đẳng chúng, tất cả đều đến dự hội. Lại thêm nữa, tha phương quốc thổ, cùng
Sa Bà thế giới các Hải thần, Giang thần, Hà thần, Thụ thần, Sơn thần, Địa thần, Xuyên
Trạch thần, Miêu Giá thần, Trú thần, Dạ thần, Không thần, Thiên thần, Ẩm Thực thần,
Thảo Mộc thần, các loại thần như kể đều đến dự hội. Lại còn có từ tha phương quốc thổ,
cùng Sa Bà thế giới, chư Đại Quỷ vương, được kể là ác mục Quỷ vương, đạm huyết
Quỷ vương, đạm tinh khí Quỷ vương, đạm thai noãn Quỷ vương, hành bệnh Quỷ vương,
nhiếp độc Quỷ vương, từ tâm Quỷ vương, phúc lợi Quỷ vương, đại ái kính Quỷ vương,
các loại Quỷ vương như kể đều đến dự hội. Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo
Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát, con xem tất cả chư Phật, Bồ Tát,
cùng Thiên Long, Quỷ Thần tại thế giới này, các thế giới khác, tại quốc thổ này, các quốc
thổ khác, những vị này đến Đao Lợi thiên cung dự hội, con có biết con số bao nhiêu
không? Văn thù Sư Lợi bạch Phật rằng Thế Tôn, nếu lấy thần lực của con thì ngàn kiếp
để đo tính cũng không thể biết được. Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Ta dùng Phật nhãn mà
quan sát còn không hết số. Số đó đều do Địa Tạng Bồ Tát từ xa xôi kiếp đến nay, đã độ,
đương độ, chưa độ, đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu. Văn Thù Sư Lợi
bạch Phật rằng Thế Tôn, con trong quá khứ tu thiện căn đã lâu, chứng được vô ngại trí,
nghe những điều Phật dạy tức thì con tin nhận ngay, còn những tiểu quả thanh văn, thiên
long bát bộ cùng các chúng sinh trong các đời vị lai, tuy nghe những lời nói thành thật của
Như Lai, tất nhiên cảm thấy hoài nghi, đáp nhận không tránh khỏi xem thường. Con xin
nguyện Thế Tôn nói rộng hơn về Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát từ nguyên nhân nào và đã
nguyện gì mà làm nên những thành tựu không thể nghĩ bàn. Thế Tôn bảo Văn Thù Sư
Lợi, thí dụ như trong tam thiên đại thiên thế giới sở hữu những thảo mộc, tùng lâm, lúa,
vừng (mè), trúc, lau sậy, núi đá, bụi bậm; cứ mỗi vật, mỗi số làm thành một con sông
Hằng hà, cứ mỗi hạt cát của mỗi Hằng hà là một thế giới. Trong mỗi một thế giới, mỗi
hạt bụi là một kiếp và trong một kiếp chất chứa những hạt rất nhỏ, mỗi hạt được xem
như mỗi kiếp, thì thời gian Địa Tạng Bồ Tát từ khi đã chứng được Thập Địa Quả đến
nay con số gấp ngàn lần thí dụ trên, nữa là thời gian Địa Tạng Bồ Tát ở tại quả vị Thanh
Văn, Bích Chi Phật Địa. Này, Văn Thù Sư Lợi, uy thần và thệ nguyện của vị Bồ Tát ấy thì
không thể nghĩ bàn. Nếu trong các đời sau này, có những thiện nam tử, thiện nữ nhân
nghe được danh tự của Bồ Tát, hoặc ca ngợi, hoặc chiêm lễ hoặc xướng danh, hoặc
cúng dường, thậm chí hoạ, khắc hình, đắp tượng thì những người ấy được tái sinh trăm
đời tại cung trời thứ ba mươi ba, vĩnh viễn không bị đọa vào ác đạo. Này, Văn Thù Sư
Lợi, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ấy, trong tiền kiếp rất xa xôi, không thể nói được, thân
làm con một đại trưởng giả. Đời bấy giờ có Phật, danh hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc
Vạn Hạnh Như Lai. Lúc bấy giờ, vị con của trưởng giả thấy Phật có tướng tốt, thiên phúc
trang nghiêm, nhân đó vấn Phật đã làm hạnh nguyện nào mà đắc được tướng tốt như
vậy. Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai mới bảo con vị trưởng giả rằng muốn
chứng được thân này, thì phải tu rất lâu, độ thoát toàn thể các chúng sinh chịu cực khổ.
Này Văn Thù Sư Lợi, con vị trưởng giả bèn nhân đó mà phát nguyện rằng con nay cho
đến các kiếp trong vị lai, không kể bao nhiêu số kiếp, vì các chúng sinh chịu khổ trong lục
đạo mà quảng thiết phương tiện giải thoát được hết thì thân con mới thành Phật đạo. Vì
trước mặt Phật, Ngài đã lập lời đại nguyện như vậy, nên cho đến nay trăm ngàn vạn ức
na do tha không thể nói là bao nhiêu kiếp rồi, Ngài vẫn là Bồ Tát. Lại nữa trong quá khứ,
không thể nghĩ bàn a tăng kỳ kiếp, đời bấy giờ có Phật, danh hiệu là Giác Hoa Định Tự
Tại Vương Như Lai, vị Phật này mệnh thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp, trong
thời kỳ Tượng Pháp, có người nữ Bà La Môn, phúc đức có từ trước rất sâu dày, mọi
người rất khâm phục, đi đứng nằm ngồi chư thiên đều bảo vệ. Mẹ của người nữ Bà La
Môn này tin vào tà thuyết, thường khinh rẻ Tam Bảo. Lúc bấy giờ, Thánh Nữ đã dùng mọi
cách, mọi phương tiện thuyết dụ mẹ mình để mẹ sinh ra chính kiến, tuy vậy bà mẹ vẫn
không hoàn toàn tin vào Tam Bảo. Chẳng bao lâu bà mẹ mệnh chung, thần hồn của bà
mẹ bị đọa vào địa ngục vô gián. Thánh Nữ Bà La Môn, biết mẹ mình lúc sinh thời không
tin vào Nhân Quả, ắt chịu đọa nghiệp, sinh vào đường ác thú. Thánh Nữ bèn bán nhà
cửa, tìm mua hương hoa, dụng cụ cúng dường, trước tiên đến Tháp Tự thờ Phật để
cúng dường. Trong một Tháp Tự, Thánh Nữ thấy được hình tượng của Giác Hoa Định
Tự Tại Vương Như Lai. Hình tượng của Như Lai thật đầy đủ uy dung và đoan nghiêm.
Lúc bấy giờ Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung Phật, sinh lòng kính ngưỡng, tự
niệm rằng Thưa Đức Phật Đại Giác, đầy đủ Nhất Thiết Trí, nếu Đức Phật hiện hữu tại
nơi đây, con xin đến để vấn Phật, để biết nơi ở của mẹ con sau khi mẹ con chết. Thánh
Nữ Bà La Môn gục đầu khóc rất lâu, rồi nhìn Như Lai một cách lưu luyến. Bỗng bà nghe
trên không trung tiếng gọi, Thánh Nữ đang khóc ơi, đừng quá bi lụy nữa, ta đã thấy được
nơi đến của mẹ con rồi. Bà La Môn nữ bèn chắp tay hướng lên không trung mà thưa
rằng vị thần đức nào, xin tha thứ cho con, từ ngày con mất mẹ đến nay, con rất lo lắng,
ngày đêm luyến nhớ, không biết đi đâu mà hỏi xem nơi đến của mẹ con sau khi tạ thế.
Lúc bấy giờ trên không trung phát ra tiếng nói lần nữa báo cho Thánh nữ rằng ta là người
mà Thánh nữ chiêm lễ trong quá khứ, ta chính là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.
Ta thấy con nhớ mẹ gấp bội nỗi nhớ thường tình, bổn phận của chúng sinh, nên ta đến để
báo cho con biết. Bà La Môn nữ nghe những lời này xong thì tự đánh mình, chân tay,
xương cốt đều bị thương, tả hữu giúp nâng dậy, hồi lâu mới tỉnh lại, rồi hướng lên không
trung mà bạch rằng nguyện xin Phật từ ân mau chóng cho con biết nơi sinh của mẹ con,
thân tâm con sắp muốn chết rồi. Lúc bấy giờ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai nói
với Thánh nữ rằng con cúng dường xong, hãy về nhà sớm, ngồi trang nghiêm suy tưởng
đến danh hiệu của ta, thì ắt sẽ biết nơi đến của mẹ con. Lúc bấy giờ người nữ Bà La
Môn, sau khi cúng dường Phật xong thì vội vã về nhà. Vì nhớ mẹ quá, nên bà ngồi trang
nghiêm niệm danh hiệu Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Trải qua một ngày một
đêm, bỗng nhiên bà thấy chính mình đến một bờ biển, nước biển sôi sục, phun lên, có rất
nhiều ác thú, toàn thân che phủ bằng sắt, bay chạy nhảy trên mặt biển, rong ruổi qua lại
tìm kiếm những người nam nữ, có cả trăm ngàn vạn số, lúc còn lúc mất trong biển sôi
sục, vì bị chính các ác thú này tranh nhau ăn thịt. Lại thấy quỷ dạ xoa hình thù rất dị hợm,
hoặc có nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân nhiều đầu, răng chìa ra ngoài miệng nhọn sắc
như lưỡi kiếm chạy đuổi theo các tội nhân, kéo các tội nhân lại gần các ác thú, rồi tự
đánh đập nhau vào đầu, vào chân, hình thù đủ loại dễ sợ, bà không dám nhìn lâu. Lúc bấy
giờ người nữ Bà La Môn nhờ niệm Phật lực tự nhiên hết sợ hãi. Có một quỷ vương tên
gọi là Vô Độc cúi đầu chào nghênh đón bà và bạch với bà rằng may mắn thay! Bồ Tát,
duyên cớ nào bà lại đến đây. Bà La Môn nữ bèn hỏi quỷ vương, nơi đây là đâu vậy? Vô
Độc đáp rằng đây là núi Đại Thiết Vi hướng tây có nhiều dãy biển lớn đầu tiên. Thánh nữ
bèn hỏi rằng tôi nghe trong núi Đại Thiết Vi có địa ngục, có phải sự thật không? Vô Độc
đáp rằng thực sự có địa ngục. Thánh nữ hỏi, tôi làm sao có thể đến địa ngục đó? Vô
Độc đáp rằng phải có uy thần và cần nghiệp lực, không có hai sự kiện này cuối cùng
không sao đến được. Thánh nữ lại hỏi nước kia cớ gì lại sôi sục, phun lên; sao có nhiều
tội nhân, cùng với những ác thú? Vô Độc đáp rằng đó là các chúng sinh ở cõi Diêm Phù
Đề đã tạo ác. Người mới chết nếu sau bốn mươi chín ngày không có con cháu làm việc
công đức cứu giúp khổ nạn, lúc sinh thời cũng không làm những việc thiện thì cứ theo
bản nghiệp mà chiêu cảm đến địa ngục, tự nhiên phải lội qua biển này trước. Phía đông
biển này mười vạn do tuần (10), lại có một biển nữa khổ còn gấp bội biển này. Phía
đông biển ấy lại có một biển nữa, khổ càng gấp bội phần. Đây là nơi ba nghiệp ác nhân
chiêu cảm mà đến, gọi chung là nghiệp biển. Nghiệp biển chính là đây. Thánh nữ lại hỏi
quỷ vương Vô Độc rằng Thế địa ngục ở đâu? Phía trong ba biển là đại dịa ngục con số
có cả trăm ngàn, mỗi cái đều khác biệt. Nói tổng quát, thực có mười tám, thứ đến có
năm trăm, khổ độc vô lượng, thứ đến có mười ngàn cũng vô lượng khổ. Thánh nữ lại hỏi
đại quỷ vương rằng mẹ tôi từ khi chết cũng không lâu, không biết hồn thần đến nơi nào.
Quỷ vương bèn hỏi Thánh nữ rằng mẹ của Bồ Tát lúc sinh tiền thường có thói quen hành
nghiệp gì? Thánh nữ đáp rằng mẹ tôi theo tà kiến, nhạo báng Tam Bảo. Lúc thì tạm tin,
rồi trở lại bất kính ngay, nên chết mới ngắn ngày mà không biết đi về đâu? Vô Độc hỏi
rằng mẹ Bồ Tát họ gì, đẳng cấp trong xã hội là gì? Thánh nữ đáp rằng Cha và mẹ tôi đều
là Bà La Môn Cha tôi hiệu là Thi La Thiện Hiện, mẹ tôi hiệu là Duyệt Đế Lợi. Vô Độc
chắp tay vái Bồ Tát mà nói rằng nguyện xin Thánh nữ hãy trở vể bản xứ, đừng lo buồn bi
lụy gì nữa. Duyệt Đế Lợi tội nữ đã sinh vào cõi trời đến nay được ba ngày, vì được thừa
hưởng sự hiếu thuận của con, vì mẹ mà cúng dường, tu phúc, bố thí tại tháp tự của Định
Tự Tại Vương Như Lai, không phải chỉ có mẹ của Bồ Tát thoát khỏi địa ngục mà các tội
nhân ở vô gián địa ngục tất cả cũng được hưởng lạc vào hôm ấy và cùng tái sinh với mẹ
của Thánh nữ vào cõi trời. Quỷ vương nói xong, chắp tay lạy mà đi. Bà La Môn nữ vừa
như tỉnh mộng, biết được sự việc rồi, trước tháp tượng của Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai lập lời đại nguyện, nguyện rằng con trong suốt các kiếp trong vị lai, đối
với các chúng sinh có tội khổ sẽ thiết lập mọi phương tiện để giải thoát họ. Phật bảo Văn
Thù Sư Lợi, quỷ vương Vô Độc lúc bấy giờ, nay là Tài Thủ Bồ Tát, còn Bà La Môn nữ lúc
bấy giờ nay chính là Địa Tạng Bồ Tát.
PHÂN THÂN TẬP HỘI PHẨM ĐỆ NHỊ
Lúc bấy giờ trăm ngàn vạn ức, không thể nghĩ bàn, không thể ước lượng, không thể nói
hết, vô lượng a tăng kỳ thế giới, những nơi sở hữu địa ngục, do thần lực của Như Lai,
những phân thân Địa Tạng Bồ Tát đều tập trung tại Đao Lợi Thiên Cung để dự hội, cùng
với những người đã được giải thoát từ nghiệp đạo, con số có tới ngàn vạn ức na do
tuần, tất cả mang hương hoa đến cúng dường Phật. Những người cùng đến này đều do
Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa, không bao giờ thối chuyển A Nậu Đa La Tam Niệu Tam Bồ
Đề. Những chúng sinh này từ nhiều kiếp xa xưa chịu khổ sở, sinh tử trong lục đạo, liên
tục không ngừng nghỉ, do lời thệ nguyên của Địa Tạng Bồ Tát quảng đại từ bi mà đạt
được quả chứng. Đã đến Đao Lợi Thiên Cung, mọi người trong lòng đều háo hức được
chiêm ngưỡng Đức Như Lai, đôi mắt mọi người không rời được Ngài. Lúc bấy giờ Thế
Tôn thư thả dùng tay, với tay áo màu vàng kim xoa lên đỉnh đầu của trăm ngàn vạn ức,
không thể nghĩ bàn, không thể ước lượng, không thể nói hết những phân thân của Đức
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát từ vô lượng a tăng kỳ thế giới đến dự hội và nói rằng ta ở
ngũ trọc ác thế giáo hóa những chúng sinh ương ngạnh, làm cho họ trong tâm điều phục,
bỏ tà quy chính, mười người còn độ một hoặc hai còn làm điều ác. Ta cũng phân thân
thành trăm ngàn ức, tạo mọi phương tiện, kẻ có lợi căn nghe nói thì tin ngay, người có
thiện quả thì khuyên bảo chuyên cần để thành tựu, hoặc có kẻ ngu đần độn phải giáo hóa
lâu hoặc có kẻ nghiệp quá nặng không sinh lòng kính ngưỡng, những chúng sinh như thế
ta phải phân thân mỗi mỗi một khác để độ thoát. Khi ta phải hiện thân nam tử, khi thì hiện
thân nữ nhân hoặc thiên long thân, hoặc thần quỷ thân, hoặc hiện sơn lâm, xuyên nguyên,
sông ao, suối, giếng lợi ích cho người để tất cả được độ thoát. Hoặc hiện thiên đế thân,
hoặc hiện Phạm vương thân, hoặc hiện Chuyển Luân Vương thân, hoặc hiện cư sĩ thân,
hoặc quốc vương thân, hoặc hiện Tể phụ thân, hoặc hiện quan thuộc thân, hoặc hiện tỉ
khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di thân, nãi chí thanh văn la hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát
thân để mà hóa độ. Chẳng những chỉ hiện Phật thân trước mặt chúng sinh, các con còn
thấy ta nhiều kiếp cần khổ để độ thoát những chúng sinh khó giáo hóa, ương ngạnh, chịu
những tội khổ. Còn những chúng sinh chưa điều phục được thì tùy nghiệp báo ứng. Nếu
đọa ác thú chịu đại khổ, các con phải nhớ ta nay tại Đao Lợi Thiên Cung ân cần phó
chúc rằng cho đến khi Di Lặc xuất thế hãy làm cho các chúng sinh ở Ta Bà thế giới được
giải thoát, vĩnh viễn không không phải chịu khổ, gặp Phật thụ ký. Lúc bấy giờ tất cả các
phân thân từ các thế giới của Địa Tạng Bồ Tát gom chung lại một hình, nước mắt ràn rụa
bạch với Phật rằng con từ nhiều kiếp đến nay được ơn Phật tiếp dẫn mà có được thần
lực không thể nghĩ bàn, cùng với đại trí tuệ. Những phân thân của con có đầy khắp trăm
ngàn vạn ức, hằng hà sa số thế giới. Mỗi thế giới lại biến hóa ra trăm ngàn vạn ức thân,
mỗi thân lại độ cho trăm ngàn vạn ức người, làm cho chúng sinh quy kính Tam Bảo, vĩnh
viễn xa rời sinh tử, đến được Niết Bàn hạnh phúc. Những là trong Phật pháp vì việc thiện.
Cho dù một sợi tóc, một giọt nước, một hạt cát, một hạt bụi, một tơ hào, con hứa sẽ từ
từ độ thoát, thu hoạch được đại lợi ích. Duy nguyện Thế Tôn đừng vì ác nghiệp của các
chúng sinh hậu thế mà lo phiền. Bạch như thế ba lần với Phật, duy nguyện Thế Tôn đừng
vì ác nghiệp của các chúng sinh hậu thế mà sinh phiền muộn. Lúc bấy giờ Phật bèn ca
tụng Địa Tạng Bồ Tát rằng may thay, may thay, ta hỗ trợ con làm điều thiện để con thành
tựu được lời đại thệ nguyện từ những kiếp xa xưa, sự cứu độ chúng sinh được hoàn tất,
con ắt chứng quả Bồ Đề.
QUAN CHÚNG SINH NGHIỆP DUYÊN PHẨM ĐỆ TAM.
Lúc bấy giờ Phật mẫu Ma Da phu nhân chắp tay cung kính hỏi Địa Tạng Bồ Tát rằng
Thánh giả, chúng sinh tại Diêm Phù Đề tạo nghiệp khác nhau thì phải chịu sự báo ứng
như thế nào? Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng ngàn vạn thế giới, cho đến quốc thổ, hoặc có
địa ngục, hoặc không có địa ngục, hoặc có đàn bà hoặc không đàn bà, hoặc có Phật
pháp hoặc không có Phật pháp, thậm chí Thanh Văn, Bích Chi Phật cũng lại như thế, địa
ngục tội báo không những chỉ có một cấp. Ma Da phu nhân lại bạch Bồ Tát rằng xin
nguyện được nghe sự chiêu cảm tội báo về ác đạo ở cõi Diêm Phù Đề. Địa Tạng đáp
rằng Thánh mẫu, xin nghe cho được rõ, tôi xin nói sơ lược qua. Phật mẫu bạch rằng xin
Thánh giả cứ nói. Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu rằng ở cõi Diêm Phù
Đề tội báo như sau nếu có chúng sinh bất hiếu với cha mẹ, hoặc đưa đến giết cha mẹ,
phải đọa vô gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp, không mong có ngày được ra khỏi địa
ngục. Nếu có chúng sinh làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, không kính tôn kinh
cũng phải đọa vào vô gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp không mong gì có ngày được ra.
Nếu có chúng sinh làm tổn hại tự viện (chùa chiền), làm ô nhục tăng ni hoặc già lam,
phóng đãng làm chuyện dâm dục, hoặc giết hoặc hại, những hạng người như thế cũng
phải đọa địa ngục vô gián ngàn vạn ức kiếp không mong có ngày được ra. Nếu có chúng
sinh giả làm sư tăng, tâm không phải sư tăng, phá phách tự viện, khinh rẻ, dối lừa những
người thế tục, vi phạm giới luật, làm mọi thứ ác. Những hạng người như thế phải đọa vô
gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp không mong có ngày được ra. Nếu có chúng sinh trộm
cắp tiền của, lúa gạo của tự viện, đồ ăn uống, quần áo, thậm chí một vật gì không được
quyền giữ, phải đọa vô gián địa ngục ngàn vạn ức kiếp, chẳng mong gì có ngày được ra.
Địa Tạng bạch rằng thưa Thánh mẫu nếu có những chúng sinh làm những tội như thế,
phải đọa năm vô gián địa ngục, cầu mong cho được ngừng khổ một lúc cũng không
được. Ma Da phu nhân lại bạch Địa Tạng Bồ Tát rằng tại sao lại gọi là vô gián địa ngục?
Địa Tạng bạch rằng thưa Thánh mẫu nơi có địa ngục ở tại bên trong núi Đại Thiết Vi.
Đại địa ngục có một mười tám nơi, còn có thêm năm trăm địa ngục tên hiệu khác nhau.
Thứ nữa còn có một hàng ngàn hàng trăm danh tự cũng khác. Vô gián địa ngục, chu vi
thành ngục là hơn tám vạn lý, bờ thành thuần là sắt cao một vạn lý, trên thành có lửa cháy
không có khoảng nào bỏ trống. Ở bên trong thành ngục, các ngục liền với nhau, tên hiệu
khác nhau, chỉ có một ngục tên gọi vô gián, chu vi của ngục này là một vạn, tám ngàn lý,
tường ngục cao một ngàn lý, tất cả bằng sắt bao quanh, có lửa cháy từ trên xuống dưới,
rắn sắt, chó sắt phun lửa rong ruổi trên tường của ngục, chạy qua lại từ đông sang tây.
Trong ngục có giường rộng đầy vạn lý. Một người chịu tội sẽ tự thấy thân của mình nằm
che khắp giường, một ngàn vạn người chịu tội cũng thấy thân của họ nằm khắp trên
giường. Đây là do nghiệp dĩ chiêu cảm mà phải hoạch báo như thế. Lại nữa, những tội
nhân chịu những tội khổ, hàng ngàn, hàng trăm dạ xoa cùng với ác quỷ, răng trong miệng
như kiếm, mắt như điện quang, tay mang đồng trảo kéo lê lết các tội nhân. Lại có những
dạ xoa mang những kích sắt lớn đâm vào thân thể tội nhân, hoặc trong miệng, mũi hoặc
bụng, lưng, ném lên không trung lật qua lại, hoặc đặt lại trên giường. Lại có những con
chim cắt bằng sắt mổ ăn mắt tội nhân. Lại có những con rắn sắt quấn quanh cổ tội nhân,
trong các đốt xương chân tay đều bị đóng các đinh dài, chúng kéo lưỡi, cày, lôi ruột tội
nhân cắt đứt đi. Nước đồng nấu sôi đổ vào miệng tội nhân, còn bị những dây sắt nóng
quấn quanh thân thể. Thập tử nhất sinh, do nghiệp dĩ chiêu cảm mà phải chịu như thế, lại
phải trải qua như thế hàng ức kiếp, không mong gì có ngày được ra. Khi thế giới này bị
huỷ hoại, tội nhân chuyển ký vào thế giới khác. Thứ đến, thế giới khác bị huỷ hoại, tội
nhân lại chuyẻn ký vào thế giới khác nữa, cứ phải chuyển ký như thế, cho đến khi thế giới
này được kết thành trở lại, tội nhân lại phải chuyển ký trở lại, vô gián tội báo sự việc là
như thế. Lại có năm nghiệp chiêu cảm cũng gọi là vô gián. Đó là năm nghiệp gì. Một là,
ngày đêm chịu tội cho đến hơn cả một kiếp, không có thời gian ngưng hết, nên gọi là vô
gián. Hai là, một người cũng làm đầy địa ngục, mà nhiều người cũng làm đầy địa ngục,
nên gọi là vô gián địa ngục. Ba là, các khí cụ tra tấn như gậy xiên, ưng, xà, lang khuyển,
đập, chà, cưa đục, bổ chặt, vạc nấu, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống bọc
quấn đầu tội nhân, sắt nóng tưới lên thân thể tội nhân, khi đói phải nuốt những viên sắt
tròn, khi khát phải uống nước sắt lỏng, từ nhiều năm đến hết kiếp, rồi na do tha kiếp, khổ
sở liên miên không lúc nào gián đoạn nên gọi là vô gián. Bốn là, bất kể nam hoặc nữ,
man di mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc rồng hoặc thần hoặc trời hoặc quỷ phải chịu tội do
nghiệp dĩ chiêu cảm, đều chịu hình phạt như thế, nên gọi là vô gián. Năm là, nếu phải đọa
vào ngục ấy, từ lúc mới vào cho đến trăm ngàn kiếp, một ngày một đêm, vạn tử vạn sinh,
chỉ mong gián đoạn một niệm cũng không được. Trừ khi nghiệp hết, mới được thụ sinh,
vì cứ phải chịu liên miên như thế, nên gọi là vô gián. Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh mẫu
rằng nói sơ lược qua về vô gián địa ngục là như thế, nếu nói về tên các khí cụ dùng để
tra tấn tội nhân cùng những sự cực khổ mà tội nhân phải gánh chịu thì cả kiếp nói cũng
không hết được. Ma Da phu nhân nghe xong thì buồn bã chắp tay đảnh lễ mà lui ra.
DIÊM PHÙ CHÚNG SINH NGHIỆP CẢM PHẨM ĐỆ TỨ.
