ĐỘ QUA BIỂN SINH TỬ

Trước tác: LIÊN SINH HOẠT PHẬT

Dich giả: LIÊN HOA VĂN HẢI

 

                                                            BÀI TỰA: ĐÔI GIÀY THẦN

                 Vào một ngày trong đêm, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát xuất hiện tại nơi tôi ẩn cư nhập thất, Bồ Tát đưa cho tôi một đôi giày để đi. Tôi hiếu kỳ hỏi Bồ Tát: “Đây là giày ǵ vậy?”.

Quan Thế Âm Bồ Tát đáp lại: “Đôi giày thần”

Tôi lại hỏi: “Thưa, dùng để làm ǵ vậy?”

Bồ Tát nói: “Chúng tôi muốn đích thân Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn trải qua một kinh nghiệm gọi là “Trung âm cảnh giới. Đó cũng chính là đích thân chứng thực trạng huống tử vong. Sau đó hăy viết ra một cuốn sách Độ Qua Biển Lớn Sinh Tử, để cho người thế gian hiểu rơ sự kết thúc sinh mệnh là một sự thực”

Tôi nói: “Có sinh tất có tử, đó là việc tự nhiên vậy c̣n cần phải viết làm ǵ?”

Bồ Tát đáp: “Đây là việc hết sức cấp bách”

Tôi lại hỏi: “V́ sao vậy?”

Bồ Tát đáp: “Chúng sinh đều cho rằng giữ cho thân thể được khỏe mạnh là tốt rồi. Họ thật chẳng biết rằng tuổi trung niên, tuổi già, tuổi bệnh sẽ đến rất nhanh. Đây đích thị điều trọng yếu để làm cho khắp nơi thiên hạ đều có được một nhận thức về sinh mệnh chấm dứt., biết được quá tŕnh của trạng huống tử vong. Quá tŕnh của trạng huống tử vong xảy đến cho mọi người bất kể thế nhân là tín đồ Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, thậm chí cho cả những người chẳng tin vào tôn giáo nào.  Ông phải tả rơ thật chân tướng của sự tử vong. V́ chân tướng của sự tử vong chính là điểm trọng yếu vậy”

Tôi hỏi: “Điều tôi viết người ta có thể tin không”

Bồ Tát đáp: “Đây không phải là sự mê tín, mọi cá nhân đều phải chết, không một ai được ngoại lệ, tử vong là vấn đề hiện thực, không phải là mê tín. Sau khi chết cũng không phải là chỗ tận cùng, Phật giáo, Mật giáo, Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo đều có cùng nhận thức như vậy. Sau khi chết có cảnh giới, có thể chứng minh. Thế giới linh hồn thực có. Chúng tôi cần ông viết ra