Lúc bấy giờ Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng Thế Tôn, con thừa uy
thần của Phật Như Lai mà phân thân hình này của con ra khắp trăm ngàn vạn ức thế giới
để cứu giúp toàn thể chúng chịu nghiệp báo. Nếu không có đại lực từ bi của Như Lai thì
con không thể biến hóa được như vậy. Con nay đội ơn Phật phó chúc cho đến khi A Dật
Đa thành Phật các chúng sinh trong lục đạo phải được giải thoát. Tuy nhiên xin nguyện
Thế Tôn đừng quá ưu tư. Lúc bấy giờ Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát rằng toàn thể chúng
sinh chưa được giải thoát tính khí chẳng định được ác tập kết thành nghiệp, thiện tập kết
thành quả, thuận theo cảnh ngộ mà sinh, luân chuyển trong năm đường ác không lúc nào
ngưng nghỉ, phải trải qua những kiếp người, như cá và lưới bắt cá vậy, lúc bị lọt vào, lúc
thì được tạm xuất ra khỏi lưới, rồi lại mắc vào lưới trở lại, ta ưu tư cho những chúng sinh
này. Con đã trước đây từ nhiều kiếp có lời trọng thệ quảng độ thoát các tội nhân, ta còn
âu lo gì nữa. Khi Phật nói hết những lời này thì trong buổi hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát
tên là Định Tự Tại Vương bạch với Đức Phật rằng Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát từ nhiều
kiếp đến nay đã phát nguyện những gì mà được Phật tán thưởng. Xin nguyện Thế Tôn
nói sơ lược qua về việc này cho chúng con được nghe. Lúc bấy giờ Thế Tôn bèn bảo
Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng hay lắm thay, con đã nghĩ đến việc này! Vậy hãy nghe
cho rõ, nghe cho rõ, ta vì con mà nói kỹ càng. Trong quá khứ, vô lượng a tăng kỳ, na do
tha, không thể nói hết bao nhiêu kiếp trước, lúc bấy giờ có vị Phật hiệu Nhất Thiết Trí
Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư Phật, Thế Tôn. Vị Phật ấy
thọ mệnh là sáu vạn kiếp. Khi chưa xuất gia, ngài làm Tiểu Quốc Vương và làm bạn với
một Quốc Vương của nước láng giềng, cùng làm mười việc thiện, lợi ích cho chúng sinh.
Nhân dân trong nước láng giềng có nhiều người luôn tạo những điều ác. Hai vị vương
nghị kế, thiết lập rộng rãi các phương tiện. Một vị Vương phát nguyện sớm thành Phật
đạo để độ giúp những kẻ phạm tội không bỏ sót một ai. Một vi Vương phát nguyện nếu
trước tiên không độ được cho những người có tội phải chịu sự khổ sở, để được sống
an lạc đạt đến Bồ Đề, tôi sẽ nguyện chưa thành Phật. Phật bảo Định Tự Tại Vương Bồ
Tát rằng vị Vương nguyện sớm thành Phật đạo chính là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như
Lai. Vị Vương nguyện mãi mãi độ cho chúng sinh chịu tội khổ, chưa nguyện thành Phật,
đó chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trở lại quá khứ, vô lượng a tăng kỳ kiếp, có Phật
xuất thế tên hiệu Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, vị Phật này thọ mệnh bốn mươi kiếp
trong thời kỳ Tượng pháp, có một vị La Hán làm phúc độ chúng sinh. Nhân một lần đi
giáo hóa gặp một người nữ, chữ gọi là Quang Mục dọn đồ ăn cúng dường. La Hán hỏi
người nữ có muốn nguyện ước gì không? Quang Mục đáp rằng từ ngày mẹ con mất, con
làm việc phúc đức để mẹ con được cứu độ, nhưng con vẫn chưa biết mẹ con sinh vào
đường nào? La Hán thương cảm bèn nhập định quán, thấy mẹ của Quang Mục phải đọa
vào đường ác thú, chịu sự đại cực khổ. La Hán hỏi Quang Mục rằng mẹ của con lúc sinh
tiền đã gây ra nghiệp gì vậy mà nay tại đường ác thú chịu đại cực khổ? Quang Mục đáp
rằng mẹ con thường rất thích ăn các loại thuộc cá, ba ba. Mẹ con thích ăn nhất các con
nhỏ cá, ba ba đem rang hoặc nấu, ăn uống thoả thích. nếu tính con số thì gấp bội ngàn
vạn con. Xin Tôn giả nhủ lòng thương làm sao để cứu được mẹ con. La Hán thương
cảm bèn tạo phương tiện khuyên Quang Mục rằng con có thể đem lòng thành kính niệm
Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, cùng đắp tượng họa hình Đức Phật, kẻ chết người
sống đều được hưởng phúc báo. Quang mục nghe xong bèn xả bỏ mọi thứ mình yêu
thích đi tìm hình tượng của Đức Phật mà cúng dường. Thật lòng cung kính, khóc lóc mà
chiêm lễ Đức Phật. Bỗng trong đêm nằm mộng thấy Đức Phật thân thể trong màu kim
sắc, chiếu sáng như núi Tu Di, phóng ra đại hào quang nói với Quang Mục rằng mẹ của
con chẳng bao lâu sẽ sinh ra trong nhà của con, vừa thấy trong đói rét.. Tin vào lời dạy
của Đức Phật, phía sau nhà, người nội tì sinh ra một đứa con, chưa đủ ba ngày mà đã
nói được rằng xin khấu đầu khóc lạy Quang Mục, sống chết là do nghiệp duyên, quả báo
tự mình phải chịu, ta là mẹ của con đây, đã lâu trong tăm tối sống cách biệt con đến giờ,
vì phải đọa vào đại địa ngục, nay nhờ phúc lực của con được thụ sinh làm kẻ thấp hèn,
thọ mệnh lại ngắn, đến năm mười ba tuổi phải đọa vào ác đạo trở lại. Con có cách nào
giúp cho ta được thoát miễn tội. Quang mục nghe nói thì biết ngay đó là mẹ của mình
chẳng còn nghi ngại gì nghẹn ngào khóc mà thưa với đứa bé rằng đã là mẹ tôi thì hãy
cho biết đúng tội của mình, đã tạo nên nghiệp gì mà phải đọa nơi ác đạo? Đưá bé đáp
rằng do sát hại, huỷ báng mạ lỵ nên phải chịu hai nghiệp báo nếu không có phúc đức của
con cứu nạn do nghiệp báo tạo nên, thì ta chưa được giải thoát. Quang Mục bèn hỏi
rằng tội báo ở địa ngục, sự thật như thế nào? Đứa bé đáp rằng sự khổ sở tôi không thể
nói được, có nói cả trăm ngàn năm nói cũng không hết được. Quang Mục nghe xong rơi
lệ mà khóc lóc, chắp tay lạy trên không trung nguyện xin cho mẹ con thoát khỏi địa ngục
khi đến tuổi mười ba, không còn trọng tội, cùng không phải trải qua ác đạo. Xin thập
phương chư Phật từ bi thương xót con, xin hãy lắng nghe lời của con vì mẹ của con mà
phát lời đại nguyện rằng nếu mẹ con được vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ và kiếp sống hạ
tiện, thậm chí thân xác nữ nhân mãi mãi không phải mang, con xin nguyện từ ngày nay về
sau, trước hình tượng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, trong trăm ngàn vạn ức
kiếp về sau các thế giới nào còn sở hữu chúng sinh trong địa ngục cùng tam ác đạo,
con nguyện sẽ cứu độ, để các chúng sinh này thoát khỏi những tội báo địa ngục, ác đạo,
súc sinh, ngạ quỷ, con sau đó mới thành Phật đạo, mới thành Chánh Giác. Phát lời thệ
nguyện xong, thì nghe Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai dạy rằng Quang Mục con thật
đại từ bi đã vì mẹ con mà phát lời đại nguyện như thế. Ta thấy mẹ con khi hết mười ba
tuổi, xả bỏ xong nghiệp báo đó, sinh làm phạm chí, thọ tuổi trăm năm, sau đó sẽ sinh vào
quốc thổ Vô Ưu, thọ mệnh không thể tính được là bao nhiêu kiếp, cuối cùng sẽ thành
Phật quả quảng độ nhân, thiên, con số nhiều như cát sông Hằng. Phật bảo Định Tự Tại
Vương rằng La Hán bấy giờ phúc độ Quang Mục chính là Tận Ý Bồ Tát, mẹ Quang Mục
chính là Giải Thoát Bồ Tát, Quang Mục nữ chính là Địa Tạng Bồ Tát, trong những kiếp lâu
đời xa xưa, Bồ Tát đã từ bi phát hằng hà sa số thệ nguyện để quảng độ chúng sinh,
những thế hệ trong tương lai. Nếu có những người nam, người nữ nào chưa làm điều
thiện, hoặc đã làm điều ác, thậm chí không tin vào nhân quả, tà dâm, nói xằng bậy, nói
hai lưỡi, ác khẩu, huỷ báng Đại Thừa, những chúng sinh mang nghiệp như thế tất nhiên
phải đọa vào ác đạo. Nếu các chúng sinh ấy, gặp được bậc Thiện Trí Thức, chỉ trong
nháy mắt, bảo cho hãy quy y Địa Tạng Bồ Tát, thì ắt được giải thoát khỏi tam ác đạo quả
báo. Nếu có thể chí tâm quy kính cùng chiêm lễ ca tụng hoặc cúng dường hương hoa y
phục, các loại trân bảo, ẩm thực. Phụng sự được như thế thì trong tương lai, trăm ngàn
vạn ức kiếp thường được thụ sinh làm chư Thiên hưởng phúc lạc vô cùng. Nếu thiên
phúc hết, hạ sinh nhân gian, còn trăm ngàn kiếp thường làm đế vương, có khả năng nhớ
lại đời trước, nhân quả, cội nguồn. Định Tự Tại Vương, Địa Tạng Bồ Tát như thế có đại
uy thần lực không thể nghĩ bàn, làm lợi cho chúng sinh. Các con, chư Bồ Tát phải ghi nhớ
kinh này, cho lưu truyền rộng rãi. Định Tự Tại Vương Bạch Phật rằng Thế Tôn không
phải lo nghĩ gì chúng con ngàn vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát tất có khả năng thừa uy thần của
Phật mà quảng bá kinh này ở cõi Diêm Phù Đề làm lợi ích cho chúng sinh. Định Tự Tại
Vương bạch Thế Tôn xong, chắp tay cung kính làm lễ mà lui. Lúc bấy giờ Thiên Vương
bốn phương đều từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay cung kính bạch Phật rằng Thế Tôn, Địa
Tạng Bồ Tát đã từ những kiếp xa xôi lâu đời, phát những lời đại nguyện như thế mà sao
tới nay vẫn chưa độ hết? Vì sao còn phải phát thêm lời đại nguyện? Xin nguyện Thế Tôn
vì chúng con mà nói. Phât bảo bốn Thiên Vương, may thay, may thay, ta nay vì lợi ích của
các con cùng trời, người trong đời vị lai, hiện tại mà nói về Địa Tạng Vương Bồ Tát đối
với con đường sinh tử trong cõi Diêm Phù Đề của Ta Bà thế giới, mà Bồ Tát đã tạo mọi
phương tiện để cứu vớt, độ thoát toàn thể chúng sinh chịu tội khổ. Bốn Thiên Vương
thưa rằng Thưa Đức Thế Tôn chúng con rất hoan lạc được nghe. Phật bảo bốn Thiên
Vương rằng Địa Tạng Bồ Tát từ các kiếp xa xưa cho đến nay việc độ thoát cho chúng
sinh chưa hoàn tất ước nguyện, Bồ Tát vì thương xót các chúng sinh chịu tội khổ của thế
giới này. Bồ Tát lại thấy trong vô lượng kiếp trong tương lai, tội khổ lan tràn không dứt
đoạn. Vì cớ đó Bồ tát lại phát đại nguyện ở thế giới Sa Bà Diêm Phù Đề này, tạo ra trăm
ngàn vạn ức phương tiện cho mục đích giáo hoá chúng sinh. Này bốn Thiên Vương, Địa
Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ chuyên sát sinh thì nói về nghiệp báo tai họa lâu đời, mệnh sống
sẽ ngắn. Nếu gặp kẻ trộm cắp se nói về nghiệp báo gây cho sự khốn khổ, bần cùng. Nếu
gặp kẻ tà dâm dẽ nói về nghiệp báo sinh thành chim sẻ, bồ câu, vịt đực hoặc cái. Nếu
gặp kẻ ác khẩu sẽ nói về nghiệp báo gây cho gia quyến phải cãi cọ, kiện thưa. Nếu gặp
kẻ huỷ báng sẽ nói phải chịu nghiệp báo gây cho không có lưỡi, miệng bị sưng nhọt.
Nếu gặp kẻ hay nóng giận sẽ nói phải chịu nghiệp báo xấu xí, gù lưng. Nếu gặp kẻ keo
kiệt nói sẽ gặp nghiệp báo mọi sự ước muốn đều đến trái ngược lại. Nếu gặp kẻ ăn
uống vô độ, sẽ nói phải chịu nghiệp báo đói khát, bệnh yết hầu. Nếu gặp kẻ săn bắn thỏa
tình, sẽ nói phải chịu nghiệp báo điên cuồng mất mạng. Nếu gặp kẻ bội nghịch cha mẹ
sẽ nói phải chịu nghiệp báo tai họa của trời đất. Nếu gặp kẻ đốt rừng núi, cây cối, nói sẽ
chịu nghiệp báo cuồng mê, chết chóc. Nếu gặp các cha mẹ ghẻ ác độc sẽ nói phải chịu
nghiệp báo đánh đập lúc tái sinh. Nếu gặp kẻ giăng lưới bắt chim non, sẽ nói phải chịu
nghiệp báo cốt nhục phân ly. Nếu gặp kẻ huỷ báng tam bảo, sẽ nói phải chịu nghiệp báo
mù, điếc, câm ngọng. Nếu gặp kẻ khinh pháp, mạn giáo, sẽ nói phải chịu nghiệp báo
vĩnh viễn phải ở trong ác đạo. Nếu gặp kẻ phá dụng thường trụ, sẽ nói phải chịu nghiệp
báo ức kiếp luân hồi trong địa ngục. Nếu gặp kẻ làm ô uế, lừa dối sư tăng sẽ nói chịu
nghiệp báo vĩnh viễn làm súc sinh. Nếu gặp kẻ nấu, đốt, chặt, cắt các sinh chúng, sẽ nói
phải chịu nghiệp báo giống y hệt trong các kiếp luân hồi. Nếu gặp kẻ phá giới, phạm trai,
sẽ nói phải chịu nghiệp báo làm cầm thú, đói khát. Nếu gặp kẻ phá hoại một cách phi lý,
sẽ nói phải chịu nghiệp báo những ước muốn không bao giờ thành đạt. Nếu gặp kẻ cao
ngạo, sẽ nói phải chịu nghiệp báo làm kẻ ti tiện, thấp hèn. Nếu gặp kẻ nói hai lưỡi, loạn
đả, sẽ nói phải chịu nghiệp báo không lưỡi hoặc có trăm lưỡi. Nếu gặp kẻ có tà kiến, sẽ
nói phải chịu nghiệp báo sinh ở nơi biên địa. Các chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề này,
thân khẩu, ý nghiệp, ác tập kết thành quả báo trăm ngàn báo ứng. Nay nói sơ lược,chúng
sinh ở cõi Diêm Phù Đề này nghiệp báo chiêu cảm khác nhau, nhưng Địa Tạng Bồ Tát
đã dùng trăm ngàn phương tiện để giáo hoá những chúng sinh này. Trước tiên phải chịu
các nghiệp báo, sau lại phải đọa vào địa ngục trải qua biết bao kiếp số, không có định
kỳ được ra. Vậy các con giúp người, giúp nước đừng để những nghiệp báo này làm mê
hoặc chúng sinh. Bốn Thiên Vương nghe xong, thì rơi lệ, buồn than chắp tay lạy mà lui ra.
ĐỊA NGỤC DANH HIỆU PHẨM ĐỆ NGŨ.
Lúc bấy giờ, Tăng Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Địa Tạng Bồ Tát rằng Thưa Bồ Tát, xin
Bồ Tát vì Thiên Long tứ chúng, cùng toàn thể chúng sinh hiện tại cũng như vị lai mà nói
nơi chốn phải chịu tội khổ quả báo của chúng sinh ở thế giới Sa Bà và cõi Diêm Phù Đề,
xin Ngài nói về danh hiệu các địa ngục cùng những ác báo để chúng sinh trong vị lai, thời
mạt pháp biết được những quả báo này. Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng Thưa Bồ Tát, tôi nay
thừa uy thần của Đức Phật cùng sức lực của Đại Sĩ, xin sơ lược nói các danh hiệu của
địa ngục cùng với tội báo, ác báo. Thưa Bồ Tát phía Đông Diêm Phù Đề có núi tên gọi là
Thiết Vi, núi đen sâu, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, có đại địa ngục hiệu Cực
Vô Gián, lại có địa ngục tên Đại A Tị, lại có địa ngục tên gọi Tứ Giác, lại có địa ngục tên
gọi Phi Đao, lại có địa ngục tên gọi Hỏa Tiễn, lại có địa ngục tên gọi Giáp Sơn, lại có địa
ngục tên gọi Thông Thương, lại có địa ngục tên gọi Thiết Xa, lại có địa ngục tên gọi Thiết
Sàng, lại có địa ngục tên gọi Thiết Ngưu, lại có địa ngục tên gọi Thiết Y, lại có địa ngục
tên gọi Thiên Nhận, lại có địa ngục tên gọi Thiết Lư, lại có địa ngục tên gọi Dương Đồng,
lại có địa ngục tên gọi Bão Trụ, lại có địa ngục tên gọi Lưu Hỏa, lại có địa ngục tên gọi
Canh Thiệt, lại có địa ngục tên gọi Tỏa Thủ, lại có địa ngục tên gọi Thiêu Cước, lại có
địa ngục tên gọi Đạm Nhãn, lại có địa ngục tên gọi Thiết Hoàn, lại có địa ngục tên gọi
Tránh Luận, lại có địa ngục tên gọi Thiết Phu, lại có địa ngục tên gọi Đa Sân. Địa Tạng
thưa rằng thưa Bồ Tát trong núi Thiết Vi có ngần ấy địa ngục, con số vô hạn, có thêm
Khiếu Hoán địa ngục, Bạt Thiệt địa ngục, Phấn Niệu địa ngục, Đồng Tỏa địa ngục, Hỏa
Tượng địa ngục, Hỏa Cẩu địa ngục, Hỏa Mã địa ngục, Hỏa Ngưu địa ngục, Hỏa Sơn địa
ngục, Hỏa Thạch địa ngục, Hỏa Sàng địa ngục, Hỏa Lương địa ngục, Hỏa Ưng địa ngục,
Cứ Nha địa ngục, Bác Bì địa ngục, Ẩm Huyết địa ngục, Thiêu Thủ địa ngục, Thiêu Cước
địa ngục, Đảo Thứ địa ngục, Hỏa Ốc địa ngục, Thiết Ốc địa ngục, Hỏa Lang địa ngục, đó
là số địa ngục. Trong loại địa ngục ấy lại có các tiểu địa ngục, hoặc một hoặc hai hoặc
ba hoặc bốn, thậm chí trăm, nghìn. Trong đó tên gọi khác nhau. Địa Tạng Bồ Tát nói với
Tăng Hiền Bồ Tát rằng thưa ngài đó là nghiệp cảm dẫn dắt các chúng sinh làm ác ở cõi
Diêm Phù Đề mà đến, nghiệp lực các chúng sinh này rất nặng, sánh bằng núi Tu Di, sâu
bằng biển lớn, cản trở Thánh Đạo. Do đó các chúng sinh đừng xem thường các việc ác
nhỏ mà cho là vô tội, sau khi chết sẽ bị báo ứng, tơ hào đều phải chịu. Cha con, thân
thích tội ai nấy chịu. Tuy có gặp được nhau không thể chịu thay cho nhau được. Tôi nay
thừa uy lực của Phật mà nói qua về những tội báo của địa ngục, xin ngài tạm nghe
những lời ấy. Tăng Hiền đáp rằng tôi đã lâu biết có tội báo trong ba đường ác, mong Bồ
Tát nói để cho tất cả các chúng sinh làm ác trong thời mạt pháp sau này được nghe ngõ
hầu quy y Phật. Địa Tạng bạch rằng những việc làm trong các địa ngục là như thế này,
hoặc có địa ngục lấy lưỡi của tội nhân rồi dùng trâu cày lên trên, hoặc có địa ngục lấy tim
của tội nhân cho quỷ dạ xoa ăn, hoặc có địa ngục nấu thân thể của tội nhân trong vạc
nước nóng đang sôi, hoặc có địa ngục thiêu nóng đỏ cột trụ bằng đồng rồi bắt tội nhân
ôm quanh cột, hoặc có địa ngục đốt lửa thiêu đuổi theo kịp tội nhân mà đốt, hoặc có địa
ngục luôn luôn bị đóng băng giá rét lạnh, hoặc có địa ngục chứa toàn phân cứt, nước đái
vô hạn, hoặc có địa ngục có toàn những gậy gộc to đầu nhọn bay khắp nơi, hoặc có địa
ngục chứa rất nhiều cây thương lửa, hoặc có địa ngục chỉ chuyên tra tấn bằng cách đánh
vào bụng, vào lưng tội nhân, hoặc có địa ngục chỉ thiêu đốt chân tay, hoặc có địa ngục
dùng rắn bằng sắt quấn buộc tội nhân, hoặc có địa ngục dùng chó sắt truy đuổi tội nhân,
hoặc có địa ngục buộc tội nhân cùng với những con lừa kéo. Thưa ngài, các nghiệp báo
như thế, mỗi mỗi địa ngục đều có trăm ngàn loại khí cụ, chỉ là đồng, là sắt, là đá, là lửa,
bốn loại này các nghiệp báo sẽ chịu sự hành cảm.Nếu nói rộng về các tội báo trong mỗi,
mỗi địa ngục còn có trăm ngàn loại khổ sở, nữa là nhiều địa ngục. Tôi nay thừa uy thần
của Phật theo câu hỏi cuả ngài mà sơ luợc trả lời như thế. Nếu phải giảng giải cho rộng
thêm nữa thì nói hết kiếp cũng không hết được.
NHƯ LAI TÁN THÁN PHẨM ĐỆ LỤC.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn chuyển mình phóng ra một nguồn ánh sáng thật lớn rộng chiếu
khắp trăm ngàn vạn ức, hằng hà sa số thế giới của các chư Phật, phát ra đại âm thanh
bá cáo cùng toàn thể chư Phật, chư Bồ Tát Ma Ha Tát các thế giới, cùng các loài thiên
long, quỷ thần, người, phi nhân rằng hãy nghe ta hôm nay xướng danh ca tụng Đức Địa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trước thập phương thế giới, với uy thần, từ bi lực không thể nghĩ
bàn của Bồ Tát đem cứu độ các chúng sinh chịu các tội khổ sở. Sau khi ta diệt độ, các
con chư Bồ Tát Đại Sĩ cùng các loài thiên long quỷ thần, hãy gắng sức tạo nên rộng khắp
các phương tiện mà bảo vệ kinh này, làm cho toàn thể các chúng sinh chứng được Niết
Bàn an lạc. Sau khi Đức Thế Tôn nói xong những lời này thì có một vị Bồ Tát tên hiệu là
Tăng Quảng chắp tay cung kính bạch với Phật rằng nay thấy Thế Tôn ca ngợi Đức Địa
Tạng Bồ Tát có đại uy thần đức không thể nghĩ bàn, nguyện xin Thế Tôn nói về sự lợi ích
nhân quả của trời, người ngõ hầu dể các thiên long bát bộ, cùng các chúng sinh trong
các đời sau này được thụ giáo lời dạy của Phật. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát
Tăng Quảng và tứ chúng rằng hãy nghe cho kỹ, nghe cho kỹ, ta vì các con mà nói qua về
sự lợi ích của phúc đức cho người và trời từ Địa Tạng Bồ Tát. Bồ Tát Tăng Quảng bạch
Phật rằng thưa Đức Thế Tôn chúng con rất sung sướng được nghe. Phật bảo Bồ Tát
Tăng Quảng Bồ Tát rằng trong các đời sau nếu có những thiện nam tử, thiện nữ nhân
nào nghe được danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hoặc chắp tay làm lễ ca tụng,
hoặc luyến mộ Đức Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, những người đó sẽ vượt qua mười
kiếp tội khổ. Này Tăng Quảng, nếu có thiện nam tín nữ nào họa hình hoặc dùng đất đá,
keo sơn, đồng, bạc, sắt, các thứ kim loại mà đắp nên tượng của Địa Tạng Bồ Tát để
chiêm lễ bái Ngài, những người đó sẽ được hàng trăm kiếp tái sinh vào tầng trời thứ ba
mươi ba, không bao giờ bị đọa vào ác đạo nữa. Giả như thiên phúc bị hết, phải hạ sinh
xuống trần gian vẫn còn được làm quốc vương không bị mất đại lợi. Nếu có nữ nhân nào
không thích mang thân thể người nữ nữa, tận tâm cúng dường Địa Tạng Bồ Tát,họa hình
cùng lấy đất, đá, keo sơn đồng thiếc mà đúc tượng của Bồ Tát, cứ như thế ngày cúng
dường không thối chuyển, những hưong hoa, ẩm thực, quần áo, tơ lụa, cờ lọng, tiền của,
thì người thiện nữ ấy sẽ đưọc phúc báo chấm dứt làm người nữ hàng trăm ngàn vạn
kiếp, không phải sinh vào thế giới của người nữ nữa, đừng nói gì đến phải chịu mang
thân thể người nữ. Trừ khi do từ bi lực cần mang thân thể người nữ để độ thoát các
chúng sinh. Thừa ơn cùng công đức do sự cúng dường Địa Tạng Bồ Tát mà trăm ngàn
vạn kiếp không phải mang thân thể người nữ. Lại nữa Tăng Quảng, nếu có người nữ
chán ngán sự xấu xí, mang nhiều bệnh tật, nhưng trước Tượng của Địa Tạng Bồ Tát hết
lòng chiêm lễ, thì không bao lâu người này trong ngàn vạn kiếp sẽ sinh ra với tướng mạo
viên mãn. Nếu người nữ xấu xí ấy không chán ngán tấm thân của nữ thì trăm ngàn vạn ức
kiếp sinh ra được làm nữ vương cùng vương phi, trong giòng họ tể tướng hoặc đại
trưởng giả, đoan chính, tướng người viên mãn. Đây cũng do sự hết lòng chiêm lễ Địa
Tạng Vương Bồ Tát mà được ban những phúc đức như thế.
Lại nữa Tăng Quảng, nếu có thiên nam, tín nữ đàn hát ca tụng Ngài, cùng hương hoa
cúng dường, thậm chí khuyên bảo một người hay nhiều người khác cùng làm như thế, thì
trong kiếp này cùng các kiếp khác luôn được trăm ngàn quỷ thần ngày đêm bảo vệ,
không cho sự ác lọt vào tai nghe, đừng nói gì đến chính thân mình lại phải chịu những sự
trái ngang. Lại nữa, Tăng Quảngtrong các đời sau này, nếu có ác nhân, ác thần, ác quỷ
trông thấy thiện nam, tín nữ nào quy kính, cúng dường, ca tụng, chiêm lễ hình tưọng của
Địa Tạng Bồ Tát mà sinh lời chê trách, hủy báng là vô công đức, vô lợi ích, hoặc nhe
răng cười chê, hoặc nói xấu sau lưng, hoặc rủ rê người khác cùng nói xấu, hoặc một
người hoặc nhiều người cùng nói xấu thậm chí dù chỉ trong chốc lát, những kẻ ấy, trong
đời Hiền Kiếp có hàng ngàn Phật diệt độ, sẽ chịu quả báo do sự huỷ báng ấy, lại còn
chịu khổ trọng tội trong A Tỳ địa ngục. Chịu trọng tội qua kiếp ấy rồi còn phải làm quỷ đói
trải qua hàng ngàn kiếp, rồi còn phải chịu làm súc sinh cả ngàn kiếp mới được trở lại
làm người. Tuy mang kiếp người mà phải chịu sự bần cùng hạ tiện, ngũ giác quan cũng
không đầy đủ, luôn bị ác nghiệp kết cấu trong tâm, trong thời gian không lâu lại phải rơi
vào đường ác. Này Tăng Quảng đó là nguyên do hủy báng người khác cúng dường mà
phải chịu quả báo như thế, huống hồ sinh ác kiến hủy diệt. Lại nữa Tăng Quảng, Trong
những đời sau, có thiện nam tín nữ nào đã nằm lâu trên giường bệnh cầu được sống
hoặc chết cũng không được, hoặc đêm nằm mộng thấy ác quỷ, hay người thân thích
hoặc đi vào hiểm đạo, hoặc bị bóng đè, cùng với quỷ ma, ngày tháng năm càng chìm sâu,
lại chuyển sang bệnh hoạn lao gầy, trong giấc ngủ kêu than khổ sở, thê thảm không
được vui gì. Đó đều do đường nghiệp đạo mà luận ra, chứa biết được nặng nhẹ thế
nào, hoặc phải qua đời hoặc được khỏi bệnh, dưới con mắt thế tục của người nam hoặc
nữ chẳng biết phải làm sao. Nhưng nay đứng trước tượng Phật, Bồ Tát cất cao giọng
đọc kinh này một lượt hoặc mang những thứ mà bệnh nhân yêu thích như y phục, báu vật,
ruộng vườn, nhà cửa, trước bệnh nhân mà cất cao giọng nói rằng tôi, ông Mỗ, vì bệnh
nhân này, đối diện trước kinh tượng mà xả bỏ những bảo vật này hoặc để cúng dường
kinh tượng hoặc để tạo nên hình tượng Phật Bồ Tát, hoặc tạo tháp tượng, hoặc dùng để
thắp nhang đèn lễ Phật Bồ Tát, hoặc cúng cho nhà chùa, cứ như thế mà đọc cho bệnh
nhân nghe biết ba lượt. Giả như tri thức của bệnh nhân bị phân tán, khí lực đã tận, thậm
chí một, hai, ba, bốn ngày cho tới bảy ngày hãy cất cao giọng đọc kinh này, người bệnh
sau khi mệnh đã hết, những tai ương trọng tội trước đó, đáng phải chịu vô gián tội cũng
mãi mãi được giải thoát, thụ sinh vào những nơi mà người thường biết được đời kiếp
trước của mình. Huống là thiện nam tín nữ lại tự viết kinh này hoặc chỉ dẫn người khác
viết kinh hoặc tự họa hình đắp tượng Bồ Tát hoặc chỉ dẫn người khác họa hình đắp
tượng khi được phúc báo ắt được đại lợi. Vì lý do này, Tăng Quảng, nếu thấy có người
đọc tụng kinh này, thậm chí chỉ một niệm ca tụng, cung kính kinh này, các con hãy nên
dùng trăm ngàn phương tiện, khuyến khích những người này, hãy chuyên tâm đừng thối
lui thì trong hiện tại, tương lai có thể được ngàn vạn ức không thể nghĩ bàn. Lại nữa Tăng
Quảng, nếu trong các đời sau có những chúng sinh hoặc mộng, mị trông thấy quỷ thần
hoặc hình bóng, hoặc buồn, hoặc khóc, hoặc sầu than vãn, khủng hoảng. Những người
này hoặc một đời, mười đời, ngàn đời trong quá khứ có phụ mẫu, anh chị em, vợ chồng,
quyến thuộc còn phải ở trong đường ác đạo chưa được thoát ly, không có hy vọng có
phúc lực nào cứu giúp, phải báo cho người cốt nhục với mình trong kiếp trước, dùng mọi
phương tiện để cho họ được thoát ra đường ác đạo. Tăng Quảng, con hãy dùng thần lực
của con mà khiến những người quyến thuộc này đến trước tượng Phật Bồ Tát chí tâm tự
đọc kinh này, hoặc mời người khác đọc cho, đọc chừng ba lượt hoặc bảy lượt tiếng kinh
sẽ nghe được khắp nơi, quyến thuộc trong ác đạo sẽ được giải thoát, thậm chí trong
mộng mị cũng không còn trông thấy gì nữa. Lại nữa Tăng Quảng, nếu ở các đời sau, có
những người thuộc tầng lớp thấp hèn, hoặc nô tỳ, thậm chí những người không được tự
do biết được nghiệp trước của mình mà xám hối, hết lòng chiêm lễ hình tượng Địa Tạng
Bồ Tát, thậm chí trong một ngày hoặc bảy ngày, niệm tên của Bồ Tát, có thể vạn lượt,
những người này hết được nghiệp báo, sau đó trong ngàn vạn đời sau sẽ thường được
sinh vào hàng tôn quý, không còn phải trải qua đường ác đạo nữa. Lại nữa Tăng Quảng,
nếu trong các đời sau, trong cõi Diêm Phù Đề, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, toàn thể
những người này cùng các chủng tộc khác họ có con mới sinh, hoặc nam hoặc nữ nội
trong bảy ngày đầu tụng đọc cuốn kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại niệm thêm tên
của Bồ Tát Địa Tạng, được đủ vạn lần, thì đứa con sinh ra hoặc nam hoặc nữ, kiếp
trước có tai ương nghiệp báo, chắc chắn sẽ được giải thoát, sống được bình an, dễ
nuôi, tuổi thọ tăng trưởng, nếu là con thừa phúc thì càng tăng sự an lạc, tuổi thọ càng
tăng. Lại nữa Tăng Quảng, nếu chúng sinh trong các đời sau trong một tháng có một
ngày, tám ngày, mười, mười lăm ngày, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi
tám, hai mươi chín, thậm chí ba mươi ngày, những ngày này là các tội được kết tập, định
ra nặng nhẹ, nhất cử nhất động, nhất niệm đều là nghiệp, đều là tội. Huống hồ tình tứ
phóng đãng, sát hại, trộm cắp tà dâm, nói sằng bậy, trăm nghìn tội trạng. nếu ăn được
mười ngày trai giới, trước tượng Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền đọc kinh này một lượt thì bốn
hướng Đông Tây Nam Bắc trong phạm vi một do tuần sẽ không xảy ra tai họa gì. Trong
gia đình, hoặc người lớn, trẻ nhỏ hiện tại, vị lai trong trăm ngàn năm được xa lìa ác đạo.
Nếu có thể ăn mười ngày trai giới, mỗi ngày đọc kinh này một lượt thì những người trong
gia đình ấy không bao giờ gặp những tai ương, đồ ăn, quần áo mặc đầy đủ, sung túc.
Tăng Quảng đó là lý do các con phải biết rằng Địa Tạng Bồ Tát có trăm ngàn vạn ức đại
thần lực, và lợi ích không thể kể hết được. Chúng sinh Diêm Phù Đề có đại nhân duyên
với vị Đại Sĩ này là những chúng sinh nghe được tên của Bồ Tát,, chiêm ngắm tượng của
Bồ Tát, thậm chí nghe được ba hoặc năm chữ của kinh, hoặc một kệ một câu thì đời này
được an lạc tuyệt đối, trăm ngàn vạn đời sau sinh ra được đoan chính, trong gia đình tôn
quý. Lúc bấy giờ Bồ Tát Tăng Quảng, sau khi nghe xong Phật Như Lai ca ngợi Bồ Tát
Địa Tạng thì chắp tay quỳ xuống , bạch với Phật rằng Thế Tôn con đã nghe từ lâu vị Đại
Sĩ này có những thần lực không thể nghĩ bàn và lời đại thệ nguyện. Nhưng vì đại lợi ích
của các chúng sinh ở các đời sau này, con kính xin được hỏi Thế Tôn và con xin trân
trọng được lắng nghe câu trả lời của Như Lai. Thưa Thế Tôn kinh này có tên là gì để
trong khi lưu truyền kinh con nói cho mọi người rõ. Phật bảo Bồ Tát Tăng Quảng rằng
kinh này có ba tên gọi một tên gọi là Địa Tạng Bản Nguyện, một tên khác cũng gọi là Địa
Tạng Bản Hành, một tên khác nữa gọi là Địa Tạng Bản Thệ Lực Kinh, lý do vì rằng Bồ
Tát Địa Tạng từ những tiền kiếp xa xưa có những lời đại thệ nguyện. Vì lợi ích của các
chúng sinh các con hãy tâm nguyện mà lưu truyền kinh này. Bồ Tát Tăng Quảng nghe lời
Phật dạy xong bèn chắp tay cung kính lạy Phật mà lui ra.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH QUYỂN THƯỢNG.
LỢI ÍCH TỒN VONG PHẨM ĐỆ THẤT.
Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát bạch với Phật rằng Thế Tôn con thấy rằng tâm và ý của
chúng sinh tại cõi Diêm Phù Đề này luôn bị xáo trộn, không phải là không sai vì như thế
để mất đi thật nhiều lợi ích, nhiều chúng sinh mới bắt đầu học Phật đã phải thối lui. Nếu
gặp ác duyên, ý niệm tăng lên, những người như thế giống như đi giày trong bùn lầy,
hoặc vai phải vác đá nặng, mỗi lúc một nặng thêm, bước chân lún sâu dần. Nếu gặp
được người tri thức giúp cho giảm bớt gánh nặng hoặc hết hẳn gánh nặng. Người tri
thức ấy có đại lực, lại giúp đỡ khuyên bảo làm cho đôi chân bền vững như đi trên đất
bằng phẳng, tu tỉnh vượt qua ác lộ, không còn phải trải qua nữa. Thưa Thế Tôn, các tập
quán ác hại của các chúng sinh, từ nhỏ như tơ hào cho đến nhiều vô lượng kể. Những
chúng sinh có tập quán ác hại như thế, khi lâm chung, phụ mẫu quyến thuộc nên làm việc
phúc đức giúp sức cho họ tiến lên con đường phía trước, hoặc treo cờ lọng, hoặc đốt
đèn nhang, hoặc chuyển đọc tôn kinh hoặc cúng dường Phật tượng cùng Thánh tượng,
thậm chí niệm Phật Bồ Tát cùng danh tự Bích Chi Phật, một tên, một hiệu đọc rõ ràng
cho tai người lâm chung nghe được hoặc nghe được trong tiềm thức, những chúng sinh
trước đã tạo ác nghiệp, theo đúng chiêu cảm phải đọa ác đạo, nhưng nhờ quyến thuộc vì
người lâm chung tu tạo nhân lành mà ác nghiệp tất được tiêu giảm. Nếu trong bốn chín
ngày sau khi lâm chung, thân quyến của người chết tạo nên nhiều việc thiện thì có thể làm
cho người chết mãi mãi không rơi vào ác đạo mà lại được sinh vào cõi nhân thiên thụ
hưởng nhiều phước lạc, những quyến thuộc cũng hưởng nhiều lợi ích vô lượng. Đây là lý
do nay con đứng trước Phật Thế Tôn cùng thiên long bát bộ, nhân, phi nhân khuyên bảo
chúng sinh cõi Diêm Phù Đề vào ngày lâm chung hãy cẩn trọng đừng sát hại tạo nên ác
duyên, cúng bái quỷ thần, khẩn cầu yêu quái làm gì. Những sát hại ấy thậm chí những sự
cúng bái ấy chẳng có một tơ hào thần lực hoặc lợi ích gì cho người chết mà lại còn kết
thêm nguyên nhân của tội lỗi, chuyển thành nặng thêm tội. Giả như người chết ở kiếp vị
lai hoặc kiếp hiện tại gặt hái được phần Thánh đức, được sinh vào cõi nhân thiên, nhưng
vì quyến thuộc của người lâm chung gây nhân ác cho mình cũng khiến người lâm chung
phải liên luỵ tai ương, đối biện và trì hoãn việc sinh nơi tốt lành, huống chi người mệnh
chung khi sinh thời chưa từng có chút ít thiện căn nào, vậy căn cứ theo bản nghiệp mà
phải đọa vào ác thú. Sao nỡ để quyến thuộc làm tăng nghiệp dĩ. Ví như có người đi từ xa
đến, đã ba ngày không có lương thực ăn mà vai phải gánh vật nặng đã quá trăm cân,
nay gặp ông hàng xóm lại đặt thêm ít lên gánh, do đó mà gánh trở thành nặng hơn nữa.
Thưa Thế Tôn con thấy chúng sinh Diêm Phù Đề (13) trong sự giáo hoá của chư Phật thì
trong những việc thiện, chỉ nhỏ như một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát hoặc một
hạt bụi thì đó là những lợi ích cũng phải do chính mình đạt được. Khi Địa Tạng Vương Bồ
Tát nói đến lời này thì trong buổi hội có một Trưởng Giả tên gọi là Đại Biện, đã từ lâu
chứng được vô sinh (14), hoá độ thập phương, hiện mang thân Trưởng Giả, chắp tay
cung kính hỏi Địa Tạng Vương Bồ Tát rằng thưa Đại Sĩ có phải chúng sinh cõi Diêm Phù
Đề sau khi mệnh chung, các quyến thuộc lớn nhỏ nên tu công đức, thiết lập trai giới, làm
những việc thiện thì người chết được hưởng đại lợi và được giải thoát không? Địa Tạng
Bồ Tát đáp rằng thưa Trưởng Giả tôi vì các chúng sinh ở đời nay và các đời sau và thừa
thần lực của Đức Phật mà lược thuyết về việc này. Thưa Trưởng Giả các chúng sinh ở
đời này, các đời sau vào ngày mệnh chung mà nghe được tên một vị Phật, một vị Bồ Tát
hoặc tên một vị Bích Chi Phật, không cần có tội hay không có tội, tất cả sẽ được giải
thoát. Nếu có thiện nam, tín nữ nào lúc sinh tiền không tu gieo nhân thiện, tạo nhiều tội lỗi.
Sau khi mệnh chung, quyến thuộc lớn nhỏ của người chết tạo nên nhiều điều phúc lợi.
Trong toàn thể công đức của quyến thuộc tạo ra, cứ bảy phần thì người chết được
hưởng một phần, còn sáu phần công đức người sống được hưởng. Đó là lý do các thiện
nam, tín nữ trong đời này cùng các đời sau hãy nghe mà lo tu sửa để được hưởng phần
của mình. Nhưng bất kỳ đại quỷ vô thường đến, thần hồn đi trong tăm tối chưa biết tội
phúc ra sao, trong vòng bốn mươi chín ngày như ngu si, như lung điếc, hoặc chờ ở tại
các ty biện luận nghiệp quả. Sau khi phán định, cứ theo đó mà thụ sinh, không thể đo
lường được thời gian, ngàn vạn sầu khổ, huống là lại phải đọa vào đường ác thú. Nếu
người chết chưa thụ sinh, trong vòng bốn mươi chín ngày, trong khi niệm niệm hãy
hướng về những người thân thuộc, cốt nhục mong tạo phúc lực mà cứu giải cho. Quá
ngày đó, đọa nghiệp phải chịu sự thụ báo, nếu tội nhân phải trải qua trăm ngàn năm, thì
không có ngày giải thoát. Nếu là tội ngũ vô gián tội thì ắt phải đọa vào đại địa ngục ngàn
kiếp vạn kiếp mãi mãi chịu những thống khổ. Thứ đến thưa Trưởng Giả những chúng
sinh chịu nghiệp tội như thế, sau khi mệnh chung mà thân quyến, cốt nhục lại tu trái giới,
tương trợ cho nghiệp đạo. Lúc chưa trai giới cũng như lúc trai giới nước dùng để vo
gạo, lá rau không được bỏ dưới đất, thậm chí các món ăn chưa cúng Phật cũng không
được ăn trước, nếu như vi phạm thì món ăn không tinh khiết nữa và người mệnh chung
cũng chẳng được ích lợi gì. Nếu món ăn cúng Phật được tinh khiết khi dâng cúng dường
Phật, Tăng thì người mệnh chung cứ bảy phần phúc đức thì được hưởng một phần.
Thưa Trưởng Giả đó là lý do mà các chúng sinh trong cõi Diêm Phù Đề nên vì cha mẹ
mình hoặc quyến thuộc mình mà thiết lập trai đàn cúng dường, chí tâm, cần mẫn như thế
thì người sống cũng như kẻ đã chết đều được hưởng lợi. Khi Địa Tạng Bồ Tát nói đến
đây thì quỷ thần của cõi Diêm Phù Đề tại Đao Lợi Thiên Cung có đến ngàn vạn ức na do
tha, tất cả đều phát tâm vô lượng Bồ Đề. Trưởng Giả Đại Biện làm lễ mà lui ra.
DIÊM LA VƯƠNG CHÚNG TÁN THÁN PHẨM ĐỆ BÁT
Lúc bấy giờ trong núi Thiết Vi có vô lượng quỷ vương cùng với Diêm La thiên tử đều đến
Đao Lợi Thiên Cung, đến chỗ Phật ngự. Các quỷ vương gồm có ác độc quỷ vương, đa
ác quỷ vương, đại tránh quỷ vương, bạch hổ quỷ vương, huyết hổ quỷ vương, xích hổ quỷ
vương, tán ương quỷ vương, phi thân quỷ vương, điện quang quỷ vương, lang nha quỷ
vương, thiên nhãn quỷ vương, đạm thú quỷ vương, phụ thạch quỷ vương, chủ háo quỷ
vương, chủ họa quỷ vương, chủ thực quỷ vương, chủ tài quỷ vương, chủ súc quỷ vương,
chủ cầm quỷ vương, chủ thú quỷ vương, chủ mị quỷ vương, chủ sản quỷ vương, chủ
mệnh quỷ vương, chủ tật quỷ vương, chủ hiểm quỷ vương, tam mục quỷ vương, tứ mục
quỷ vương, ngũ mục quỷ vương, kì lợi thất vương, đại kì lợi thất vương, kì lợi xoa vương,
đại kì lợi xoa vương, a na sất vương, đại a na sất vương. Ngần ấy loại đại quỷ vương,
mỗi loại quỷ vương lại mang theo trăm ngàn tiểu quỷ vương, đều cư ngụ tại Diêm Phù
Đề, có tài nghệ, tinh thông. Những quỷ vương này và Diêm Phù Đề thiên tử nhờ uy thần
của Phật và độ lực của Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát đều đến được cung trời Đao
Lợi, tất cả đứng về một bên. Lúc bấy giờ Diêm La thiên tử quỳ xuống một bên gối và
chắp tay bạch Phật rằng nay chúng con và các quỷ vương nhờ Phật lực và thần lực của
Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát mới đến dự hội được tại Đao Lợi thiên cung, cũng
để chúng con gặt hái được nhiều điều lợi ích, nay con có một điều còn nghi ngại, con xin
được hỏi Thế Tôn. Kính nguyện Thế Tôn từ bi giảng giải . Phật bảo Diêm La thiên tử
rằng cứ tự nhiên hỏi ta sẽ vì con mà giảng nghĩa. Lúc bấy giờ Diêm La thiên tử chiêm lễ
Thế Tôn rồi quay lại nhìn Địa Tạng Bồ Tát mà bạch Phật rằng con thấy rằng trong lục đạo
Địa Tạng Bồ Tát đã dùng trăm ngàn phương tiện để cứu độ chúng sinh chịu tội khổ,
không quản ngại mệt nhọc. Vị Đại Bồ Tát này có sức thần thông không thể nghĩ bàn. Tuy
nhiên các chúng sinh khi thoát được tội báo, thì chẳng bao lâu phải đọa vào ác đạo trở
lại. Thưa Thế Tôn vị Bồ Tát này đã có thần lực không thể nghĩ bàn cớ sao các chúng sinh
lại không ở mãi trong đường thiện, mãi mãi được giải thoát. Kính nguyện Thế Tôn vì con
mà giảng giải. Phật bảo Diêm La thiên tử rằng Diêm Phù Đề chúng sinh tính khí rất ương
ngạnh, khó khăn điều phục. Vị Đại Bồ Tát này trong trăm ngàn kiếp đã dẫn dắt và cứu độ
biết bao nhiêu là chúng sinh, sớm được giải thoát, những chúng sinh bị tội báo thậm chí
bị đọa vào đại ác đạo, Bồ Tát đã dùng phương tiện thần lực cứu họ ra khỏi căn bản
nghiệp duyên, khiến thấy được những việc làm trong kiếp trước. Rồi tự động các chúng
sinh trong cõi Diêm Phù Đề này lại kết tập những tội ác, nên vừa ra khỏi ác đạo thì lại
phải vào trở lại, làm khổ nhọc Bồ Tát trong nhiều kiếp để lo độ thoát họ. Ví dụ như có
người bị mê, lạc mất cả gia đình, lầm lỡ phải vào hiểm đạo. Trong hiểm đạo có nhiều
quỷ dạ xoa cùng cọp, chó sói, sư tử, rắn đôc, bọ cạp. Người bị lạc đường này trong
hiểm đạo bỗng chốc gặp phải các loài độc hại. Có một người tri thức có đại tài giải cứu,
ngăn cản các loài độc hại người kể cả dạ xoa và các loài độc khác. Chợt thấy người lạc
đường muốn đi vào hiểm đạo, người tri thức kêu lên hỏi rằng ối chao! Hỡi người nam
kia cớ sao lại đi vào con đường ấy? Có tài thuật gì không để chế ngự các loài độc hại
không? Người lạc đường kia, bỗng nghe những lời cảnh báo trên thì biết mình đang đi
vào hiểm đạo, tức thì đi lùi bước lại và cầu xin được cứu khỏi con đường nguy hiểm này.
Người thiện tri thức đưa tay dẫn dắt người lạc đường đi ra khỏi hiểm lộ, tránh được
những độc hại đến được nơi tốt lành, sống trong an lạc. Người thiện tri thức lại dặn dò
rằng ôi chao người lạc đường kia! Từ nay về sau đừng đi vào đường nguy hiểm đó nữa,
con đường ấy vào rồi thì rất khó ra chỉ tổn hại đến tính mạng. Người lạc đường nghe vậy
sinh lòng cảm trọng. Trong lúc chia tay, người tri thức lại nói rằng nếu trông thấy người
thân, người quen biết hoặc người khác đi trên đường, hoặc nam hoặc nữ thì hãy nói cho
họ biết con đường ấy có nhiều độc hại, làm mất tính mệnh, đừng để cho những người
này tìm vào chỗ chết. Đây chính là Địa Tạng Bồ Tát là vị đại từ bi, cứu độ các chúng sinh
chịu tội khổ và được sinh vào cõi nhân thiên để được hưởng an lạc. Những tội nhân này
biết được nghiệp đạo rất khổ, thoát được ra rồi không bao giờ để phải trải qua nữa.
Như người lạc đường, lầm lỡ đi vào hiểm đạo may gặp được thiện tri thức dẫn lối cho
ra, mãi mãi không bao giờ đi vào đường ấy nữa. Người ấy gặp kẻ khác cũng khuyên kẻ
khác đừng vào hiểm đạo. Người lạc đường tự hứa rằng tôi vì mê lạc, nay được giải
thoát rồi, tôi sẽ không đi vào con đường ấy nữa. Nếu lại đi vào đường cũ do còn mê lạc,
không biết rằng xưa kia đã từng lạc vào hiểm đạo đến mất mạng vì phải đọa vào con
đường ác, may nhờ Địa Tạng Bồ Tát dùng mọi phương tiện, thần lực giải thoát và sinh
vào cõi nhân thiên. Phút chốc lạc trở lại đường ác, nếu nghiệp nặng sẽ mãi mãi ở trong
địa ngục, không mong gì có ngày giải thoát. Lúc bấy giờ ác độc quỷ vương chắp tay
cung kính bạch Phật rằng Thế Tôn chúng con là những quỷ vương, con số là vô lượng tại
cõi Diêm Phù Đề, chúng con hoặc làm lợi ích cho loài người hoặc làm tổn hại cho loài
người, mỗi loại đều khác nhau. Tuy nhiên do nghiệp báo làm cho chúng con và quyến
thuộcphải đi khắp nơi trên thế giới, làm ác nhiều, thiện ít. Khi đi qua gia đình của loài
người, hoặc tụ lại sống trong thành ấp, viên trang, phòng xá, hoặc có nam tử nữ nhân
nào tu thiện dù nhỏ nhoi như sợi tơ, sợi tóc, thậm chí treo cờ, lọng thiếu hương, thiếu hoa
để cúng dường Phật tượng cùng Bồ Tát tượng hoặc chuyển đọc tôn kinh, đốt hương
cúng dường, một câu, một kệ, quỷ vương chúng con kính lễ người ấy, như kính lễ chư
Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai và ra lệnh cho các tiểu quỷ, chúng có đại lực cùng các
thổ địa nơi ấy phải bảo vệ người ấy không để cho sự ác, tai ương, bệnh tật thậm chí
những việc không như ý xảy đến gần những nhà cửa của họ huống hồ lại xảy ngay trong
nhà sao. Phật khen ngợi các quỷ vương rằng may thay! May thay! Các con cùng với
Diêm La thiên tử đã có thể hỗ trợ cho các thiện nam tín nữ như thế. Ta sẽ bảo Phạm
Vương Đế Thích phải bảo vệ các con. Khi Phật nói xong những lời này thì có một quỷ
vương tên gọi là Chủ Mệnh bạch Phật rằng thưa Thế Tôn, nghiệp duyên của con chủ về
nhân mệnh của cõi Diêm Phù Đề, khi sống cũng như lúc chết con đều kiểm soát. Bản
nguyện của con là những chúng sinh tham lam lợi ích cho mình thì không đúng ý của con,
con sẽ làm cho các chúng sinh này lúc sống, lúc chết sẽ không được yên ổn. Lý do vì
sao? Khi trẻ mới sinh trong cõi Diêm Phù Đề, không kể nam hay nữ, khi sinh, đối với
chúng sinh làm những việc thiện, sẽ được tăng ích lợi cho gia đình, thổ địa từ nay cũng
được vô cùng hoan hỉ và mẹ con được đại an vui. Gia đình quyến thuộc được lợi ích
nữa. Hoặc khi sinh đẻ rồi, hãy cẩn thận đừng sát sinh lấy đồ ăn tươi nuôi dưỡng sản
mẫu, cũng như quyến thuộc tụ tập lại để uống rược ăn thịt, ca nhạc đàn hát, hai mẹ con
như thế sẽ không được an toàn. Lý do vì sao? Vì lúc sinh sản khó khăn này có vô số ác
quỷ, yêu quái, si mị muốn ăn những tinh huyết. Nên con thường sớm ra lệnh cho thổ địa,
thần đất trong nhà phải bảo vệ hai mẹ con mới sinh được an lạc, người được lợi ích an
lạc như thế cần phải làm điều phúc đức để đáp lại các thổ địa thay vì sát hại, tụ tập quyến
thuộc ăn nhậu, tai họa phải tự nhận lấy, hai mẹ con mới sinh cũng đều bị tổn hại. Lại nữa
ở cõi Diêm Phù Đề, khi người nào mệnh chung, không kể người ấy thiện hay ác, con
còn muốn cho người mệnh chung không phải lạc vào đường ác, huống hồ người tự tu
thiện căn càng tăng sức lực cho con. Ở cõi Diêm Phù Đề người làm việc thiện khi lâm
chung còn có cả hàng trăm ngàn quỷ thần ở ác đạo hoặc biến giả làm cha mẹ thậm chí
thân bằng quyến thuộc tiếp dẫn người chết lạc vào ác đạo, huống hồ người chết đã tạo
nên ác nghiệp. Thưa Thế Tôn, ở cõi Diêm Phù Đề những nam tử nữ nhân khi lâm chung,
thần thức hôm mê, không kể thiện ác, mắt tai chẳng thấy chẳng nghe thấy gì, thân quyến
nên thiết lập đại cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát và do
thiện duyên ấy mà có thể khiến cho người chết tránh được xa ác đạo, các ma quỷ thần
tất đều phải phân tán, tháo lui. Thưa Thế Tôn, toàn thể các chúng sinh khi lâm chung nếu
như nghe được danh hiệu của một vị Phật, một vị Bồ Tát hơặc nghe được Đại Thừa kinh
điển, một câu, một kệ, con thấy những người được nghe như kể, trừ tội vô gián do sat
hại, các tiểu ác nghiệp đúng ra phải đọa ác đạo thì tất cả đều được giải thoát. Phật bảo
Chủ Mệnh quỷ vương rằng con thật có tâm đại từ, có thể phát đại nguyện như thế, giúp
đỡ các chúng sinh trong sự sinh tử. Nếu trong các đời sau có những nam tử, nữ nhân
sinh ra hoặc chết đi con nhớ vẫn không rút lại đại nguyện này để giúp các chúng sinh
được giải thoát, mãi mãi an lạc. Quỷ vương bạch Phật rằng xin Thế Tôn đừng lo lắng.
Trong khi còn mang hình hài này, con luôn tâm niệm hỗ trợ cho các chúng sinh Diêm Phù
Đề, khi sống cũng như lúc chết đều được an lạc. Nhưng con cũng xin trong khi sinh cũng
như lúc chết hãy tin vào lời nói của con, không ai là không được giải thoát và đạt được
đại lợi ích. Lúc bấy giờ Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát rằng đại quỷ vương Chủ Mệnh đã
trăm ngàn đời làm quỷ vương trong sinh tử của chúng sinh, luôn hỗ trợ cho các chúng
sinh, là Đại Sĩ có tâm nguyện đại từ bi. Thân xác tuy là đại quỷ nhưng thực sự không phải
là quỷ. Qua sau một trăm bảy mươi kiếp sẽ đắc quả Phật tên hiệu gọi là Vô Tướng Như
Lai, tên kiếp là An Lạc, thế giới tên là Tịnh Trụ, vị Phật ấy có thọ mệnh kiếp không thể tính
được. Này Địa Tạng, chuyện đại quỷ vương này thật sự là như vậy, không thể nghĩ bàn
được, Ngài độ giúp cho trời người, con số nhiều cũng vô hạn lượng.
XỨNG PHẬT DANH HIỆU PHẨM ĐỆ CỬU.
Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng thưa Đức Thế Tôn, con nay vì
các chúng sinh các đời sau mà nói về sự lợi ích trong sinh tử để được đại lợi ích. Kính
nguyện Thế Tôn nghe con nói. Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát rằng nay con đem lòng từ bi
cứu độ tất cả các chúng sinh chịu tội khổ trong lục đạo, sự lợi ích không thể nghĩ bàn.
Nay chính là lúc con hãy nói ngay đi. Để khi ta nhập Niết Bàn con sẽ sớm hoàn tất lời
nguyện này. Ta cũng không có gì phải lo lắng về toàn thể các chúng sinh ở thời hiện tại,
hoặc các đời sau nữa. Địa Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng Thưa Thế Tôn trong quá khứ, vô
lượng a tăng kỳ kiếp có một vị Phật xuất thế, tên hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. Nếu có
nam tử nữ nhân nào nghe được tên hiệu của Đức Phật tức thời sinh lòng cung kính thì
người ấy sẽ vượt qua được bốn mươi kiếp sinh tử trọng tội, huống hồ còn đắp tượng
họa hình cúng dường ca tụng thì người ấy sẽ được phúc lợi vô lượng vô biên. Lại nữa ở
trong quá khứ hằng hà sa số kiếp có Phật xuất thế, hiệu Bảo Tính Như Lai, nếu có nam
tử nữ nhân nào nghe được danh hiệu của Đức Phật, trong khoảnh khắc mà phát tâm quy
y thì vô thượng đạo sẽ không bao giờ thối chuyển. Lại nữa trong quá khứ có Phật xuất
thế tên hiệu là Ba Đầu Ma Thắng Như Lai, nếu có nam tử nữ nhân nào nghe được tên
hiệu của Đức Phật qua nhĩ căn thì người ấy sẽ được ngàn đời tái sinh vào cung trời lục
dục, huống hồ lại hết lòng xướng niệm tên hiệu của Đức Phật. Lại nữa trong quá khứ,
không thể nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn kiếp, có Phật xuất thế tên hiệu là Sư Hống Như
Lai. Nếu có nam tử nữ nhân nào nghe được tên hiệu của Đức Phật, chỉ trong một niệm
quy y thì người ấy sẽ được vô lượng các chư Phật xoa đầu thụ ký. Lại nữa, trong quá
khứ có Phật xuất thế, tên hiệu Câu Lưu Tôn Phật. Nếu có nam tử nữ nhân nào nghe
được tên hiệu của Đức Phật, hết lòng chiêm lễ, hoặc ca tụng, thì người đó trong Hiền
Kiếp hội của ngàn chư Phật được làm Đại Phạm Vương, được thụ thượng ký. Lại nữa
trong quá khứ có Phật xuất thế tên hiệu Tì Bà Thi. Nếu có nam tử nữ nhân nào nghe
được tên hiệu của Đức Phật, sẽ mãi mãi không phải đọa vào ác đạo, thường được sinh
vào cõi trời, người, hưởng phúc lạc. Lại nữa, trong quá khứ, vô lượng vô số, hằng hà sa
số kiếp có Phật xuất thế hiệu Bảo Thắng Như Lai. Nếu có nam tử, nữ nhân nào nghe
được tên hiệu của Đức Phật sẽ không bao giờ bị đọa vào ác đạo, thường sinh vào cõi
trời hưởng phúc lạc. Lại nữa, trong quá khứ có Phật xuất thế, tên hiệu là Bảo Tướng
Như Lai. Nếu có nam tử nữ nhân nào nghe được tên hiệu của Đức Phật mà sinh lòng
cung kính thì người ấy chẳng bao lâu sẽ đắc quả A La Hán (15). Lại nữa, trong quá khứ,
vô lượng a tăng kỳ kiếp, có Phật xuất thế, tên hiệu Cà Sa Tràng Như Lai. Nếu có nam tử
nữ nhân nào nghe được tên hiệu của Đức Phật sẽ vượt qua được một trăm đại kiếp tội
trong sinh tử. Lại nữa trong quá khứ có Phật xuất thế, tên hiệu Đại Thông Sơn Vương
Như Lai. Nếu có nam tử nữ nhân nào nghe được tên hiệu của Đức Phật thì người đó sẽ
được hằng hà sa số chư Phật thuyết pháp, tất sẽ đạt quả Bồ Đề. Lại nữa trong quá khứ
có Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí
Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thanh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện
Phật cùng không thể kể hết các chư Phật, Thế Tôn. Nếu trong hiện tại, hoặc các đời sau
trời, người, nam tử nữ nhân nào niệm được một Phật danh sẽ được công đức vô lượng,
huống hồ niệm được nhiều Phật danh thì các chúng sinh ấy khi sinh ra, lúc chết đi sẽ
được đại lợi, mãi mãi không rơi vào ác đạo. Nếu có người nào trong lúc lâm chung, có
thân nhân trong gia đình, dù chỉ một người, vì người bệnh mà cất cao giọng niệm một
Phật danh, thì người mệnh chung, trừ tội ngũ vô gián, trừ tội nghiệp báo, các tội khác đều
được tiêu trừ. Người chịu tội vô gián, tuy thật nặng nề phải chịu tội hàng ức kiếp không
thể xuất ra, nhưng trong lúc lâm chung có những người khác vì người bệnh mà niệm các
Phật danh thì tội cũng được tiêu giảm, huống hồ các chúng sinh ấy tự xướng, tự niệm
chắc sẽ đạt đưọc phúc đức vô lượng, tiêu diệt được vô lượng tội.
GIẢO LƯỢNG BỐ THÍ CÔNG ĐỨC DUYÊN PHẨM ĐỆ THẬP.
Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thừa uy thần của Phật đứng dậy từ chỗ ngồi
chắp tay và quỳ một bên gối xuống mà bạch Phật rằng thưa Thế Tôn con thấy trong
nghiệp đạo của chúng sinh so sánh về số lượng bố thí có nhẹ, có nặng. Có người đưọc
một đời hưởng phúc, có người được mười đời hưởng phúc, có người được hưởng
trăm, ngàn đời hưởng đại phúc lợi. Sự việc này có nghĩa thế nào? Xin nguyên Đức Thế
Tôn vì con mà nói về sự việc này. Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ Tát Địa Tạng rằng ta nay tại
cung trời Đao Lợi hội cùng toàn thể các chúng sinh mà nói về sự nặng nhẹ của công đức
bố thí của chúng sinh trong cõi Diêm Phù Đề. Con hãy nghe cho kỹ, ta vì con mà nói. Địa
Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng con chưa hiểu rõ việc này, nguyện xin được nghe lời Phật
dạy. Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát rằng ở cõi Nam Phù Đề có những quốc vương, tể phụ,
đại thần, trưởng giả, đại sát lợi, đại bà la môn. Nếu họ gặp những kẻ cùng đinh bần
cùng, thậm chi gù, tàn phế, câm ngọng, điếc ngu si, mù mắt, những kẻ như thế không có
được đầy đủ các bộ phận của thân thể, mà các quốc vương khi muốn bố thí hãy mở lòng
từ bi, tươi cười đích thân đi khắp nơi mà bố thí, hoặc cho người đi bố thí, dùng lời nói
nhẹ nhàng uỷ lạo thì các quốc vương ấy sẽ được nhiều phúc lợi tương tự như công đức
cúng dường hằng hà sa số chư Phật vậy. Vì sao vậy? Vì các quốc vương đã phát đại từ
tâm đối với những kẻ bần tiện, những kẻ tật nguyền. Những phúc lợi do phúc báo cho
hàng trăm ngàn đời. Các quốc vương thường được thụ hưởng thất bảo, huống hồ gì
quần áo, đồ ăn uống và các thứ cần thiết trong đời sống. Lại nữa Địa Tạng, nếu trong
các đời sau những quốc vương hoặc bà la môn nào gặp Phật tháp tự hoặc hìmh tượng
Phật, thậm chí Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật tượng mà cúc cung tự lo liệu việc cúng
dường bố thí thì những quốc vương ấy sẽ được ba kiếp làm thân Đế Thích hưởng phúc
lạc. Nếu lấy phúc lợi của sự bố thí lại hồi hướng Pháp giới thì những đại quốc vương ấy
trong mười kiếp thường làm Đại Phạm Thiên Vương. Lại nữa Địa Tạng, nếu trong các
đời sau có những quốc vương hoặc bà la môn nào gặp Phật tháp, miếu trước đây hoặc
kinh tượng bị huỷ hoại, thất lạc mà phát tâm tu bổ, những quốc vương ấy hoặc tự mình lo
liệu lấy hoặc khuyến khích người khác làm, thậm chí cả trăm ngàn người, bố thí kết duyên
thì những quốc vương ấy trong trăm ngàn đời thường làm Chuyển Luân Vương thân,
những người cùng bố thí thì trong trăm ngàn đời thường làm tiểu quốc vương. Nếu có thể
trước tháp miếu phát tâm hồi hướng thì những quốc vương ấy cùng với những người
khác cuối cùng sẽ thành Phật đạo, đây là được quả báo vô lượng vô biên. Lại nữa Địa
Tạng, trong các đời sau nếu có những quốc vương cùng bà la môn, thấy người già bệnh
hoặc các sản phụ, trong một niệm sinh lòng từ bi bố thí cho họ thuốc thang, ẩm thực,
chăn mền để ngủ để họ được an lạc, việc làm như thế tạo ra rất nhiều phúc lợi không thể
nghĩ bàn. Trong hàng trăm kiếp thường được làm Tịnh Cư Thiên Chủ, trong hai trăm kiếp
thường làm Lục Dục Thiên Chủ, cuối cùng thành Phật đạo, vĩnh viễn không bị đọa vào ác
đạo, thậm chí hàng trăm ngàn kiếp tai không còn nghe thấy tiếng khổ. Lại nữa Địa Tạng,
nếu trong các đời sau có những quốc vương hoặc bà la môn có thể làm việc bố thí như
thế này thì được phúc vô lượng nếu có thể hồi hướng, không cần biết ít hoặc nhiều, cuối
cùng sẽ được thành Phật, huống hồ phúc báo như làm Thích, Phạm, Chuyển Luân
Vương. Địa Tạng, đó là lý do càng nên khuyến khích các chúng sinh học làm như thế. Lại
nữa Địa Tạng, trong các đời sau nếu có thiện nam, tín nữ nào trong Phật Pháp mà gieo
trồng được chút ít thiện căn dù nhỏ như sợi lông, sợi tóc hoặc hạt cát, hạt bụi cũng đều
được hưởng phúc lợi không đâu bằng. Lại nữa Địa Tạng, trong các đời sau nếu có thiện
nam, tín nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình
tượng Chuyển Luân Vương mà bố thí cúng dường sẽ được vô lượng phúc, thưòng
được sinh vào cõi trời, người để hưởng phúc lạc. Nếu có thể hồi hướng Pháp giới thì
người đó được phúc lợi không ai sánh bằng. Lại nữa Địa Tạng, nếu trong các đời sau
có thiện nam tín nữ nào gặp Đại Thừa kinh điển nghe được một kệ, một câu, phát tâm
ơn trọng, tán tụng, cung kính, bố thí cúng dường, người đó sẽ được đại quả báo, vô
lượng vô biên. Nếu có thể hồi hướng Pháp giới, thì phúc lợi của người đó không ai so bì
kịp. Lại nữa Địa Tạng, nếu trong các đời sau có thiện nam tín nữ nào gặp Phật tháp tự,
Đại Thừa kinh điển còn mới mà bố thí cúng dường, chiêm lễ, ca tụng, chắp tay cung kính,
nếu gặp tháp tự đã cũ bị huỷ hoại mà tu bổ lại, mở mang hoặc một mình phát tâm, hoặc
khuyến khích nhiều người cùng phát tâm. Những người cùng phát tâm trong ba mươi đời
thường làm tiểu quốc vương, người cúng đàn thường được làm Luân Vương, còn đem
thiện pháp mà giáo hóa cho các tiểu quốc vương. Lại nữa Địa Tạng, nếu trong các đời
sau có thiện nam, tín nữ nào mà trong Phật pháp trồng được thiện căn, hoặc bố thí cúng
dường, hoặc tu bổ tháp tự, hoặc trang lý kinh điển, thậm chí những việc làm tốt ấy chỉ nhỏ
như tơ hào, hạt bụi, hạt cát, giọt nước, lại có thể đem hồi hướng Pháp giới thì công đức
của người ấy trong hàng trăm ngàn đời được hưởng phúc lạc. Nhưng đem công đức ấy
mà hồi hướng cho thân nhân quyến thuộc hoặc tự mình hưởng lấy thì quả ấy hưởng
được ba đời. Bỏ một mà được cả vạn phúc báo. Địa Tạng đó là sự việc về nhân duyên
trong bố thí.
ĐỊA THẦN HỘ PHÁP PHẨM ĐỆ THẬP NHẤT.
Lúc bấy giờ kiên lao Địa thần bạch Phật rằng thưa Thế Tôn, con từ xưa đã chiêm ngắm,
đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, các ngài đều có đại thần thông, trí tuệ không thể nghĩ
bàn độ khắp các chúng sinh. Địa Tạng Bồ Tát là trong số các vị Bồ Tát có lời thệ nguyện
rất sâu nặng. Thưa Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát có đại nhân duyên trong cõi Diêm Phù Đề
này. Cũng như các vị Đại Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Thế Âm, Di Lặc hoá thân
thành trăm ngàn thân hình để độ cho chúng sinh trong lục đạo, ấy thế mà các lời nguyện
của các ngài còn có những giới hạn. Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa toàn thể chúng sinh trong
lục đạo, lời phát nguyện của Địa Tạng Bồ Tát đã trải qua nhiều số kiếp, có thể hàng trăm
ngàn ức hằng hà sa số. Thưa Thế Tôn, con thấy các chúng sinh ở đời hiện tại cùng các
đời sau, ở những nơi trú ngụ trong miền đất phía Nam thanh khiết dùng đất, đá, trúc, gỗ
để làm những gác nhỏ, phía trong đắp tượng, họa hình, thậm chí dùng vàng, bạc, đồng,
sắt để đúc hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát và thắp hương khói cúng dường, chiêm lễ,
ca tụng ngài. Những cư dân ấy tức thời được hưởng mười loại lợi ích. Mười điều lợi ích
đó là. 1/ Đất đai màu mỡ; 2/ Gia trạch mãi mãi được yên ổn; 3/ Những người đã chết
được sinh nơi cõi trời; 4/ Những người còn sống được hưởng tuổi thọ; 5/ Những ước
cầu được toại ý; 6/ Không bị tai họa về nước, lửa; 7/ Tránh được sự hoang phí; 8/ Lấp
hết những ác mộng; 9/ Ra vào có thần hộ mệnh; 10/ Thường gặp những nhân lành thánh
thiện. Thưa Thế Tôn, các chúng sinh đời này cũng như đời sau, ở những nơi cư trú của
họ có thể làm như trên để cúng dường Đức Địa Tạng Bồ Tát thì cũng được hưởng
những lợi ích như thế. Kiên lao Địa thần lại bạch Phật rằng thưa Thế Tôn trong các đời
sau nếu có thiện nam, nữ tín nào có kinh điển cùng tượng của Bồ Tát ở nơi trú ngụ, lại
chuyển đọc kinh điển, cúng dường Bồ Tát, con thường ngày đêm dùng thần lực của con
để bảo vệ cho người ấy, thậm chí các tai ương về nước lửa, trộm cắp, tai nạn lớn nhỏ,
tất cả các sự tai ác đều bị trừ diệt. Phật bảo Kiên lao Địa thần rằng ngươi có đại thần
lực mà các thần khác không bì được. Vì sao thế? Đất đai ở cõi Diêm Phù Đề chịu ơn
bảo hộ của nhà ngươi, thậm chí thảo mộc, cát đá, trúc tre, lúa, các vật quí giá đều từ đất
mà có được đều do thần lực của nhà ngươi. Nay nhà ngươi lại xưng tán dương những
lợi ích do Địa Tạng Bồ Tát thì công đức và thần thông của nhà ngươi còn trăm ngàn lần
hơn các Địa thần khác. Nếu trong các đời sau có thiện nam, tín nữ nào cúng dường Bồ
Tát, cùng chuyển đọc kinh này cùng y theo lời nguyện của Địa Tạng Bồ Tát chuyên lo tu
hành, nhà ngươi sẽ dùng thần lực của mình mà bảo vệ người ấy, không để cho những tai
ương cùng các điều bất như ý lọt vào tai nghe, huống hồ lại phải chịu những tai ương ấy.
Chẳng những một mình nhà ngươi bảo vệ người ấy, lại còn có quyến thuộc Phạm Thích,
quyến thộc của chư Thiên giúp đỡ người ấy nữa. Vì sao mà được sự bảo vệ của các
bậc Thánh Hiền như vậy? Đó là đều do chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát và chuyển đọc Bản
Nguyện kinh này của Bồ Tát. Tự nhiên cuối cùng những người này được thoát khỏi bể
khổ mà chứng được Niết Bán an lạc. Đây chính là đã được sự giúp đỡ to lớn vậy.
KIẾN VĂN LỢI ÍCH PHẨM ĐỆ THẬP NHỊ.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn từ đỉnh đầu của Ngài phóng ra trăm ngàn vạn ức Đại Hào Tướng
Quang. Những Đại hào Tướng Quang bao gồm: Bạch hào tướng quang, Đoan hào
tướng quang, Đại Đoan hào tướng quang, Ngọc hào tướng quang, Đại Ngọc hào tướng
quang, Tử hào tướng quang, Đại Tử hào tướng quang, Thanh hào tướng quang, Đại
Thanh hào tướng quang, Bích hào tướng quang, Đại Bích hào tướng quang, Hồng hào
tướng quang, Đại Hồng hào tướng quang, Lục hào tướng quang, Đại Lục hào tướng
quang, Kim hào tướng quang, Đại Kim hào tướng quang, Khánh vân hào tướng quang,
Đại Khánh Vân hào tướng quang, Thiên Luân hào quang, Đại Thiên Luân hào quang,
Bảo Luân hào quang, Đại Bảo Luân hào quang, Nhật Luân hào quang, Đại Nhật Luân
hào quang, Nguyệt Luân hào quang, Đại Nguyệt Luân hào quang, Cung Điện hào quang,
Đại Cung Điện hào quang, Hải Vân hào quang, Đại Hải Vân hào quang. Từ đỉnh đầu của
Thế Tôn đã phóng ra ngần ấy loại hào tướng quang, lại xuất ra những âm thanh vi diệu
báo cho đại chúng, thiên long bát bộ, nhân, phi nhân, hãy nghe ta hôm nay tại cung trời
Đao Lợi xưng dương, ca ngợi Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng những lợi ích trước trời,
người, những việc không thể nghĩ bàn, những nguyên nhân siêu Thánh, chứng thập địa
sự và cuối cùng bất thối A Nậu Đa La Tam Niệu Tam Bồ Đề. Sau khi Đức Phật nói xong
những lời này thì trong buổi hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát, danh hiệu là Quan Thế Âm,
từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay quỳ xuống một chân mà bạch Phật rằng thưa Thế Tôn, vị
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát này thật sự đại từ bi, thương xót các chúng sinh chịu tội khổ
ở ngàn vạn ức thế giới, đã hóa ra ngàn vạn ức hóa thân. Công đức và thần lực của Bồ
Tát Địa Tạng thật sự không thể nghĩ bàn. Con nghe Thế Tôn cùng thập phương vô lượng
chư Phật cùng ca ngợi Địa Tạng Bồ Tát rằng ngay cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại,
vị lai nói về công đức của Địa Tạng Bồ Tát cũng không hết được. Trước đây Thế Tôn đã
từng ca ngợi và nói tổng quát những việc làm công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Xin
nguyện Thế Tôn hãy vì toàn thể chúng sinh trong đời này và các đời sau nói về công đức
không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát để cho thiên long bát bộ được chiêm lễ mà
được hưởng phúc đức. Phật bảo Quan Thế Âm Bồ Tát rằng con có đại nhân duyên với
Ta Bà thế giới. Nếu như trời, rồng, nam, nữ, thần, quỷ, thậm chí các chúng sinh chịu tội
khổ trong lục đạo nghe được tên hiệu của con, trông thấy hình tượng của con sinh lòng
ngưỡng mộ, ca tụng con, thì những chúng sinh ấy đối với đạo Vô Thượng không bao giờ
sinh lòng thối chuyển và thường sinh vào cõi trời, người để hưởng phúc lạc. Một khi nhân
quả được thuần thục sẽ được gặp Phật thụ ký. Nay con hết lòng từ bi, thương xót chúng
sinh cùng thiên long bát bộ muốn nghe ta nói rõ về những lợi ích của những việc làm
công đức không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Vương Bồ Tát thì hãy lắng nghe cho rõ
những lời ta nói. Quan Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng con rất sung sướng được nghe.
Phật bảo Quan Thế Âm Bồ Tát rằng trong các thế giới hiện tại và vị lai, nếu có trời,
người hưởng thiên phúc đã hết, năm tướng suy đã xuất hiện, hoặc phải đọa nơi ác đạo,
nếu như những trời, người ấy, hoặc nam hoặc nữ, lúc đang hiện tướng suy như thế hoặc
thấy được hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát hoặc nghe được tên hiệu của Bồ Tát, một
chiêm ngắm, một lễ bái thì những trời, người ấy chuyển tăng thêm thiên phúc, được
hưởng đại phúc lạc, vĩnh viễn không bị đọa vào tam ác đạo nữa. Huống hồ khi trông thấy,
nghe thấy Bồ Tát lại đem hương hoa, y phục, ẩm thực, đồ quý giá như ngọc chuỗi để bố
thí cúng dường ắt đạt được phúc lợi, công đức vô lượng vô biên. Lại nữa Quan Thế Âm,
nếu ở đời này hoặc các đời sau trong các thế giới, các chúng sinh trong lục đạo khi
mệnh chung mà nghe được tên hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, chỉ cần nghe được một tiếng
lọt qua tai thì những chúng sinh ấy sẽ vĩnh viễn không phải vào tam ác đạo chịu tội khổ.
Nữa là, quyến thuộc, cha mẹ của người lâm chung đem những nhà cửa, tài vật, đồ quý
giá, y phục để đem dùng trong việc đắp tượng, họa hình Địa Tạng Bồ Tát, hoặc cho
người bệnh khi chưa lâm chung được mắt thấy, tai nghe mà biết được quyến thuộc của
mình đang dùng nhà cửa, đồ quý giá trong việc làm công đức này hoặc chính người này
tự làm việc đắp tượng, họa hình Bồ Tát, thì người này nếu là nghiệp báo phải chịu trọng
bệnh nhờ được công đức này mà trọng bệnh được thuyên giảm, tuổi thọ càng tăng.
Người ấy, nếu vì nghiệp báo phải chịu tận mệnh thì tất cả nghiệp chướng, tội chướng
hoặc phải đọa vào ác đạo, nhưng nhờ công đức này, người này sau khi chết tức thời
được sinh vào cõi trời, người để được hưởng phúc lạc và tất cả tội chướng đều tiêu
diệt. Lại nữa Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu trong các đời sau có nam tử, nữ nhân nào, khi
còn sơ sinh, hoặc ba, hoặc năm, mười tuổi đã phải mất cha mẹ hoặc mất anh, em, chị,
em gái. Khi người này lớn lên nhung nhớ cha mẹ hoặc quyến thuộc nhưng không biết
người thân lạc vào đường nào hoặc sinh vào thế giới nào, cõi trời nào. Nếu người này
có thể đắp tượng, họa hình Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe được tên hiệu của Bồ Tát,
chiêm ngắm và lễ bái, một ngày, cho đến bảy ngày mà không thối chuyển sơ tâm, nghe
tên hiệu, ngắm hình, cúng dường Bồ Tát. Nếu quyến thuộc của người này giả như vì
nghiệp báo mà đã phải đọa vào ác đạo, chịu hàng kiếp số nhưng nhờ được công đức
của nam nữ, anh chị em đã đắp tượng họa hình, chiêm ngắm lễ bái Bồ Tát Địa Tạng tức
thì được giải thoát sinh vào cõi trời người, hưởng phúc lạc. Nếu quyến thuộc của người
này có phúc lực đã sinh vào cõi trời hưởng phúc lạc rồi, thì cũng nhờ công đức của
người này mà tăng thêm nhânThánh, hưởng vô lượng phúc lạc. Nếu như người này còn
có thể trong ba, bảy ngày một lòng chiêm lễ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, niệm tên hiệu
của Ngài, niệm được vạn lần, thì sẽ được Địa Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân báo cho
biết quyến thuộc sinh vào thế giới nào, hoặc trong mộng Bồ Tát thể hiện đại thần lực thân
dẫn người này đến được các thế giới để gặp người thân thuộc. Nếu như mỗi ngày niệm
tên hiệu của Bồ Tát được ngàn lần cho đến một ngàn ngày, người này sẽ được Bồ Tát
sai khiến thổ địa, quỷ thần sở tại luôn suốt đời bảo vệ cho. Đời này ăn mặc được đầy đủ,
không chịu bệnh tật khổ sở, những tai ương không vào được cửa nhà. Bản thân nguời
nàycuối cùng được Bồ Tát Ma Ha Tát xoa đầu thụ ký. Lại nữa Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu
trong các đời sau có thiện nam tín nữ nào phát rộng lượng từ tâm muốn cứu độ toàn thể
chúng sinh, muốn tu Đạo Vô Thượng Bồ Đề, muốn xuất ra khỏi tam ác đạo, những
người này trông thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được tên hiệu
của Bồ Tát hết lòng quy y hoặc lấy hương hoa, y phục, đồ quý giá, ẩm thực để cúng
dường, chiêm lễ thì sở nguyện của các thiện nam tín nữ này ắt được thành tựu, không
bao giờ được chướng ngại. Lại nữa Quan Thế Âm, nếu các đời sau có thiện nam tử,
thiện nữ nhân nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức những ước nguyện trong hiện tại, vị lai
hoặc cầu xin trăm ngàn vạn ức sự việc thì phải quy y chiêm lễ, cúng dường, ca tụng hình
tượng của Bồ Tát, như thế sở nguyện sở cầu tất được thành tựu. Lại xin nguyện Đức
Địa Tạng Bồ Tát mở lòng đại từ bi ủng hộ con. Người cầu nguyện ấy trong giấc ngủ sẽ
mộng thấy Địa Tạng Bồ Tát xoa đầu thụ ký. Lại nữa Quan Thế Âm Bồ Tát, trong các đời
sau nếu có thiện nam, tín nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa sinh lòng rất trân trọng
không thể nghĩ bàn, muốn đọc muốn tụng kinh. Nhưng từ khi gặp thày dạy giỏi, chỉ dạy
cho học đã thuần thục, nhưng trải qua năm tháng, vừa thuộc lại quên ngay, không đọc
được nữa, người nam, nữ ấy hẳn có nghiệp chướng từ kiếp trước chưa tiêu trừ được,
nên không thể đọc kinh điển Đại Thừa được. Người này giờ nghe được tên hiệu Địa
Tạng Bồ Tát, thấy được hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, lấy tâm cung kính mà phân
bạch, lại lấy hương hoa, y phục ẩm thực, toàn thể các đồ vàng bạc quý cúng dường Bồ
Tát. Lại lấy nước tinh khiết một chén để trước Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó chắp
tay xin được uống, quay đầu về hướng Nam, khi uống thì hết lòng, trân trọng. Uống cho
thật cạn chén nước. Tránh không dùng năm thứ hăng cay, rượu, thịt, tà, dâm, vọng ngữ
cũng không được sát sinh. Trong bảy ngày đầu hoặc hai mươi mốt ngày thì thiện nam, tín
nữ ấy sẽ thấy Địa Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân trong mộng ngay tại chỗ ở của người
nằm mộng và được Bồ Tát rưới nước lên đỉnh đầu. Người được rưới nước sẽ cảm thấy
tức là được sự thông minh, do đó kinh điển chỉ cần lọt qua lỗ tai là nhớ mãi, càng không
bao giờ quên được một câu kinh, câu kệ nào nữa. Lại nữa Quan Thế Âm Bồ Tát, trong
các đời sau nếu có người nào, quần áo, đồ ăn uống thiếu thốn, những cầu xin đều đến
ngược lại hoặc chịu nhiều bệnh tật hoặc có nhiều hung tin, buồn bã đến, gia đạo bất an,
quyến thuộc phân tán hoặc những điều ngang trái thường đến, tai hại thân thể. Giấc ngủ
thường mộng thấy những điều kinh sợ. Những người ấy nghe được tên hiệu của Địa
Tạng Bồ Tát, thấy được hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát mà hết lòng cung kính, niệm tên
Bồ Tát được vạn lần thì những điều không được vừa ý sẽ từ từ bị tiêu trừ, ắt được sự an
lạc. Y phục, đồ ăn uống sẽ được dư dùng, giấc mộng trong khi ngủ được bình an. Lại
nữa Quan Thế Âm Bồ Tát, trong các đời sau có thiện nam, tín nữ nào, nhân phải lo kế
sinh nhai, lo việc công tư, trong sinh tử, trong sự nguy khốn phải vào rừng núi, qua sông,
vượt biển, gặp nước lớn, hoặc đường xá hiểm nguy, những người đó hãy trước tiên
niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát vạn lần thì thổ địa, quỷ thần chỗ đi qua sẽ bảo vệ cho.
Khi đi đứng nằm ngồi đều được bảo vệ bình an, thậm chí gặp phải các loài hổ báo, lang
sói, sư tử, tất cả các loài độc hại khác cũng không làm hại được những người ấy. Phật
bảo Quan Thế Âm Bồ Tát rằng Địa Tạng Bồ Tát có đại nhân duyên với chúng sinh cõi
Diêm Phù Đề. Nếu nói cho nghe và thấy những việc làm lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng thì
trăm ngàn kiếpcũng không nói hết được. Này Quan Thế Âm, đó là lý do con hãy lấy thần
lực mà lưu truyền và phân bố kinh này để làm cho chúng sinh cõi Ta Bà trăm ngàn vạn
kiếp được sống an lạc. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bèn nói những lời kệ rằng
Ta thấy thần lực Ngài Địa Tạng
Nói cả hằng hà số kiếp cũng không hết
Nghe, thấy, chiêm lễ trong một niệm
Lợi ích đến người, trời thật vô lượng.
Nam tử, nữ nhân hoặc long thần,
Đã hết phúc báo, ắt vào ác đạo
Hết lòng quy y Ngài Đại Sĩ
Thọ mệnh lại tăng, trừ tội chướng.
Thuở nhỏ mất cha, mẹ, người thân
Chưa biết thần hồn họ về đường đâu,
Anh em, trai gái, người thân khác
Sinh ra lớn lên giờ ở đâu
Đắp tượng, họa hình Ngài Đại Sĩ
Bi luyến, chiêm lễ Ngài không ngưng
Ba tuần luôn niệm tên hiệu Ngài
Bồ Tát sẽ hiện thân vô biên
Chỉ chỗ quyến thuộc đã sinh vào
Nếu đọa ác đạo, được xuất ly.
Nếu không thối chuyển sơ tâm ấy
Ắt Ngài xoa đầu cho thụ ký
Muốn tu Vô Thượng Đạo Bồ Đề
Thậm chí thoát ly tam giới khổ
Thì phải phát ngay đại từ tâm
Trước tiên chiêm lễ Đại Sĩ tượng
Tất cả lời nguyện mau thành tựu
Mãi mãi ngăn chặn, vô nghiệp chướng.
Có kẻ phát tâm niệm kinh điển
Muốn giúp người mê đến Bờ Kia
Tuy lời nguyện ấy không nghĩ bàn
Vừa đọc quên ngay, quên hết cả
Người này chắc hẳn nhiều nghiệp chướng
Nên Đại Thừa kinh đọc chẳng nhớ.
Cúng dường Địa Tạng lấy hương hoa
Y phục, ẩm thực cùng quý kim
Dâng chén nước trong trước Đại Sĩ
Một ngày, một đêm cầu rồi uống
Tránh năm loại cay khi phát tâm
Thịt, rượu, tà dâm cùng vọng ngữ
Hai mốt ngày liền không sát sinh
Hết lòng niệm danh Ngài Đại Sĩ
Mộng Ngài đên với Vô biên thân
Ắt thì tai nghe được lợi căn
Những lời kinh dạy lọt qua tai
Ngàn vạn đời sau nhớ chẳng quên
Thần lực Đại Sĩ không thể bàn
Giúp cho người ấy được trí tuệ.
Những người nghèo khổ cùng bệnh tật
Gia trạch bi ai, quyến thuộc ly
Trong mộng ngủ sao chẳng được yên
Bao điều cầu xin chẳng được toại
Chí tâm chiêm lễ ngài Địa Tạng
Tất cả sự ác đều tiêu trừ
Ngay trong giấc mộng, ngủ được an
Y thực đầy đủ, quỷ thần giúp
Muốn vào rừng sâu, vượt biển rộng
Cầm thú độc hại, cùng người ác
Ác thần, ác quỷ với gió chướng
Tất cả khó khăn cùng khổ não.
Vậy phải chiêm lễ và cúng dường
Địa Tạng Bồ Tát, Ngài Đại Sĩ
Trong rừng sâu và biển rộng
Các loài ác hại ắt tiêu trừ.
Quan Âm chú tâm nghe ta nói
Địa Tạng thần lực thật vô tận
Trăm ngàn vạn kiếp nói không hết
Hãy nói cho ai ai cũng biết
Danh ngài Địa Tạng ai nghe được
Thậm chí thấy tượng mà chiêm lễ
Dâng cúng hương, y cùng ẩm thực
Trăm ngàn vạn kiếp hưởng phúc lạc
Nếu đem công đức hồi Pháp Giới
Ắt cuối Thành Phật, vượt sinh tử
Quan âm Bồ Tát con phải biết
Nói cho mọi nước đều cùng biết.
CHÚC LUỸ NHÂN THIÊN PHẨM ĐỆ THẬP TAM.
Lúc bấy giờ Thế Tôn lấy tay có tay áo màu kim sắc của Ngài mà đặt lên đỉnh đầu của Địa
Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát và nói rằng Địa Tạng, Địa Tạng thần lực của con không
thể nghĩ bàn, lòng từ bi của con không thể nghĩ bàn, trí tuệ của con không thể nghĩ bàn, tài
biện luận của con không thể nghĩ bàn, chính đã làm cho chư Phật ở mười phương ca
ngợi con, tuyên thuyết những việc làm công đức không thể nghĩ bàn của con hàng ngàn
vạn kiếp cũng không nói hết được. Địa Tạng, Địa Tạng hãy ghi nhớ rằng hôm nay ta tại
Đao Lợi thiên cung cùng với trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết toàn
thể chư Phật, Bồ Tát, thiên long bát bộ tham dự đại hội, lại mang các loại chúng sinh
người, trời, các chúng sinh chưa xuất khỏi tam giới, những kẻ đang trong nhà lửa mà
phó chúc cho con, con đừng để các chúng sinh ấy phải đọa vào ác đạo dù trong một
ngày, một đêm, huống hồ lại phải giam trong ngũ vô gián cùng địa ngục a tỳ và phải trải
qua hàng ngàn vạn ức kiếp không có ngày ra. Này Địa Tạng, tâm tính chúng sinh cõi
Diêm Phù Đề không định được, tập theo tính ác thì nhiều. Nên phát được thiện tâm, trong
chốc lát là thối lui ngay. Nếu gặp ác duyên thì mỗi lúc một tăng trưởng. Dó là lý do ta phải
phân trăm, ngàn, ức hình tướng để hóa độ, tùy theo căn tính của mỗi người mà độ thoát.
Này Địa Tạng, nay ta đem trời, người mà phó chúc cho con. Trong các đời sau, nếu có
thiện nam tử, tín nữ nào, trong Phật Pháp mà chủng được chút ít thiện căn, chỉ cần nhỏ
bằng sợi tóc, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước, thì con cũng lấy đạo lực mà giúp
đỡ người ấy từ từ tu đạo Vô Thượng, đừng để họ thối mất. Lại nữa Địa Tạng, trong các
đời sau, nếu có trời, nếu có người nào mà phải chịu nghiệp báo ứng phải đọa lạc nơi ác
đạo. Sắp phải đọa hoặc tới ngưỡng cửa của địa ngục, nhưng nếu các chúng sinh ấy có
thể niệm được một Phật danh, một Bồ Tát danh, một câu kinh, câu kệ của kinh điển Đại
Thừa, thì con hãy lấy thần lực của con, các phương tiện mà cứu độ những chúng sinh ấy
ngay tại chỗ. Con hãy hiện vô biên thân phá vỡ địa ngục, khiến cho các chúng sinh ấy
được sinh nơi cõi trời mà hưởng phúc lạc. Lúc bấy giờ Thế Tôn bèn đọc kệ rằng
Chúng sinh trời, người đời này, các đời sau
Ta ân cần phó chúc cho con
Con lấy thần thông, phương tiện mà cứu độ
Đừng để họ rơi vào nơi ác đạo.
Lúc bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát quỳ xuống một bên gối, chắp tay mà bạch Phật
rằng Xin nguyện Thế Tôn đừng vì các chúng sinh mà quá lo lắng. Nếu trong các đời sau,
nếu có thiện nam, tín nữ nào trong Phật Pháp chỉ cần cung kính niệm được một niệm,
con cũng dùng trăm ngàn phương tiện để độ cho người ấy. Trong đường sinh tử con sẽ
nhanh chóng giải thoát người ấy. Huống hồ người nào nghe thấy việc thiện lại tâm niệm
tu hành, tự nhiên với đạo Vô Thượng sẽ mãi mãi không thối chuyển. Địa Tạng Vương
nói đến đây thì có một vị Bồ Tát trong hội nghị tên hiệu là Hư Không Tạng bạch với Phật
rằng thưa Thế Tôn, con tự đến Đao Lợi thiên cung được nghe Đức Như Lai ca ngợi uy
thần cùng thế lực không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trong các đời sau,
nếu có thiện nam, tín nữ nào cùng toàn thể thiên long nghe được kinh này cùng với tên
hiệu của Địa Tạng Vương hoặc chiêm lễ hình tượng Ngài thì được hưởng bao nhiêu
phúc lợi? Nguyện xin Đức Thế Tôn, vì các chúng sinh ở đời này và các đời sau mà nói
sơ qua cho chúng con được biết. Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng hãy nghe cho
kỹ, nghe cho kỹ ta vì con mà phân tích rõ. Các đời sau nếu có thiện nam, tín nữ nào thấy
được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe được kinh này, thậm chí đọc tụng, lại
mang hương hoa, ẩm thực, y phục, đồ châu báu mà bố thí cúng dường, ca tụng, chiêm lễ
thì sẽ được hai mươi tám điều lợi ích. 1/ Được thiên long luôn ghi nhớ bảo vệ; 2/ Thiện
quả mỗi một ngày tăng; 3/ Thu thập được những nhân Thánh cao thượng; 4/ Học đạo Bồ
Đề không thối lui; 5/ Quần áo, đồ ăn luôn đầy đủ; 6/ Bệnh tật, ôn dịch không đến; 7/
Không bị tai họa về nước, lửa; 8/ Không bị ách trộm cướp; 9/ Được người thương kính;
10/ Quỷ thần trợ trì; 11/ Nữ thân đưọc đổi thành nam thân; 12/ Làm công chúa hoặc con
gái của quan lớn; 13/ Tướng người tốt, đoan chính; 14/ Nhiều lần được sinh vào cõi trời
cao; 15/ Hoặc làm Đế Vương; 16/ Tài trí, thông minh; 17/ Mọi cầu xin đều thuận lợi; 18/
Quyến thuộc được hoà hợp; 19/ Những việc ngang trái đều bị tiêu diệt; 20/ Nghiệp báo
được mãi tiêu tan; 21/ Muốn đi đâu cũng thông suốt; 22/ Giấc mộng khi ngủ được an lạc;
23/ Tổ tiên đã mất được xa lìa cõi khổ; 24/ Do phúc đức tạo ra trước đây nên được tái
sinh; 25/ Được chư Thánh khen ngợi; 26/ Thông minh, ngũ căn được lợi ích; 27/ Đầy
lòng từ bi, ân nghĩa; 28/ Cuối cùng sẽ thành Phật. Lại nữa Không Tạng Bồ Tát ở đời này
hay các đời sau nếu thiên long, quỷ thần nghe được tên hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, lễ bái
hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát hoặc nghe được lời bản nguyện được thực hiện của Bồ
Tát Địa Tạng mà ca ngợi, chiêm lễ thì sẽ được hưởng bảy điều lợi ích. 1/ Nhanh chóng
thăng tiến lên địa vị Thánh; 2/ Ác nghiệp bị tiêu diệt; 3/ Chư Phật đến cứu giúp; 4/ Theo
đạo Bồ Đề không thối chuyển; 5/ Bản lực luôn tăng trưởng; 6/ Biết được thông suốt kiếp
trước của mình; 7/ Cuối cùng thành Phật Lúc bấy giờ từ thập phương thế giới toàn thể
không thể nói hết, không thể nói hết chư Phật Như Lai cùng Đại Bồ Tát, Thiên Long Bát
Bộ đều đến dự hội để nghe Thích Ca Mâu Ni Phật biểu dương ca ngợi đại uy, thần lực
không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Sự biểu dương ca ngợi chưa từng có!
Cùng lúc ấy tại Đao Lợi Thiên Cung mưa xuống vô lượng hương hoa, thiên y, những xâu
chuỗi ngọc đã được mang đến cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật cùng Địa Tạng
Vương Bồ Tát xong, toàn thể những người tham dự đại hội lại cùng chắp tay chiêm lễ
mà thối lui ra.
ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN KINH QUYỂN HẠ.
THE SUTRA ON THE PAST VOWS OF KSITIGARBHA BODHISATTVA.
(ENGLISH VERSION)
THE OPENING CHANT OF THE SUTRA:
Like lofty sky and fathomless ocean, the Wonderful Dharma is!
It could never be found, even lost myriads of lives and karmas in looking for.
Now I have the opportunity to hear and see it, I’ll definitely retain it!
THE WORLD-HONORED ONE!
I vow to listen to you and understand clearly each word, each sentence in your teachings!
CHAPTER ONE: THE WONDERFUL-WORKING POWER AT THE PALACE OF THE
THIRTY-THREE DEVAS (TRAYASTRIMSA HEAVEN)
Thus have I heard! The Buddha once expounded the sutra for the sake of His Mother at
Trayastrimsa Heaven. At that time, all of the countless Buddhas and Bodhisattva-
Mahasattvas from innumerable worlds in all directions came to attend the meeting in
order to extol Buddha Sakyamuni’s meritorious deeds. Although the Buddha had been
living in an evil world of five periods of impurity, he proved beyond thought and words the
strength of His great wisdom and miraculous power to subdue those stubborn sentient
beings and let them really know about the dharmas of unhappiness and happiness. All
the worlds in all directions sent their attendants making inquiries about the Buddha. No
sooner was the Buddha smiling in a half-open mouth than hundreds, thousands, myriads,
ten- myriads of streams of illuminating rays were emitted from between His eyebrows.
The streams of illuminating rays- in all kinds and colors of light- were as follows: the
streams of the Great and Complete Fullness of illuminating rays, the streams of the Great
Compassion and Pity of illuminating rays, the streams of the Great Knowledge (Jnana) of
illuminating rays, the streams of the Great Wisdom (Prajna) of illuminating rays, the
streams of the Great fixed-and-undisturbed Mind (Samadhi) of illuminating rays, the
streams of the Great Auspices of illuminating rays, the streams of the Great Commitment-
to-Triratna (Buddha, Dharma, Sangha) of illuminating rays, the streams of the Great
Appreciation and Praise of illuminating rays. After the above-mentioned streams of
illuminating rays were the different kinds of wonderful sounds to be simultaneously
produced as follows: Dana- paramita (Charity-highest), Sila- paramita (Moral Conduct-
highest), Ksanti- paramita (Patience-highest), Virya- paramita (Energy or Devotion-
highest), Dhyana-paramita (Contemplation-highest), Prajna-paramita (Kowledge-
highest), sounds of Compassion and Pity, sounds of Joyful Giving, sounds of Liberation,
sounds of Passionless, sounds of Knowledge, sounds of the Great Knowledge, sounds
of Lion’s roar, sounds of the Great Lion’s roar, sounds of Thunderclouds, sounds of the
Great Thunderclouds. After the above-mentioned wonderful and great sounds were the
arrivals at Trayastrimsa Heaven of immeasurable, immeasurable myriads of Devas,
Ghosts and Spirits. The four heavens of the four Deva-Kings were as follows: Trayasimsa
Heaven, Suyama Heaven, Tusita Heaven, Nirmanarati, Paranirmita-vasavartin,
Brahmaparisadya, Brahmapurohitas, the Great Brahma’s Heaven, the Heaven of lesser
light, the Heaven of immeasurable light, the Heaven of light and sound, the Heaven of
lesser chastity, the Heaven of immeasurable chastity, the Heaven of universal chastity,
the Heaven of happiness and love, the Heaven of prolonged retribution, the Heaven
absent from thinking, the Heaven free from trouble, the Heaven without heat, the Heaven
well for seeing (Sudarsana), the Heaven well in appearance (Sudrsa), the Heaven of the
supreme material world, even the Heaven where there is neither thinking nor not- thinking.
All the Devas together with the nagas, ghosts and spirits from the above-mentioned four
Deva-Kings’ Heavens came to attend the meeting. Again, from far-away countries of the
worlds in all directions and from Sahaloka, gods of seas, gods of rivers, gods of canals,
gods of trees, gods of mountains, gods of lands, gods of streams and brooks, gods of
rice- paddies, gods of the day, gods of the night, gods of the air, gods of space, gods of
foods and drinks, gods of grass and woods, altogether came to attend the meeting.
Again, in the meeting there were also the participations of all the Great Demon-Kings
coming from far-away countries of the worlds in all directions and from Sahaloka. Those
Great Demon-Kings were as follows: Evil-eyed Demon, Bloodthirsty Demon, Semen-
coveting Demon, Foetus- coveting Demon, Disease- transmitting Demon, Poison-
suckling Demon, Compassion-hearted Demon, Human-benefiting Demon, Greatly-
Admired Demon. At that time, Buddha Sakyamuni told Bodhisattva Manjusri if he was
able to totally know the number of Buddhas, Bodhisattvas, Devas, Demons and Spirits
that were coming from this world, other worlds as well as from this country and other
countries to present in the meeting at Trayastrimsa Heaven. Bodhisattva Manjusri
answered the Buddha that “The World-Honored One, although I manipulated my own
supernatural power to count in even a thousand kalpas, I could not know the accurate
number of attenders in the meeting”. The Buddha told Bodhisattva Manjusri that “Although
I see by the Buddha’s eyes, I am unable to count from one end to the other. Countless
attenders in the meeting are equivalent to the amount of people who were saved, who
are being saved, who have not been saved - from far-away kalpas - by Bodhisattva
Ksitigarbha, in addition to those people who already attained their goals, who are on the
way attaining their goals, who have not attained their goals”. Bodhisattva Manjusri told the
Buddha that “The World-Honored One! In the past, very long time ago I cultivated good
roots (or good seeds sown by a good life to be repeated in next lives) and attained to
Buddha-omniscience (unhindered wisdom), therefore when listening to Your true words, I
understood and believed in your teachings immediately. In reguard to those people who
have minds just fit for Hinayana doctrine - like Sravaka (hearer), Devas - could possibly
raise some questions or suspicions and consequently, while receiving an education at
the highest level, they would inevitably make tongue-in-cheek remarks. The World-
Honored One, I suggest that You had better talk much about the main cause that
encouraged Bodhisattva Ksitigarbha to attentively rescue such countless people; what
Bodhisattva Ksitigarbha had vowed in order to accomplish his meritorious deeds beyond
thought and words. The Buddha told Bodhisattva Manjusri that “The following
possessions in the 3,000 great chiliocosms are the typical examples of Bodhisattva
Ksitigarbha’s great vows and His supernatural power: If each of all the grass, trees,
jungles, rice paddies, sesame, bamboos, reeds, mountains, bushes in the 3,000 great
chiliocosms was considered as a Gange River, if each grain of sand of all those Ganges
Rivers was considered as a world, if each speck of dust of all those worlds was
considered as a kalpa and in a kalpa there were many many small particles, if each of
those small particles was also considered as a kalpa, the time Bodhisattva Ksitigarbha
had attained to Ten-Stage of Mahayana (Dasabhmi) lasted thousand times longer than
the above example, regardless of the time Bodhisattva Ksitigarbha had experienced in
the positions of a hearer (Sravaka) and a Pratyeka-buddha (the one who seeks
enlightenment for himself). Bodhisattva Ksitigarbha’s great vows and His supernatural
power were indeed beyond thought and words! In future lives, if any male or female
devotee will hear this Bodhisattva’s name or praise or worship or honor or make
offerings, even paint or carve Bodhisattva’s picture or build Bodhisattva’s statue, he or
she will get hundreds of rebirths at the 33rd Heaven (Trayastrimsa Heaven), will never be
fallen into three evil paths” (animals, pretas, purgatory). Bodhisattva Manjusri! Very many
many kalpas ago, the Great Bodhisattva Ksitigarbha was a bourgeois’s son. In that
period of time, a Buddha came into the world, His alias was Awe- Inspiring Lion-
Completely- Enough- Ten- Thousand- Good- Deeds Tathagata. Admiring the Buddha’s
myriads of meritorious deeds and wishing for His very good external appearance full of
happiness as well as with all solemnity, the bourgeois’s son would like the Buddha to tell
him about what great vows he’s got to make in order to have it. The Awe- Inspiring- Lion-
Completely- Enough- Ten- Thousand- Good- Deeds Tathagata told the bourgeois’s son
that “Wishing for this body you have to cultivate goodness for a very long time and give
release all the living beings suffering in evil paths. Manjusri! Right after listening to The
Tathagata’s instructions, the bourgeois’s son pronounced his great vows that “From now
on to possibly countless kalpas I will, for the sake of living beings suffering in the six evil
paths, bend over backwards to improvise convenient means accessible to them and
rescue them. All of them should be released from evil paths or else I would not get
promoted to the Buddhahood. Bodhisattva Ksitigarbha’s great vows were solemnly
reciting at The Tathagata’s witness. It is understandable that throughout hundreds,
thousands, myriads, nayutas, (100,000), countless kalpas til now, Ksitigarbha is still at
the Bodhisattva’s rank”. Buddha Sakyamuni continued that again, asankhya kalpas in the
past, a Buddha came to the world aliased The- Flower- Of- Enlightenment-Samadhi-
Isvara-King Tathagata, His longevity was four hundred thousand ten-thousand one-
hundred-thousand asankhya kalpas. In the image period of Buddhism (1,000 years),
there was a Brahman lady enjoying her profound happy karma thanks to her so much
meritorious deeds in former lives. Everybody deeply admired her for her saintly life,
Divine Beings were always at her side protecting her all day long whether walking,
standing or resting and sleeping. Unfortunately, the Brahman lady’s mother believed in
heterodox taking the Three Precious Ones (Triratna: Buddha, Dharma, Sangha) for
granted. The holy lady tried to persuade the mother converting from heterodox views to
right views (samyagdrsti), but all her efforts were in vain because her mother’s
conversion was still uncertain. Not so long her mother died, the soul (or spiritual nature)
was banished to avici hell. The Brahman lady predicted that the bad luck would certainly
happen to her mother, because when being alive her mother did not trust in the law of
Cause and Effect. One of six evil paths was, of course, the right place of her final
destination! Unable to wait, the holy lady immediately sold her house, garden and many
things to buy incense, flowers, worshipping equipments, then, first of all she went offering
at a Buddha temple. Inside the temple, the holy lady saw The-Flower-Of-Enlightenment-
Samadhi-Isvara-King Tathagata’s Statue with majestic countenance, in a moment she
knelt down on the floor respectfully contemplating Tathagata’s Statue and praying that
“Your Holiness the Buddha of Great Enlightenment and Perfect Knowledge! I would like
to know where my mother had to go after her death!” After raising this question, the
Brahman lady could hardly hold back her tears bitterly shedding for a long time. Much to
her disappointment, she just knew to admirably and respectfully contemplate Tathgata’s
Statue beseeching the Buddha’s pity for help. Suddenly, she had to listen to someone
calling her from the high sky: “The holy lady, don’t be so sad like that; I’ll show you your
mother’s destination” The Brahman lady clasped her hands together kowtowing to the air
and said: “I would like to know who you are calling me, Your Holiness. I was deeply sad
from the day my mother died because I tried to look for someone who could help me find
out my mother’s destination, but unfortunately, nobody could help at all”. Right after her
words, she heard again the answer echoing in the sky:”I am the Buddha you were
previously worshipping and offering, alias The-Flower-Of-Enlightenment-Samadhi-Isvara-
King Tathagata. I saw you missing your beloved mother much more than any other lay
living beings therefore I’ve got to come here to inform you some things”. Just having
heard these words, much to her surprise the Brahman lady started continuously beating
herself unconscious to such an extent that her arms, legs and bones were all injured. Her
servants had to take a long time to resuscitate her. Having recovered her consciousness,
she turned towards the sky and said “I pray you for mercy, Your Holiness! Will you tell me
my mother’s destination right now, I can wait no longer?” The Tathagata replied “After
worshipping time, you’ve got to go home early, then sit down quietly thinking and praying
my name, you’ll see your mother’s destination”. After worshipping time, the Brahman lady
–for the sake of her beloved mother - did the same as the Tathagata instructed what to
do. Having experienced one day and night of sitting and praying the Buddha’s Alias, she
suddenly saw herself arriving at a sea shore, its boiling water coming out with spurts;
many many brutal wild beasts were wearing armored suits flying and running on the sea
surface to chase around East or West thousands, ten-thousands of male and female
criminals appearing then disappearing in the deep sea. The wild beasts were clashing
with each other to grab, bite and devour those criminals ravenously! There were also
yaksas (malignant demons devour human flesh) with different outward appearances,
classified as multi-armed, multi-eyed, multi-legged and multi-headed yaksas. They had
sharp-pointed teeth like swords jutting out over their mouths. Yakas were chasing after
criminals to catch and drag them to wild beasts, then turning to hit themselves on their
heads and limbs. Nobody had enough courage to look them for long at their monstrous
faces, whereas the Brahman lady had no fear at all, because she was always praying for
Buddha’s power that made her more and more courageous. There was a demon king,
named Innocuous, bowing his head in greeting the holy lady: “Fortunately! Fortunately!
Can you tell me what reason that made you come here, Bodhisattva? The holy lady
asked Innocuous: “What place name is this?” Innocuous answered: “This is the Great
Western Cakravala, the first series of seas”. The holy lady said: “I heard that inside
Cakravala is the hell, isn’t it?” Innocuous replied: “There really was the hell inside
Cakravala” (Cakravala: iron-enclosing mountains). The holy lady said: “Now can I go
sightseeing inside the hell”. Innocuous said: “A person who wants to come over to the hell
must have absolutely enough two conditions1/ supernatural power; 2/ powerful karma of
self-cultivation”. The holy lady asked Innocuous again: “How come in the sea there are
boiling water coming out in spurts, many criminals and wild beasts”. Innocuous replied:
“Those are living sentients of Jambudvipa (13) having recently died. When being alive,
they did many evil deeds, in addition to that after the period of forty nine assessing days
they did not have children to do meritorious deeds. Therefore, from the results of their
own karmas that were sought, they had to go hell crossing this sea. Going East ten
myriad yojanas (one yojana=16 miles), you’ll see another sea where criminals’ sufferings
are multifold. The sea east of the second one, criminals’ sufferings are even multi-
multifold. Generally speaking, the area covered by the three seas is called the vast sea of
karmas where criminals’ purgatorial agonies are resulting from the influences of their evil
karmas”. The holy lady asked Innocuous again: “Where is the hell?” Innocuous replied:
“Inside the three seas are huge groups of hells, consisting of different ones, as follows: a
huge group of eighteen hells and the second huge one of five hundred hells, the criminals’
sufferings are immeasurable, the third huge group of one hundred thousand hells, the
criminals’ sufferings are also immeasurable”. The holy lady asked Innocuous again:” My
mother has recently died, I did not know at what evil path her soul had to arrive?”
Innocuous asked the holy lady: “Bodhisattva, can you tell me when your mother was still
alive what bad karma she used to do?” The holy lady said: “My mother was heterodox-
viewed, perverting Triratna (the Three Precious Ones: Buddha, Dharma, Sangha). When
correctly guided about Trirana, she was temporarily confident, but suddenly turned out
perversely diffident. Although she died in her bed, I did not know her soul’s destination”.
Innocuous asked the holy lady again: “Bodhisattva, can you tell me what caste your
parents belonged to?” the holy lady replied: “My parents belonged to Brahman. My father’
s name was Sila Sudarsana, my mother’s name was Yue Dili”. Innocuous clasped his
hands making a kowtow and said: “Saintly Mother! Please, return your home. Don’t worry
about your mother any more, because female criminal Yue Dili was reborn in Heaven
three days ago. Thanks to her dutiful daughter’s cultivation of goodness as well as her
daughter’s offerings and worshippings The-Flower-Of-Enlightenment-Samadhi-Isvara-
King Tathagata at the temple, not only Yue Dili was released from the hell, also all the
criminals of Avici hell on that day were simultaneously liberated enjoying happiness in
Heaven”. After informing the holy lady about her mother’s liberation from the hell,
Innocuous clasped his hands departing. After knowing her mother’s whole story and just
like recently waking up from a dream, the Brahman lady made great vows in front of The-
Flower-Of-Enlightenment-Samadhi-Isvara-King Tathagata’s Statue: “From now on to
immeasurable future kalpas and for the sake of living beings’s purgatorial agonies in evil
paths, I swear to manipulate every means and ways accessible to them in order to help
and liberate them from the hell”. The Buddha told Bodhisattva Manjusri that previous King
of Monster Innocuous was Leading Richness Bodhisattva and the Brahman Lady was
Ksitigarbha Bodhisattva.
CHAPTER TWO: THE ATTENDANCE OF ALL-IN-ONE KSITIGARBHA INCARNATES
AT THE MEETING.
At that time, all the Ksitigarbha incarnates of all the hells from hundreds thousands ten-
thousands hundred- thousands, beyond thought and words, immeasurable, countless
asankhyas of worlds went meeting together at the Trayastrimsa Heaven. In the meeting
there were also those living beings rescued from evil paths and thousands ten-thousands
hundred-thousands of others bringing incenses, flowers to offer the Buddha. All of them
were transformed by Bodhisattva Ksitigarbha’s instructions never receding from Anuttara-
Samyak-Sambodhi (unexcelled complete enlightenment). In the past, they were lost in
evil paths, experiencing between life and death for many many kalpas, but fortunately they
were rescued and attained various rewards resulting from Bodhisattva Ksitigarbha’s
great and compassionate vows. Having had arrived at Trayastrimsa Heaven, they were
so heartened contemplating the Buddha that their eyes could not be taken off Him,
whereas the Buddha was- with His golden-sleeved hand- slowly touching the head of
every Ksitigarbha’s duplicate that was coming from hundreds thousands ten-thousands
hundred-thousands, beyond thought and word, immeasurable, countless asankhyas of
worlds. While praising Ksitigarbha’s incarnates the Buddha said: “Having been living in
the five periods of chaos on the evil world, I’ve got to transform those stubborn living
beings by my instructions in order to subdue them as well as make them abandon
heterodoxy and convert to orthodoxy. But one or two living beings out of ten have still
been keeping their bad habits so that I had to reproduce myself ad infinitum and
anywhere to create convenient means to support them. Those unfortunate living beings
that I had to deal were as follows: living beings that possessed of powers of the faith (or
cleverness, intelligence) believed immediately in my teachings, living beings that
possessed good fortune in life resulting from previous good deeds, should be advised to
be patient in order to achieve great successes, living beings that were ignorant and dull-
witted, needed a long time to be taught before converting to right views, living beings that
possessed hindrance of the past karmas, perverted Triratna. Such above-named cases
were always different from each other and thus I had to reproduce myself to support and
rescue them. In the process of parturition I used to play different roles, now male body,
now graceful in female body; now deva body, now deity body; now a mountain, now a
jungle or a brook or a river or a pond or a stream just in the sake of human benefits and
all the rescued living beings. On other occasions, I had to appear in the body of an
Emperor of Heaven, Brahma’s body, Cakravarti’s body (a ruler the wheels of whose
chariot roll everywhere without hindrance), at-home Buddhist practitioner’s body, national
king’s body, prime minister’s body, mandarin’s body, bhiksu’s body (religious
mendicant), bhiksuni’s body (nun), upasaka’s body, upasika’s body, even sravaka’s
body, arhat’s body, pratyeka-buddha’s body, bodhisattva’s body. Therefore, saving living
beings, I had to appear not only in Buddha’s shape, but also in many other different ones.
You see, I had to experience so many many kalpas to patiently and endlessly manage in
rescuing thus many many stubborn living beings as well as criminals suffering in hells.
Dealing with those hadn’t been subdued yet, I’ll help them out depending on their
individual karmas. Dealing with those had been expiated in evil paths, everybody ought
to remember that from Trayastrimsa Heaven I solicitously entrust them to the world Saha-
lokadhatu: wait until the day Maitreya, the Buddhist Messiah (the next Buddha) comes
into the earth, all of them should be liberated, should never be suffered agonies in hells
and proffer the Buddha their decisions” At the time all the Ksitigarbha’s incarnates
combined with each other to form the real Bodhisattva Ksitigarbha with a tear-stained
face telling the Budha,”thanks to the Buddha’s guidances and instructions from far-away
kalpas in the past, I possessed so much –beyond thought and words- supernatural power
and great wisdom. Therefore, I was able to reproduce myself ad infinitum and anywhere
in hundreds thousands ten-thousands hundred-thousands of worlds, then in each world I
reproduced myself again in hundreds thousands ten-thousands hundred-thousands of
duplicates and each of my duplicates rescued hundreds thousands ten-thousands
hundred-thousands of human beings, I had them respect Triratna, released forever from
birth and death thus enjoyed happiness in Nirvana. In compliance with Buddhist Dharma,
those did goodness- regardless of how little it was- even just like a thread, a drop of
water, a grain of sand, a speck of dust, a hair, I would gradually rescue them all to enjoy
much benefits. The World-Honored One! Please, don’t worry too much about the future
living beings’ evil karmas any more”. At that time, the Buddha praised Bodhisattva
Ksitigarbha,”Good! Excellent! I will help you out, thus you can accomplish your long-kalpa
great vows to rescue all of those living beings’ lives from hells and consequently you’ll get
promotion to Buddhahood”
CHAPTER THREE: THINKING ABOUT LIVING BEINGS’ KARMA-CAUSE
At that time, the mother of the Buddha Maya clasped her hands and respectfully asked
Bodhisattva Ksitigarbha,”living beings of Jambudvipa built different karmas, can you tell
me what retributions of their past deeds are”. Ksitigarbha replied,”thousands or ten-
thousands of worlds down to nations having either hells or no hell, having either woman or
no woman, having either Buddhist Dharma or no Buddhist Dharma, even Sravakas or
Pratyeka-Buddhas are all the same, ie there is not only one level of retribution of the past
deeds being executed in hells” Maya lady told Bodhisattva Ksitigarbha again,”I would like
to hear about the influences of evil fruits from evil deeds in Jambudvipa” Ksitigarbha
replied,”Saintly Mother, please, listen to me, I’m generally speaking about that” Maya lady
replied,”I’m ready to listen to you, Saintly Man”. At that time, Ksitigarbha told Maya lady:
“Living beings’ retributions of sins in Jambudvipa are named as follows: if a son or
daughter serves his/her parents undutifully or even kills them, he/she will certainly be
punished in avici hell (uninterrupted hell) for thousands ten-thousands hundred-thousands
of kalpas without a release day. If anyone injures and bleeds the Buddha’s body or
perverts Triratna or even disrespects the Sutras, he/she will also be punished in avici hell
for thousands ten-thousands hundred-thousands of kalpas without a release day. If
anyone trespasses on the estate of the temple or makes mess with sanghas’ and nuns’
lives or makes love and has sex with others or injures and kills them in the monastery,
he/she- the sinner- will also be punished in avici hell for thousands ten-thousands
hundred-thousands of kalpas without a release day. If anyone who disguises
himself/herself as a monk/nun, not having a real heart of a monk/nun, thus vandalizing
everything of the temple and disrespecting brahmans or violating moral commandments
of the Buddha to do evil actions, will also be punished in avici hell for thousands ten-
thousands hundred-thousands of kalpas without a release day. If anyone who steals
money, things such as rice, food, clothes, etc… in the temple, will also be punished in
avici hell for thousands ten-thousands hundred-thousands of kalpas without a release
day. Ksitigarbha told Maya lady that if the above-mentioned living-beings did the above-
named unpardonable crimes, they should certainly be suffered non-stop agonies in five
avici hells. The punishments would never be interrupted by even a moment. Maya lady
asked Ksitigarbha, “How come the hell was styled uninterrupted?” Ksitigarbha told Maya
lady, “In Cakravala there are hells, the huge group of hells has 18 locations, the second
group has 500 locations with different names, the third group has thousands hundreds of
locations with different names. The perimeter of the wall of the hell is over eighty
thousand miles, the height of the iron wall is ten thousand miles. On the wall is roaring fire
tightly enclosed without a small gap, inside the wall are serial rows of hells with different
names. There is only one hell named uninterrupted hell (avici hell) with its eighteen-
thousand- mile perimeter surrounded by the one-thousand- mile-high iron wall. Fire is
blazing continuously from the top down to the bottom as well as from the bottom up to the
top of the wall. On the top of the wall, iron snakes, iron dogs are spouting fire and
roaming around from east to west and from west to east. Inside avici hell there is a bed
expandable to ten-thousand miles used to torture criminals. When one criminal is lying on
it, he’ll see his body expanded and filled fit the width of the bed, especially when
thousands ten-thousands of criminals are lying on it, they’ll also see their bodies
expanded and the bed fits them like a glove. That just goes to show you, the Saintly
Mother how the influences of retributions of sins are exerting on criminals. In the punitive
actions, the executioners are hundreds thousands of saber-like-teethed or electric-light-
like-eyed yaksas (devourers of human flesh) and evil demons with copper claws in their
hands chasing and dragging criminals. Many yakas are stabbing long spears at
criminals’ bodies or nostrils or mouths or bellies, then tossing and turning them to face up
or down in the air, finally throwing them on beds. Again, there are many iron hawks
pecking at criminals’ eyes, many iron snakes twining tightly round criminals’ necks while
all the joints of criminals’ four limbs are pierced by long nails, criminals’ tongues are
plowed back and forth, criminals’ intestines are cut into small segments. Again, evil
demons are melting down copper, then pouring melting copper into criminals’ mouths or
heating iron cables to high temperatures, then twining those burning cables round
criminals’ bodies. The influences of retributions of sins are risking between- ten-death-
and-one-life situations as such! The criminals have to be experiencing the likes of
chastisement for ten-thousands of kalpas! There’s no expectation of release day! If this
world is destroyed, the criminals will be transferred to another world. If the second world
is also destroyed, the criminals will be transferred to a strange world. If the strange world
is destroyed, the criminals will be again transferred to another strange world, etc… They
will be transferred back to this world once it is recreated. As has recently stated above,
such are the stories of uninterrupted retributions of sins. The following are five main
reasons for the influences of retributions of sins being styled avici (unintermitted), (1)
criminals are contunuosly punished day and night for over a kalpa without intermission,
(2) one criminal can fill the hell and likewise many many of them,(3) criminals are tortured
by variety of torture instruments, such as sticks, skewers, iron hawks, snakes, wolfves,
dogs, hammers, saws, chisels, boilers, iron nets, iron donkeys, iron horses, raw skins
are twined round criminals’ heads, melted iron at high temperatures is poured on
criminals’ bodies, starving criminals have to eat round iron pieces, thirsty criminals have
to quench their thirsts with iron liquid. The criminals have to suffer such non-stop
executions and agonies for many years to the end of kalpa, even to nayuta of kalpas!(4)
the above-named chastisements are equally applied to every criminal without
discrimination, regardless of sex, savages or civilized, ages, social positions, dragon-
kings or devas, demons or divines,(5) from the starting time in the hell to hundreds
thousands of kalpas, criminals will be unintermittently tortured as has stated above. They
may not request any temporary breaktime unless their retributions of sins are at an end”
Ksitigarbha told the Saintly Mother, “this is only a summary report of long influences of
retributions of sins. It‘ll take us even over a kalpa to name the torture instruments that are
always used in avici hell and talk about their endless agonies causing for criminals”After
having been listening to Ksitigarbha’s report Maya lady felt very sad and frustrated. She
clasped her hands together and departed.
CHAPTER FOUR: LIVING BEINGS IN JAMBUDVIPA CREATE INFLUENTIAL KARMA.
At that time Bodhisattva Ksitigarbha told the Buddha, “The World-Honored One, thanks
to the Buddha’s supernatural power I could reproduce myself add infinitum and anywhere
in hundreds thousands ten-thousands hundred-thousands of worlds to help and save all
the living beings who had to pay for their retributions of sins. I could not reproduce myself
as such without The Buddha’s Great Compassion and Supernatural Power. The World-
Honored One, I’m now obliged to you for assigning me to take full responsibility – until
Ajita becomes Buddha - for liberating all the living beings who are suffering agonies in
six evil paths. Please, don’t be worried about that” (Ajita means invincible, this is the title
of Maitreya). At that time, the Buddha told Bodhisattva Ksitigarbha, “The temperaments
of living beings that have not been rescued, alter so much! Evil habits accumulate evil
karmas, good habits accumulate good fruits. The spirits of good as well as of evil in
human beings are resulting from environments (or sphere) and circulating ceaselessly in
five gati (ways or destinies), creating illusions and hindrances in human kalpas. The
comparison between fish and fishing net along the long current of a river can make
sense. Being caught in the net, the fish is struggling out of it. Although the fish escapes
from the net, it does not make good its escape because this is just a temporary escape,
therefore sooner or later the fish will be caught again. That is the typical example of those
temperamental living beings. I did worry about them so much, but now you definitely want
to perform your long-standing great swear saving them all from retributions of sins, I worry
nothing at all”
After hearing the Buddha said that, a Great Bodhisattva named King of Samadhi Isvara
told the Buddha, “The World-Honored One, please briefly tell us what great vows
Bodhosattva Ksitigarbha had sweared in the past so that the Buddha has highly praised
his achievements today?”The Buddha said, “Listen to me carefully! It will be a great
benefit to all of you I’ll give you a satisfactory explanation of the story. That was asankhya,
nayuta, beyond words of kalpas back, a Buddha appearing in the world. His title was
Perfect Knowledge, Complete Tathagata (Absolute Come), Omniscience, Knowledge-
Conduct-Perfect, Well-Departed, Knower-Of- The- World, Peerless Nobleman, Passion-
Of-Man Controller, Teacher Of Devas And Men, Buddha, World-Honored One. That
Buddha’s longetivity was 60,000 kalpas. When he had not left home to become a monk,
he was the king of a small nation. The king of the neibouring nation was his friend. Both of
them practiced the ten good characteristics helping out and supporting all living beings.
People of the neibouring nation used to do evils, therefore the both kings discussed
planning convenient ways to effectively deal with the problem. One of the kings vowed to
become Buddha as soon as possible so that he could save all of those unfortunates, ie
no one could be left behind. The other king vowed, first of all, to save criminals’ lives from
their retributions of sins, letting them enjoy happiness and finally obtaining the Fruit of
Bodhi. He swore to keep his word that unless his liberation goal attained, he wouldn’t get
promotion to Buddhahood” The Buddha told Bodhisattva King of Samadhi Isvara, “the
king who vowed to become Buddha as soon as possible was Complete Tathagata with
Perfect Knowledge and the king who vowed not to become Buddha until all of the
criminals of retributions of sins got released was Bodhisattva Ksitigarbha. The Buddha
continued, “In the past immeasurable asankhyas of kalpas a Buddha appeared in the
world. His title was Complete-Clean- Lotus- Eye Tathagata. That Buddha’s longetivity
was 40 kalpas. In the formal period (or second period) of the teaching of Buddhism by
symbol, there was an Arhat helping out and supporting living beings. One day, while
transforming people by instructions, he saw a lady approaching him to offer some food.
Her name was Bright Eyes.The Arhat asked Bright Eyes, “Lady, what do you want to pray
for?” Bright Eyes replied, “From the day my mother passed away, I did not know where
she had to go to! Will you tell me her gati destination” The Arhat entered into meditation
and saw Bright Eyes’s mother arrested at evil path, suffering so much agony. The Arhat
asked Bright Eyes, “When your mother was still alive, what karma did she do? How come
I saw her getting chastisement at evil path?” Bight Eyes replied, “She was craving for
roasted or boiled small fish and turtles, the number of small fish and turtles she did eat
was countless! Please, tell me the way, somehow or other, to rescue my mother’s life out
of the gati, I’d be most appreciative” The Arhat took pity on Bright Eyes and said, “lady,
be honest to pray to Complete-Clean-Lotus-Eye Tathagata for helping out. Moreover, you
can build His statue, draw His painting, hence both the dead and alive persons will enjoy
big rewards”. Having listened to The Arhart’s advisements, Bright Eyes got rid of all her
favorites converting to draw the Buddha’s painting and build the Buddha’s statue,
likewise offer foods, flowers, incense to the Buddha’s altar. Bright Eyes was herself
kneeling in front of the altar, contemplating the Buddha’s statue and crying for the Buddha’
s help. After the nightfall, Bright Eyes saw the Buddha suddenly appeared in her dream,
glittering in the golden body just like the Sumeru Mountain loftily standing in wonderful
brilliancy of great halos.The Buddha told Bright Eyes, “Not so long, your mother will be
reborn in your house, living in hunger and cold”. Truly, at the same time a female servant
of Bright Eyes’s delivered a girl in a rear room. Not enough three days old age, the child
could speak tearfully telling Bright Eyes, “My rebirth and death was resulting from bad
karma and causes, I had to pay for my own retributions of sins, I am really your mother. I
was kept in the dark dungeon for a long time because after death, I had to be banished in
big hell. Fortunately, thanks to your meritorious deeds I got a good chance to be reborn
as a destitute and lowest-caste person in human society, but my life span will be short
because after living thirteen years, I’ ll be died and return to evil path. Do you know how to
help me avoid this dreadful plight?”After listening to these words, Bright Eyes had no
doubt that the three-year-old child was for real, her mother! Bright Eyes got choked by
tears and talked to her mother child, “If you were my mother, you had to know your
previous kalpa’s crimes. Will you tell me what bad karma did you do in your previous
kalpa, so that you had to be banished in evil path?” The child replied, “Killing animals for
foods and blaspheming against Triratna were my both previous retributions of sins. If
there were not your meritorious deeds saving me, those my two retributions of sins could
never be eliminated” Bright Eyes asked, “Will you tell me the story in the hell of retribution
of sin” The child replied, “The punitive measures in the hell were so tough and miserable
that I’ve got to take even hundreds thousands of years not enough to tell the whole story”
Being chastened by the frightfull story in the hell, Bright Eyes burst out crying and clasped
her both hands talking to the air, “Pray for my mother to be released for ever from the hell
after she gets thirteen years old! Pray for my mother’s crimes to be cleansed, hence she
won’t have to return to evil path! Pray the Buddhas from ten directions to take pity on me
listening to my great vows on my mother’s forgiveness, “If my mother gets clear from her
previous life’s crimes, hence she has never to be returned to the three unhappy gati as
well as getting rid of her lowest servant’s status and abandoning for ever her female
body, I will swear from now on to hundreds thousands ten-thousands hundred-thousands
of kalpas in the future and in front of The-Complete-Clean-Lotus-Eye Tathagata’s Statue
today, to rescue all living-being criminals from anywhere there are hells, three unhappy
gati, animals and hungry ghosts. I won’t get promotion to Samyagbuddhi (perfect
universal wisdom of a Buddha) until all of them are rescued and finally become
Buddhas”. Having listened to such Bright Eyes’s swear, The-Complete-Clean-Lotus-Eye
Tathagata said, “For your mother’s benefits, you have showed the most dutiful and
compassionate heart by taking such a great vow! Right now, I’m having a vision of your
mother on coming days that your mother will be cleansed from previous retributions of
sins after she gets thirteen years old and be born and bred a Brahmacarin (studying-
sacred learner). Her life span will be one hundred years old. After having enjoyed that
blessed reward, your mother will be reborn in Asoka nation (nation without sorrow), her
longevity will be beyond thought and word of kalpas. Finally, your mother will become
Buddha and save men and devas. The number of men and devas saved by your mother
will be as numerous as the number of sands in the river Ganges”. The Buddha told King-
Of –Samadhi- Isvara Bodhisattva, “The Arhat at that time who helped Bright Eyes was
really the Utmost Idea Bodhisattva, Bright Eyes’s mother was really the Liberation
Bodhisattva, female Bright Eyes was really Ksitigarbha Bodhisattva.From far-away
kalpas, Ksitigarbha Bodhisattva made thus countless compassionate vows to help out
and support living beings. In the future, if any male or female person, who doesn’t do
good deeds, just does evil deeds, who doesn’t believe in the law of cause and effect,
who is wanton creature, double-tongued or evil-tongued person, even Great-Vehicle
blasphemer, will certainly be banished in evil paths. On the contrary, if the above-
mentioned evil violators fortunately have good friends or benefactors advising them to
commit themselves to Ksitigarbha Bodhisattva, they- the converts- will be rescued from
three unhappy gati. If the converts have sincere respect contemplating and praising,
likewise offering incense, flowers, clothes, jewellries, foods, drinks to Ksitigarbha
Bodhisattva, they will enjoy happy rewards for hundreds thousands ten-thousands
hundred-thousands of kalpas in Heaven. If their happy rewards in Heaven end, the
converts will be reborn to be kings for hundreds thousands of kalpas in the world. The
converts will be always able to recall their previous fates and their previous cause-and-
effect deeds. The Buddha told King- Of -Samadhi- Isvara Bodhisattva, “Ksitigarbha
Bodhisattva really had beyond thought and word of awe-inspiring majesty much
benefiting living sentients. All of Bodhisattvas! You ought to widely make this Sutra
public”. King-Of-Samadhi-Isvara Bodhisattva replied, “The World-Honored One, be
reassured, a community of thousands ten-thousands hundred-thousands of Great
Bodhisattvas in addition to the support of the Buddha’s supernatural power we’re
definitely able to widely spread this Sutra to the public in Jambudvipa”. After saying that,
King-Of-Samadhi-Isvara Bodhisattva respectfully clasped His hands making obeisance
to the Buddha and departed. At that time, the four Kings of four-direction Heavens
simultaneously stood up from their seats respectfully clasping their hands to make
obeisance to the Buddha and said, “The World-Honored One, from very far-away kalpas
Ksitigarbha Bodhisattva made such great vows, how come up to now His rescue
operations have not come to an end, so that He’s got to make another great vow?
Because of the great benefit to us all, The World-Honored One, please tell us the reason
why?” The Buddha told the four Kings of Heavens, “Excellent! Excellent! For the benefits
of you all at the present time as well as next generations, I will talk about all the ways and
means that Ksitigarbha Bodhisattva has been compassionately handling in Saha
Jambudvipa (the world) in order to help out and rescue all the criminals suffering agonies
in the course of their lives and deaths”. The four Kings of Heavens in unison said, “The
World-Honored One, we are happy listening to your teachings”. The Buddha told the four
Kings of Heavens, “From far-away kalpas ago, Ksitigarbha Bodhisattva rescued
countless living sentients, but up to now his rescue operations haven’t gone to an end.
Taking pity on those living sentients terribly suffered from their retributions of sins hence
bringing about immeasurable generations’ causes of lengthy miseries in the future,
Ksitigarbha Bodhisattva had to renew His Great vow. In Saha world Jambudvipa,
Ksitigarbha Bodhisattva had to manipulate hundreds thousands ten-thousands hundred-
thousands of means and ways teaching then converting living sentients. The four Kings of
Heavens! Ksitigarbha Bodhisattva would talk to animal killers about the short lives
resulting from the consequences of bad deeds done from previous existences.
Ksitigarbha Bodhisattva would talk to thieves or burglars about retributive abject
poverties and miseries. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to sex-maniacs about
retributive rebirths of sparrows and mandarin ducks. Ksitigarbha Bodhisattva would talk
to foul-tongued persons about retributive rebirths in quarrelsome families. Ksitigarbha
Bodhisattva would talk to blasphemers about retributive rebirths of no-toungued or
swollen-toungued persons. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to hot-tempered persons
about retributive rebirths of unsightly humpbacked persons. Ksitigarbha Bodhisattva
would talk to meanies about retributive rebirths of always-dissatisfied dreamers.
Ksitigarbha Bodhisattva would talk to immoderate eaters and serious drinkers about
retributive incurable disease of throat resulting in starvations and thirsts. Ksitigarbha
Bodhisattva would talk to constantly indulgent beast-hunters about retributive suicidal
maniatigarbha Bodhisattva would talk to ungrateful sons or daughters about retributive
deaths caused by natural calamities or seismic tremors. Ksitigarbha Bodhisattva would
talk to mountains- and- jungles burners about retributive uncontrolled mania to death.
Ksitigarbha Bodhisattva would talk to evil stepfathers or stepmothers about retributive
floggings on their rebirthdays. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to living- bird trappers
about retributive separations of close relatives in family. Ksitigarbha Bodhisattva would
talk to Triratna blasphemers about retributive blindness, deaf, dumbness,
speechlessness. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to persons who take Buddhist
Dharma and Buddha’s teachings for granted about retributive banishment everlasting in
evil paths. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to temple’s properties vandals about
retributive transmigrations in hells. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to persons who
make mess with monks’ lives about retributive rebirths in animals’ lives. Ksitigarbha
Bodhisattva would talk to persons who cook, grill, make injured living animals about
retributive transmigratory banishments. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to
commandment and time-for-meal breakers in temple about retributive hungry birds and
animals. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to vandals who unreasonably vandalize
tools, equipments about retributive hopeless wishers. Ksitigarbha Bodhisattva would talk
to arrogant persons about retributive lowest-caste servants. Ksitigarbha Bodhisattva
would talk to two-tongued persons who like violent quarrels about retributive no-tongued
or hundred-tongued mouths. Ksitigarbha Bodhisattva would talk to persons with
heterodox views about retributive frontier rebirths. I have briefly talked about bad habits of
living sentients in Jambudvipa that caused by their bodies, mouths and minds. Those
bad habits result in tremendous impact on their retributions of sins.The powers of the
karmas of living sentients in Jambudvipa are quite different from each other, so that
Ksitigarbha Bodhisattva had to manipulate hundreds thousands of means and ways to
teach and convert them. Firstly, they have to pay for their retributions of sins, after that
they’ll have to experience countless kalpas in hells without a release day. Therefore, all of
you must help your people and countries let the above-mentioned bad karmas not
mislead all the living sentients”. Having listened to the Buddha’s teachings and
instructions, the four Kings of Heavens- in tear-stained faces-clasped their hands to pay
obeisance to the Buddha then departed
CHAPTER FIVE: THE NAMES OF THE HELLS
At that time, Clergy Sage Bodhisattva the Great told Ksitigarbha Bodhisattva, “Kindly-
Honored One, for the benefits of the four devas groups as well as those of all the present
and future living sentients in Saha world Jambudvipa will you talk about the locations, the
names of the hells and their punishments in sufferings, in addition to retributions for good
or evil deeds of future living sentients in the period of degeneration and extinction of
Buddha-Law”. Ksitigarbha replied, “Kindly-Honored One, complying with the Buddha’s
supernatural power and your force I’ll talk about the names of the hells together with
retributions of sins resulting from evil deeds. In the East of Jambudvipa there is a range
of mountains named Cakravada. Looking inside the mountains, we see nothing but the
deep darkness without sunlight and moonlight at all times. In here is really the location of
Extreme Avici Hell (uninterrupted hell). There is also another one named the Giant Avici.
There is another hell named Quadrilateral, another hell named Hurling-Lance, another hell
named Rocket, another hell named Armor- Mountain, another Crossing- Spear, another
hell named Iron- Vehicle, another hell named Iron- Bed, another hell named Iron- Buffalo,
another hell named Iron- Coat, another hell named Thousand- Point, another hell named
Iron-Donkey, another hell named Ocean-Of-Boiling- Copper, another hell named Holding-
Pillar, another hell named Flow-Of-Fire, another hell named Plowing-Tongue, another hell
named Beheading, another hell named Burning-Foot, another hell named Eating-Eye,
another hell named Iron-Marble, another hell named Argument, another hell named Iron-
Machete, another hell named Much-Anger”. Ksitigarbha said, “Kindly-Honored One,
inside the Cakravada those are such types of hells! Each type has numerous ones, such
as Screaming hell, Extracting-Tongue hell, Excreta hell, Heating-Copper hell, Firing-
Elephant hell, Firing-Dog hell, Firing-Horse hell, Firing-Buffalo hell, Volcano hell, Silica
hell, Firing-Bed hell, Firing-Bridge hell, Firing-Hawk hell, Sawing-Tooth hell, Peeling-Skin
hell, Drinking-Blood hell, Burning-Arm hell, Burning-Foot hell, Toss-And-Stab hell, Firing-
House hell, Iron-House hell, Firing-Wolf hell. Inside each of above-mentioned hells there
is one or there are two, three, four or even hundreds thousands of smaller ones with
different names. Ksitigarbha Bodhisattva told Clergy Sage Bodhisattva, “Kindly-Honored
One, those are hells applied to punishing living sentients of Jambudvipa whose
retributions of sins caused by the influences of bad karmas. The hindrance of their past
karmas could be heavier than Sumeru- Mountain and deeper than vast ocean, thus
hindering the attainment of Bodhi. Therefore, living sentients of Jambudvipa! Don’t take
small sins for granted! Don’t consider small cruelties as sinless because after death all of
them –even a hair breadth - will be counted towards their retributions of sins. Beloved
father and son! Each of them made different retribution thus has different destination to
arrive. Son may not redeem father’s sins and the same thing happens to father! In
compliance with the Buddha’s supernatural power, I have briefly talked about the story of
retributions of sins in hells. Kindly-Honored One, please temporarily listen to my above-
mentioned words that were as far as I could tell”. Clergy Sage said, “Kindly-Honored
One, long time ago I knew about retributions at three evil paths. For the sake of next
generations, will you talk about those retributions so that living sentients who did evil
karmas correct and commit themselves to the Buddha. Ksitigarbha Bodhisattva told,
“Kindly-Honored One, the retributions of sins at the hells are as follows: There is the hell
in which the sinner’s tongue is pulled out and plowed by buffalo; there is the hell in which
the sinner’s heart is pulled out and eaten by Yaksas (demons, devourers of human flesh);
there is the hell in which the sinner is cooking in a cauldron of boiling water; there is the
hell in which a pillar is heating to very high temperature and has the sinner embracing it;
there is the hell in which a torch is set on fire chasing the sinner; there is the hell in which
frozen Winter is the forever season; there is the hell containing nothing but excreta
forever; there is the hell in which very big sharp-pointed sticks and canes are flying all the
time and everywhere; there is the hell containing nothing but firing spears; there is the hell
in which sinners are strongly punched and beaten at their bellies and backs; there is the
hell in which sinners’ bodies are tightly twined around by iron snakes; there is the hell in
which sinners are chased by iron dogs; there is the hell sinners are tied together with
donkeys to pull carts. Kindly-Honored One, dealing with those retributions of sins,
hundreds thousands of instruments of torture are used to execute sinners in hells. These
instruments of torture were only made of copper, iron, stone, fire and put into executions
caused by the influences of karmas. Not referring to such countless hells, just in each hell
the sinners have to generally incur hundreds thousands of sufferings. In compliance with
the Buddha’s supernatural power, I’ve got to briefly answer your question because I
couldn’t –even a kalpa – tell the whole story of hells!
CHAPTER SIX: TATHAGATA PRAISES KSITIGARBHA BODHISATTVA
At that time, The World-Honored One changed the position of His body and emitted the
great illuminating rays from between His eyebrows lighting up all over the hundreds
thousands, myriads of Buddhas’ worlds, simultaneously articulated in a firm tone of voice,
“Please all the Buddhas on all over the worlds in the universe, all the Great Bodhisattvas,
all the Devas, all the Ghosts and Spirits, all the Men and Not-Men, listen to me! Today I
officially praise and greatly appreciate Ksitigarbha Bodhisattva the Great in ten- direction
worlds who possessed beyond thought and word of supernatural power and
compassionate force to help out and rescue all the sinners of retributions of sins. After
my entry to Nirvana! Mind, all of you! The Bodhisattvas, Mahasattvas, Devas, Ghosts and
Spirits ought to carefully protect and widely spread this Sutra throughout the public, so
that all the living sentients could prove and attain Nivana, too. Right after the Buddha’s
careful recommendations, the Bodhisattva Great Clergy stepped up from His seat and
clasped His hands making obeisance to the Buddha, “The World-Honored One, listening
to Your high praises of Ksitigarbha’s supernatural power and meritorious deeds, I beg a
favor of You for telling us –for the sakes of the next generations, Men and Devas, Cause
and Effect in the period of degeneration and extinction of the Buddha-Law - about
Ksitigarbha Bodhisattva in order to Devas, Nagas and others of the eight classes
together with the next generations of living sentients could obtain maximal benefits from
this Sutra”. At that time the World-Honored One told Great Clergy, “Attentively listen to
me! Attentively listen to me! For the sakes of you all, I’ll talk about the story of Ksitigarbha
Bodhisattva bringing happiness to Men and Devas”. Great Clergy said, “The World-
Honored One, we are very happy to listen to your teachings”. The Buddha told Great
Clergy, “In the next generations, if there are any good men and believing women hearing
the Title of Ksitigarbha Bodhisattva the Great to clasp their hands praising or admiring or
worshipping, they will skip thirty kalpas of retributions of sins. Great Clergy! If there are
any good men and believing women painting His images or using stone, earth, glue,
paints, gold, silver or copper to build his statues in order to contemplate and worship him,
they will be reborn hundreds of kalpas in the Heaven 33th hence they’ll never be returned
to evil paths. Although they’ve got to be reborn in the world once their happiness in
Heaven ends, they will be reborn to be Kings enjoying great benefits. A woman being
tired of her female body, frequently worships Ksitigarbha Bodhisattva by painting His
images as well as using stone, earth, glue, paints, gold, silver or copper to build His
statues and offering incense, flowers, food, pure water, flags, banners, money or jewelry
at the altar everyday, she will not –in hundreds thousands of kalpas - be reborn in the
feminine world, let alone female body. Unless she voluntarily wants to have female body
in her rebirth in order to help out and rescue other living sentients, she - thanks to
Ksitigarbha‘s supernatural power and meritorious force - and – in hundreds thousands of
kalpas – won’t be reborn in female body. Again, Great Clergy! If a woman being tired of
her ugly female body tormented by illness, but stands honestly contemplating and
respectfully worshipping Ksitigarbha’s statue, she will soon be reborn – in thousands of
kalpas – in healthy and beautiful female body. If this woman has not been tired of female
body, she will be –in hundreds thousands ten-thousands hundred-thousands of kalpas –
reborn to be Queen, Princess or to be belonging to Prime Minister’s as well as
Bourgeois’s family, hence she is not only beautiful but also correct and decent in her
words and deeds. Such her good rewards were resulting from Ksitigarbha’s response to
her honest contemplation and respectful worship. Again, Great Clergy! If any good man
or believing woman can use musical instruments singing to extol Ksitigarbha Bodhisattva
and offer incense, flowers to Him in worship as well as encourages another man or many
other men to do likewise, he or she will be – in this life and next lives - protected –day
and night – by hundreds thousands of ghosts and spirits from even hearing evil words, let
alone receiving terrible evils. Again, Great Clergy! In the next generations, if any evil
persons or evil spirits or evil ghosts seeing a good man or a believing woman
respectfully offers or extols or contemplates Ksitigarbha’s statue, then criticizing and
blaspheming against or encouraging others to speak scornfully and sneeringly at him/her,
will be – in the good kalpa (present period) of 1,000 Buddhas – paid for their sins of
blasphemy. These blasphemers will be banished in Avici suffering serious offences. After
having been endured kalpas of chastisement in Avici, the criminals will be transformed
into Pretas (starving ghosts) for thousands of kalpas and domestic animals for thousands
of kalpas, after that they will be reborn in human body leading a poverty-stricken life.
Although they’re in human body, they don’t have enough five senses. Furthermore, their
senses are always magnetized with bad habits hence they’ll soon be banished into evil
paths. Those are retributions of sins resulting from criticizing and blaspheming good men
or believing women who are offering and worshipping Ksitigarbha Bodhisattva. The
retributions of sins would be worse than those above-mentioned if they’re themselves
having bad schemes or directly committing sins of blasphemy. Again, Great Clergy!
These are the following problems usually happening to serious patients who are waiting
for the ultimate verdict of guilty or not guilty: having got bed-ridden for long time and could
choose neither life nor death, seeing evil ghosts and their relatives in their dreams, going
into dangerous roads, having nightmares, playing with ghosts and deities at nights,
through months and years gradually getting changes for the worse to critical weakness or
tuberculosis, frequently crying miserably in their sleeps. In next generations if any good
men or believing women have got to suffer the above-mentioned problems and their
relatives in family – as lay persons - don’t know how to cope with the way of karma,
hence don’t know whether the patient will be died or will be alive, but they come to front of
Bodhisattvas’s or Buddhas’s statues and loudly read this Sutra one time or bring all the
patient’s favorite items such as expensive clothes, jewelries, gardens, houses and
likewise stand in front of patient speaking out, “On behalf of the patient I’m, what’s-my-
name –in front of Sutra and Buddha’s or Bodhisattva’s statue –solemnly giving up these
things in order to offer Buddha and Bodhisattva or build Bodhisattva’s and Buddha’s
statues or build temple or buy incense, kerosene lamps or offer the temples. The speaker’
d better repeat loudly three times so that the patient could hear his words. If the patient
was already unconscious having no more vitality, the members of family should continue
loudly reading the above-mentioned offerings together with this Sutra in thus one, two,
three, four, five, six even seven days, after patient’s death consequently all the past
crimes and five- gati sins of the deceased will be acquitted. At the new rebirth place, the
recycled person usually recalls his/her past life, let alone good men and believing women
that themselces write this Sutra, teach this Sutra to others, themselves paint Ksitigarbha’
s image, build Ksitigarbha’s statue will certainly enjoy great benefits. Therefore, Great
Clergy! When you see a good man or a believing woman reading this Sutra or
respectfully extolling this Sutra even in a moment, you’ve got to give him or her access to
reading and advise him or her not to quitting. He or she will achieve thousands ten-
thousands hundred-thousands beyond thought and word of great merits in this life as well
as in the next lives”. Again, Great Clergy! In next generations, any living sentients could
see ghosts and deities crying, moaning, complaining or being frightened in their dreams,
these images probably were their fathers, mothers, brothers, sisters, husbands, wives
from one life, ten lives, hundred lives, thousand lives in the past that had been banished in
evil paths, but have not been liberated so far, hence they’ve got to remind people of the
same blood relations to pray for them giving them access to get out of evil paths. Great
Clergy! Utilize your supernatural power having these relatives of the banished souls read
this Sutra with all their hearts in front of Ksitigarbha Bodhisattva’s and Buddha’s statue or
getting someone else read three times up to seven times so that the banished souls in
hells could hear the words of this Sutra and thus get released. Their nightmares will be
disappeared after that. Again, Great Clergy! In next generations, any lowest-caste
persons or slave-servants or prisoners who know about their past karmas and show
signs of repentance by respectfully contemplating the statue and image of Ksitigarbha
Bodhisattva in even seven days or by repeating Ksitigarbha’s title enough ten thousand
times, will –after their retributions of sins ended – be reborn to be venerable persons in
even thousands ten-thousands of lives. They won’t be return to three evil paths any more.
Again, Great Clergy! Next generations in Jambudvipa, such as Ksatriya (the second
ruling caste), bourgeois Brahman, Kulapati (a householder who practises Buddhism at
home without becoming a monk) and other ethnics that give newborn kids either boys or
girls, must know to chant early this beyond thought and word Sutra in addition to repeat
Ksitigarbha Bodhisattva’s title enough ten-thousand times so that the newborn kids either
boys or girls easy to feed having a long and happy life span even though their kids had
retributions of sins in past lives. If the newborn child is heir to a family, it will enjoy
happiness and safety as well as long life- span. Again, Great Clergy! In next generations,
the follwing days of a month: the1st day, the 8th day, the 14th day, the 15th day, the 18th
day, the 23th day, the 24th day, the 28th day, the 29th day, even the 30th day, are the
days of judgment to conclude every living sentient in Jambudvipa whether guilty or not
guilty. Just an unsound idea flashing through the mind could cause bad karma and guilt,
let alone adultery, homicide, burglary, obscenity, false boasting could result in hundreds
thousands of guilts. However, if we can keep vegetarian diets in ten days standing in front
of Buddha’s and Ksitigarbha Bodhisattva’s statue to read this sutra one time, there will
be no disaster happening within one hundred yojanas radius (100x 16 miles= 1,600
miles) of East, West, South and North around our residential area. Also, everybody old
and young of the family in this life, next lives as well, will - in hundreds thousands of years-
never be banished in evil paths. If we can keep vegetarian diets in ten days and read this
sutra once everyday, all family members will be enjoying much food and dressing well in
this life. Every body will be enjoying the best of health and avoiding any accident. Great
Clergy! Therefore, you’ve got to know that Ksitigarbha Bodhisattva possessed hundreds
thousands ten-thousands hundred-thousands beyond thought and word of great
supernatural powers that brought about so so much benefits. There is the great
predestined affinity between living sentients in Jambudvipa and this Mahasattva (Great
Being). Indeed, living sentients in Jambudvipa just hear Ksitigarbha’s title, see
Ksitigarbha’s statue even just hear three or five words, a sentence or a section of this
sutra, they will be enjoying great happiness in reward for this life, but for next lives, they
will be reborn to be correct and decent persons in venerable families”. Having listening to
the Buddha praising Ksitigarbha Bodhisattva’s merits, Great Clergy Bodhisattva –at that
time- clasped his hands in the Hun way of kneeling (right knee on the ground but left knee
up) and said, “The World-Honored One! Very long time ago, I heard of this Mahasattva’s
supernatural powers and great vows. For the sake of the next generations’ best
knowledges, will you tell us the name of this sutra, hence we can make it public”. The
Buddha told Great Clergy Bodhisattva, “This sutra had three names as follows: first name
was Ksitigarbha’s Great Vows Sutra, the second name was Ksitigarbha’s Meritorious
Deeds Sutra, the third name was The Sheer Force of Ksitigarbha’s Swear. These names
were related to Ksitigarbha’s far-away vows. For the sake of all living sentients, you’d
better make this sutra public!” After having listened to the Buddha’s assignment, Great
Clergy Bodhisattva respectfully clasped his hands making obeisance to the Buddha and
departed.
CHAPTER SEVEN: THE BENEFITS OF THE LIVING AND THE DEAD
At that time, Ksitigarbha Bodhisattva the Great said to the Buddha, “The World-Honored
One! I saw the mental status of living sentients in Jambudvipa are constantly altered,
losing so much great benefits and thus making beginners regressive in their self-
cultivating processes. If they come across external conditions that stir them to do evil,
their bad-thought-after-bad-thought would be gradually and endlessly increasing, just like
their shoes getting stuck in mud, burden of stones on their shoulders getting heavier and
heavier, hence their feet are unable to escape pitfalls. They’ll possibly encounter a good
friend who is ready to share with them parts of the burden or help them carry the whole
burden. This friend is really a friend indeed having great power! This good friend will also
encourage them to help them keep their feet strong and firm by advising them to correct
themselves in order not to return evil paths any more after they get out of pitfalls walking
on even and flat roads. The World-Honored One! The parents or relatives of those living
sentients that committed evil habits –from very few to immeasurable –should do
meritorious deeds in their dying breaths by spending money or property beforehand on
the dying persons’ traveling expenses, such as hoisting flags, parasols, buying kerosene
lamps, reading this sutra, offering foods or flowers to Buddhas’ statues, to Saints’ statues
even praying each name, each title of Buddhas, Bodhisattvas, Pratyeka-Buddhas. The
prayers must be articulate and loud enough so that the dying persons can hear by ears or
by own consciousness. All the dead persons who committed evil habits should be
banished – in judgment days – to evil paths unless their parents or relatives do
meritorious deeds to save them, because thanks to their parents’ and relatives’
meritorious deeds, the dead persons’ retributions of sins will be ended. If the dead
persons’ parents and relatives continue to do- after their deaths- such good things in forty
nine days, the dead persons will be pleaded not guilty for ever and reborn in Devas’ or
men’s lives enjoying great happiness. The dead persons’ parents and relatives will
certainly get greatly innumerable benefits from their good doings. This is the reason why
I, today –at the presence of the Buddha, the World-Honored One and Devas, nagas
together with others of the eight classes, men, Not-men – officially advise all the living
sentients in Jambudvipa that they should not create evil pratyaya (evil secondary cause)
by destroying the life to offer deities or evil spirits. The killings and offerings have not any
good impact on the dead persons’ benefits, but their evil actions will create more evil
karmas, thus make the dead persons’ retributions of sins more and more serious.
Supposing that the current or next life the dead persons will be reborn to be men or
devas, their rebirths should be reconsidered and delayed because of their family
members’ evil deeds, let alone the dead persons never sowed any good seeds when
they were still on-world living. Pursuant to the dead persons’ bad karmas, they should be
banished in evil paths! Making the dead person’s bad karmas increase is not different
from the case of a three-day-without-food hungry man carrying a burden on his shoulders,
now faces a completely useless neighbor! Instead of sharing the burden with him, his
neighbor piles in more things that make the burden heavier and heavier. The World-
Honored One! The living sentients in Jambudvipa really need to perform good deeds
even so small-like a hair, a water drop, a grain of sand, a speck of dust- and thus to enjoy
great benefits” During the time Bodhisattva Ksitigarbha was talking, the bourgeois Great
Rhetorician who attained the fruit of non-birth - ever since he converted and transported
people in ten directions of space – clasped his hands to make obeisance to Ksitigarbha
and said, “the Great Gentleman! Can you tell me if the deceased persons in Jambudvipa
will get great benefits and be saved from evil paths when their relatives did – many or
less - good deeds or abstained from flesh foods?” Bodhisattva Ksitigarbha replied,
“Bourgeois Great Rhetorician! For the interests of all the living sentients of the present
and future generations, I’ll briefly tell – on the support of Buddha’s supernatural power –
the story! On the death day, if the dying person can hear a title of a Buddha, a name of a
Bodhisattva or the name of a Pratyeka-buddha, he/she –however guilty or not- guilty
he/she is- will be saved. When living men or women did not do good deeds at all, on the
contrary just did many misdeeds, they’ll get one portion of seven rewards had been done
by their young or old bereaved. The living relatives will be enjoyed the rest six portions of
meritorious rewards, therefore the male and female people of present and future
generations should cultivate themselves, because they well knew that the portions of
meritorious rewards they will be enjoyed are proportional to their good deeds they have
previously done. Suddenly the impermanent ghost appears forcely taking away his life.
Like a wandering deity he’s now waiting for the conclusion of the investigation into his
worldly guilts and merits. In the period of 49 days of Judgment, the deceased is in a
passive obedience, just like an idiot or a deaf person, because after the final conclusion
of his/her guilts and merits has been confirmed, he/she might have to arrive at a bad-
karmic destination for rebirth where the comer has to endlessly experience thousands
ten-thousands of miserably punitive measures, let alone evil paths where there will be the
most miserable and painful punishments to be suffered. Therefore, in the period of 49
days the deceased person’s relatives should say prayers for forgiveness and do
meritorious deeds in order to help and save the deceased. After the judgment day, the
deceased has to pay for his/her retributions of sins- there will be no way to be saved- in
hundreds thousands of years. If his/her retributions of sins are classified as five-gati
crimes, the sinner should be banished for thousands ten-thousands of lives in big hells
and suffered innumeral miseries. Again, Bourgeois Great Rhetorician! If the bereaved
family would keep vegetarian diet to help and save the deceased person, they must
remember that vegetarian foods, vegetables and rice slop may not be placed on the
ground. The members of the bereaved family are not allowed to eat until pure and clean
rice, foods have firstly been offered to the Buddha’s altar and Sanghas, otherwise the
deceased person won’t get any blessing from their offering. If the offerings are
appropriate for the Buddha-Shangha worships, the deceased person will get one from
every seven of meritorious rewards. Therefore, Bourgeois Great Rhetorician! Living
sentients in Jambudvipa should think of their parents’ and relatives’ happiness by
hearteningly keeping vegetarian diet and respectfully offering vegetarian foods to the
Buddhas and Shanghas, so that both living and deceased persons will be enjoying
beneficial results! Simultaneous with the time Ksitigarbha’s talk thousands ten-thousands
hundred-thousands millions of ghosts and deities of Jambudvipa together started out for
their bodhi-minds. Bourgeois Great Rhetorician clasped his hands to make obeisance to
Bodhisattva Ksitigarbha and departed.
CHAPTER EIGHT: YAMAS IN HELLS COLLECTIVE PRAISE KSITIGARBHA
BODHISATTVA
At that time, all the innumerable Pretas (king of ghosts) and Yamas (god of the dead) in
hells within the Cakravala (Iron Mountains) were present at Trayastrimsas, coming
together to report to the Buddha. The following are main types of Pretas and Yamas in
hells: wicked Preta, multi-wicked Preta, multi-disputatious Preta, white-tigered Preta,
blood-tigered Preta, red-tigered Preta, disaster-relieved Preta, body-flying Preta, lighting-
flash Preta, dog-toothed Preta, thousand-eyed Preta, carnivorous Preta, stone-carrying
Preta, extravagant Preta, disastrous Preta, immoderate-eating Preta, money-grubbing
Preta, domestic-animal-owning Preta, poultry-breeding Preta, animal-owning Preta, elf-
owning Preta, sexual-producing Preta, lord-of-destiny Preta, disease-carrying Preta,
danger-carrying Preta, three-eyed Preta, four-eyed Preta, five-eyed Preta, Qilishi Preta,
Great Qilishi Preta, Qilicha Preta, Great Qilicha Preta, Anazha Preta, Great Anazha
Preta. All the above-mentioned Pretas were accompanied to the meeting by their small
Pretas that were all living in Jambudvipa. These small Pretas were very talented and
skilled in all the careers. Thanks to the Buddha’s and Ksitigarbha’s supernatural powers,
the Pretas and Yamas together with their small ones were gathering in full numbers and
standing on one side at Trayastrimsas. At that time, the Yama, god of the dead clasped
his hands, with his right knee on the ground and left knee up talking to the Buddha,
“Thanks to the Buddha’s and Ksitigarbha’s magical powers we, all the Yamas and Pretas
currently arrived in full numbers at Trayastrimsas for the General Meeting. For our
interests, may we entreat favors of You, The World-Honored One to solve one of our
small problems!”. The Buddha told the Yama, “For your benefits, I’m very happy to explain
any of your questions”. The Yama was simultaneously gazing at the Budhha and
Ksitigarbha Bodhisattva, then said to the Budhha, “The World-Honored One, I saw
Ksitigarbha Bodhisattva handling hundreds thousands of means and his own beyond-
thought- and- word magical power tirelessly to rescue living sentients in six evil paths.
However, many of those rescued living sentients not so long returned to be banished in
evil paths again. The World-Honored One! Ksitigarbha Bodhisattva possessed such
magical power, how come those rescued living sentients could not stay in good paths
enjoying freedom forever. For our interests, will you explain it to us” The Buddha told the
Yama, “The living sentients at the South of Jambudvipa are very temperamental and
stubborn, not easy to subdue. That was the reason why Ksitigarbha Bodhsattva had to
experience hundreds thousands of kalpas to patiently help them in ơrder to liberate them
soon and many as well. These rescued living sentients should have been banished in evil
paths, but thanks to Ksitigarbha’s magical power, they have been rescued from their
basic bad karmas, thus remembered their previous kalpas. Unfortunately, they – living
sentients in Jambudvipa – themselves relapsed into badly evil habits again travelling
backwards and forwards between good and evil paths. Their backslidings made
Ksitigarbha Bodhisattva take lots of kalpas to save them. Just like a deluded man lost his
house and strayed into a dangerous road where there were many Yaksas (devourers of
human flesh), tigers, wolves, lions, venomous snakes! The deluded man’s life suddenly in
no time could possibly get hurt by a lot of danger lurking around every corner. Fortunately,
there simultaneously appeared a well- known and intimate saver who had the great skill
in protecting others from danger and Yaksas. When the intimate saver saw the deluded
man entering the dangerous path, he asked the deluded man,” The good man! How
come you dare to enter that dangerous path? Do you have any skill to harness the danger
overthere?” Suddenly hearing these tender reminders, the deluded man knew that he
was lost in dangerous path consciously stepping backwards. The deluded man then
called for help to get out of the dangerous path. The intimate saver gave his hand to take
the deluded man out of the dangerous path to the safe and happy one, then he said,
“Alas, the deluded man! From now on do not return to that path any more, because
anyone who got lost in that evil path would rarely get out of it - hence the vulnerability to
life”. The deluded man was very much grateful for the intimate saver’s advice. At the
farewell moment the intimate saver said, “Tell your relatives, other pedestrians male or
female – be safe - not to enter that evil path where there are so many danger lurking
around every corner that their lives could possibly be threatened any time. That was the
tender compassion in all things of Ksitigarbha Bodhisattva who came to all the sinful
living sentients’ rescue with happy lives. Those rescued criminals recalled their miserable
karmas in their past lives and thus would never return to commit crimes. Just like a
deluded man lost in the dangerous path, fortunately met an intimate saver to lead him
getting out of danger. He not only never got back that evil path, but also advised others
not to enter it. He said to himself that I got lost because of my delusion, I did not know I
had been lost in the past lives, ie I had been lost my life and banished in evil paths.
Fortunately, Ksitigarbha Bodhisattva had manipulated his available means to rescue my
life, thus reincarnated in the realms of men and devas. If I returned that evil path again
with heavy penalties, I should possibly be banished in hell for ever. At that time, the
wicked King of Ghosts respecully clasped his hands and said to the Buddha, “The World-
Honored One! We are the different types of imnumerable Kings of Ghosts in
Jambudvipa! We generally are either beneficial or harmful to human beings. In
compliance with our previous retributions of sins, we had to travel everywhere in the world
doing many more bad things than good things. However when we saw people in families,
in towns or people gathering in residential areas, farms – males or females – to cultivate
themselves by doing goodness or hanging pennons, parasols without joss-sticks and
flowers to offer Buddha and Bodhisattvas or chanting sutras even a sentence, some
words, we- all the King of Ghosts- always respected and admired those worshippers as
we always did the same towards the Buddhas in the past, in the present and in the future.
We ordered young ghosts having big powers to cooperate with genii of the earth to help
out the worshippers so that wicked incidents, ill-gotten matters, malignant diseases, not-
according- to- their- wish happenings would not occur to their residential areas, let alone
occurred right in their houses. The Buddha praised the King of Ghosts, “Excellent!
Excellent! You and Yamas have thus supported good men and believing women! Let me
tell Brahma and Sovereign Sakra to protect you all”. (Brahma: the father of all living
beings - Sovereign Sakra: mighty lord of devas). At that time in the meeting, a King of
Ghosts called the Chief of Fate, stood up talking to the Buddha,”The World-Honored
One! My job is controlling human fates’ life and death in Jambudvipa. My own vow was
that all the selfish persons who just knew to make as much money as possible for their
purses were contrary to my expectations, thus suffered unsafely with their difficult
deliveries and deaths. For what reason? From now on anyone who newly delivered – boy
or girl – as well as anyone who is expecting, but did good deeds to bring about blessings
in family, the genii of the earth will welcome what they did, hence will help out not only
mother and baby get great safety and happiness, also their relatives get well-being.
When a mother has just given birth to a baby, the members in her family are not allowed
to destroy the life to get fresh meat in order to feed the woman in childbirth or to get
together opening party stuffed with meat, music, singing to celebrate the newly-born child.
All the above-mentioned activities will make the mother and her baby unsafe and
unhappy. For what reason? At the time of a woman’s difficult delivery there are countless
evil demons, evil spirits and ogres craving for blood, semen so that I used to order local
genii of the earth soon to take great care of mother’s and baby’s safety. The family
blessed with safety and happiness should do good karma in order to express their
gratitude to genii’s helping-out, otherwise destroying the life, getting together on the
booze are criminal, thus the family – including mother and newly- born baby - will have to
pay for their bad karma. Towards the deceased of Jambudvipa I would never guide them
– without discriminating between good and bad persons - to evil paths, let alone people
who sowed good seeds, hence increased my power. In Jambudvipa, at the life’s end of
even a good deceased person, there’re hundreds thousands of ghosts, evil spirits lurking
around every corner of evil paths and disguising as the deceased person’s parents or
relatives readily to mislead the deceased to evil paths, let alone the deceased person
who had a bad karma! The World-Honored One! The intelligent sprits of the deceased in
Jambudvipa often get sunk in stupor at their lives’ ends and cannot discriminate between
good and evil! Even their eyes and ears cannot see and hear anything, therefore their
relatives should make offerings and worships by chanting this sutra or reciting Buddhas’
and Bodhisattvas’ names and titles, so that good causation would separate the
deceased from evil paths, the evil ghosts and spirits would be dispersed! The World-
Honored One! Except the unintermitted punishments, all the living sentients –at their lives’
ends- who could hear a Buddha’s name and a Bodhisattva’s name or who could hear a
paragraph, a sentence of Mahayana Sutra, I would always try to find them out and save
them. They had not-too-bad karmas, but shouls have been banished in evil paths”. The
Buddha told the Chief of Fate, “You really had the great compassion and the great vow
helping out all the living sentients in their lives and deaths. Do not lose your heart and try
to keep your words to liberate good men and believing women of next generations from
their lives and deaths, hence they could enjoy safety and happiness forever!” The King of
Ghosts talked to the Buddha, “The World-Honored One! Do not be worried about that,
bearing this appearance of my body I always remind myself to support and help out all the
living sentients in Jambudvipa through out their lives and deaths in order to enjoy safety
and happiness. I would like all the living sentients in Jambudvipa to trust in my vow that
they will certainly be rescued and enjoyed great benefits”. At that time the Buddha told
Ksitigarbha Bodhisattva, “This great king of ghosts in charge of fate have experienced
hundreds thousands of kalpas in being the great king of ghosts, but he helped out all the
living sentients in their lives and deaths. He is really a compassionate Mahasattva! (A
Great Being) Although his external appearance is a great ghost, he is not a great ghost.
One hundred and seventy kalpas later on, the Chief of Fate would be obtained the
religion to become the Buddha named Animitta Tathagata at the kalpa named safety and
happiness, in the world named Pure Rest. The Buddha Animita will have a life- span of
countless kalpas. Ksitigarbha! The story of this great king of ghosts was really beyond
thought and word! The total of devas and men that were rescued by this great king of
ghosts was innumerable!
CHAPTER NINE: CALLING OUT BUDDHAS’ NAMES AND ALIASES.
At that time, Ksitigarbha Mahasattva talked to the Buddha, “The World-Honored One! For
the interests of next generations, now I would like to mention how to get great benefits in
life and death. Please, listen to what I’ll mention”. The Buddha told Ksitigarbha
Bodhisattva, “For the sake of Great Compassion, you want to talk about the issue
beyond thought and word thus rescue all the miserable sentient beings in evil six paths,
now is the righr time for you to mention it, please, hurry to mention it! Possibly, you could
early satisfy your great vow and as a matter of course, I won’t be worried about the
present and future generations when entering Nirvana!” Ksitigarbha Bodhisattva talked to
the Buddha, “The World-Honored One! In the past, about innumerable (asankhya) kalpas
ago, there was a Buddha named Immeasurable- Body Tathagata appearing in the world.
If any good man or believing woman heard and made obeisance to His name, he or she
would escape forty kalpas of life-and-death grave crimes, let alone painted His image,
built His statue or worshipped and extolled His Merits, he or she would enjoy countless
good rewards. Again, in the past, as the sands of Ganges of kalpas there was a Buddha
titled Tathagatagarbha (precious nature) appearing in the world. If any good man or
believing woman heard His name then in a moment made up the mind to take refuge in
the Buddha, he or she would never withdraw from the Supreme Way of the Buddha.
Again, in the past there was a Buddha titled Padma Jina Tathagata. If any good man or
believing woman just overheard His name, he or she would be reborn in the heaven of
Mara, let alone hearteningly recited His title. Again, in the past beyond word, beyond
word asankhya kalpas ago, there was a Buddha named Simhanada Tathagata (the lion’s
roar) appearing in the world. If any good man or beliening woman heard His name, then
in a moment took refuge in Him, he or she would get innumerable Buddhas laid the
hands on top of his/her head to give decisions. Again, in the past there was a Buddha
titled Krakucchanda appearing in the world. If any good man or believing woman heard
His name hearteningly contemplating and extolling His Merits, he or she would be the
Great Brahma in Bhadrakalpa with thousand Buddhas that laid the hands on top of
his/her head to give supreme decisions. Again, in the past there was a Buddha named
Vipasyin appearing in the world. If any good man or believing woman heard the Buddha’s
name, he or she would never be banished in evil paths, but would usually be reborn as
man or deva enjoying great happiness. Again, in the past there was a Buddha named
Ratnaketu Tathagata appearing in the world. If any good man or believing woman heard
that Buddha’s name, he or she would finally not be banished in evil paths enjoying
wonderful happiness in devalokas (heavens above). Again, in the past there was a
Buddha titled The Precious Likeness Tathagata appearing in the world. If any good man
or believing woman heard that Buddha’s name and made obeisance to His Merits, he or
she would not so long attain Arhan reward. Again, in the past innumerable asankhya
kalpas, there was a Buddha titled Kasaya Dhvaja Tathagata appearing in the world. If
any good man or believing woman heard the Buddha’s name, he or she would escape
grave crimes of one hundred great kalpas in life and death. Again, in the past there was
a Buddha named The King of Mountains Mahabhijna Tathagata appearing in the world. If
any good man or believing woman heard the Buddha’s name, he or she would have the
opportunity to hear as the sands of Ganges of Buddhas preaching the Buddhist Dharma,
thus get Bodhi reward. Again, in the past there were beyond the word of Buddhas or
World-Honored Ones such as Pure- Moon Buddha, King-of- Mountain Buddha,
Victorious- Wisdom Buddha, Pure-Name-King Buddha, Successful-Wisdom Buddha,
Unexcelled Buddha, Wonderful-Sound Buddha, Full-Moon Buddha, Moon-Face Buddha
appearing in the world. In all the sentient beings of the present and next generations if
there was any deva or man, male or female reciting one of the above-mentioned
Buddhas’ names, he or she would reward innumerable good merits, let alone reciting
many of Buddhas’ names. Those living sentients being in good faith would get great
benefits in life and death and finally would never be banished in evil paths. At the life-end
time, if the family members of the deceased – even one member – recited a Buddha’s
name aloud, the deceased could avoid his five unintermitted sins (killing, stealing,
adultery, lying, drinking intoxicants) and the rest of his bad karma could also be
eliminated. Although the five unintermitted sins could make the sinner suffered without a
break time in Avici hell forever, his five unpardonable sins could be gradually eliminated if
at his life-end time there were many other persons getting together to support the
deceased by simultaneously reciting Buddhas’ names, let alone the deceased could
recite Buddhas’ names by himself. He would get innumerable good rewards as well as
eliminate countless sins.
CHAPTER 10: WEIGHING UP THE MERITORIOUS ACHIEVEMENTS IN ALMS-
GIVINGS.
At that time, Ksitigarbha Mahasattva obeyed the Buddha’s supernatural power standing
up from his seat and kneeling right knee on the ground, left knee up to talk to the Buddha,
“The World-Honored One! I paid attention to the karmas of sentient beings and weighed
up their meritorious achievements in alms-giving, I figured out that their achievements
were either light or heavy: some achievements resulted in one- life blessing or ten-life
blessing while others resulted in hundred-life blessing or even thousand-life blessing that
brought great benefits for beneficiaries. Will you explain to us how come there were the
marked differences between numbers of blessing life?” At that time, the Buddha told
Ksitigarbha Bodhisattva, “Today, I stay at Trayastrimsas meeting with everybody! For the
sake of your benefits I’ll talk about the comparison of meritorious achievements in alms-
givings of living sentients in Jambudvipa. Everyone! Carefully listen to me.” Ksitigarbha
Bodhisattva said, “The World-Honored One! I haven’t totally understood those marked
differences. I’m ready to listen to your instructions”. The Buddha told Ksitigarbha
Bodhisattva, “In Jambudvipa, if any king, prime minister, high-ranking officer, great
bourgeois, great ksatriya (ruling caste), brahmana saw persons of the poorest caste in
society or even disabled people such as hunch-backed, crippled, dump, deaf, insane
and blind people having pity on them and wanted to give as alms, the king, prime
minister, high ranking officer, etc… could show their compassions by smilingly giving as
alms by themselves or they had others do alms-givings and console the poor
unfortunates with gentle words, they would get great rewards. Their great rewards
achieved could be compared with the virtue achieved from worshipping and offering
innumerable Buddhas. The reason why the ruling caste got such-and-such great rewards
was that because the poverty as well as the misery of the lowest caste and those of the
disabled had motivated the king’s, the minister’s, the high-ranking officer’s great
compassion. They used to be reimbursed with seven kinds of valuable jewelry, let alone
enjoyed enough food, clothes and furniture. Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the next
generations, if any kings or even brahmanas see stupas (mounds), Budhha’s images or
statues, even Bodhisattva’s, Sravakayana’s, Pratyeka-Budhha’s statues, voluntarily
worshipping and offering thus would be reborn to be Sovereign Sakra in three kalpas
enjoying wonderful happiness! If the kings or brahmanas devote the merits to
Dharmadatu, they would be reborn to be Great Brahman in ten kalpas. Again,
Ksitigarbha Bodhisattva! In the next generations, if any kings or bramanassee Buddhist
old stupas, old temples, sutras or Buddhas’ statues in ruins make up their minds to
restore by doing the job by themselves or by encouraging other number of hundreds
thousands of employees to rebuild temples, statues or rebind sutras, finally by
cooperating with these very employees to give as charities, they (kings or bramanas)
would be reborn to be Cakravartis in hundreds thousands of kalpas. The employees that
together with kings or bramanas gave as charities, would be reborn to be kings of small
nations in hundreds thousands of kalpas - (Cakravarti: a ruler the wheels of whose chariot
roll everywhere without stopping). If the kings or bramanas and employees as were
stated above make up their minds to devote all their merits resulting from restorations of
temples and sutras to Dharmadatu, all of them would finally accomplish the way of
Buddha (achieve enlightenment). Their blessed rewards were indeed countless and
boundless! Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the next generations, if any kings or
bramanas see ailing old man or woman in childbirth that in a moment arouses their
compassion to bring comfort to all of these unfortunates by giving them medicine, foods,
drinks and blankets, they (kings or bramanas) would - beyond thought blessed rewards –
be the King of the five Heavens of Purity inone hundred kalpas in addition they would be
the Kings of the Heavens of Desire in two hundred kalpas and would never be banished
in evil paths, thus finally accomplish the way of Buddha. Their ears would never be heard
of complaints of misery! Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the next generations, if any
kings or bramanas give as such alms, they would get countless blessed rewards. If they
make up their minds to devote all their merits – much or even less- to Dharmadatu, they
would finally become Buddhas, let alone the retributions of Sovereign Sakras, Brahmas
or Cakravartis. Ksitigarbha Bodhisattva! This is the reason why you should encourage
sentient beings learning how to give as such alms. Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the
next generations, if any good men or believing women grow good seeds that are even as
small as a hair, a grain of sand or a speck of dust, they would enjoy incomparable
blessed rewards. Again, Ksitigarbha Bodhisattva!In next generations, if any good men or
believing women see Buddha’s, Bodhisattva’s, Pratyeka-Buddha’s, Cakravarti’s images
and statues arousing their respects to worshipping and offering, they would get
innumerable blessed rewards, thus often be reborn to be men or devas enjoying great
happiness. If their blessed rewards are devoted to Dharmadatu, the feedback from their
devotions would be incomparable! Again Ksitigarbha Bodhisattva! In the next
generations, if any good men or believing women see The Great Vehicle’s sutras or hear
a Buddhist versified eulogy, a sentence of Buddhist sutra arousing so strong a faith in
their hearts that they respectfully praise, worship and offer, they would get great
retributions of their good karmas. The retributions are indeed countless and boundless. If
their blessed rewards are devoted to Dharmadatu, the feedback from their devotion
would be incomparable! Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the next generations, if any
good men or believing women see new Buddhist stupas, temples and sutras of the Great
Vehicle arousing their faith to worship and offer or clasp their hands to praise
contemplating as well as seeing the old or destroyed ones, they themselves restore or
encourage many others to do together, they would –being the leaders- be Cakravartis
and the cooperators of the restoration project would be kings of small countries.
Moreover, the cakravartis would have abilities and chances to teach and convert the
kings of small countries. Again, Ksitigarbha Bodhisattva! In the next generations, if any
good men or believing women they grow good seeds in Buddhist Dharma by
worshipping and offering or by remodeling stupas and temples or by adjusting and
translating sutras, they would enjoy - or devote to Dharmadatu - the great blessed
rewards in hundreds thousands of kalpas. Although their such good deeds are so small
as even a hair, a speck of dust, a grain of sand or a water drop, their blessed rewards
are remarkable! If their blessed rewards are devoted to their families or enjoying by
themselves, they would not only have three kalpas to enjoy happiness, but also eliminate
ten-thousands of retributions of sins. Ksitigarbha Bodhisattva! That was the cause and
effect of alms-giving”
CHAPTER 11: GENIE OF THE EARTH PROTECTS BUDDHIST DHARMA
At that time, the Genie of the solid-built jail talked to the Buddha, “The world-Honored
One! I always contemplated and worshipped innumerable Mahasattvas that had beyond-
thought- and –word wonder-working power and wisdom to support and rescue sentient
beings. Ksitigarbha Mahasattva was the one of Bodhisattvas having deep-rooted and
great swear! The World-Honored One! Ksitigarbha Mahasattva had great Hetupratyaya
(cause and effect) with sentient beings in Jambudvipa, so did Manjusri, Samantabhadra,
Kuan Yin, Maitreya. Although they reproduced themselves in hundreds thousands of
duplicates to save sentient beings at six evil paths, their services were somehow within
limits. Ksitigarbha Mahasattva had been teaching and converting all the sentient beings
in evil paths, his great swear had been experiencing throughout hundreds thousands ten-
thousands, as the sands of Ganges of kalpas. The World-Honored One! I saw the
sentient beings in the present as well as in the future time, at their residential areas of the
pure Southern direction using earth, stone, bamboos and trees to set up small altars in
which they could build statues and paint images. Especially, they cast Ksitigarbha’s
statues in gold, bronze, silver or iron burning incense sticks in order to worship and offer
as well as to contemplate and praise Mahasattva’s meritorious deeds. The people in the
above-mentioned residential areas got ten types of benefits. The ten types of benefits
were as follows: 1/ the soil got extremely fertile. 2/ the dwelling houses were secure for
ever. 3/ their ancestors were reborn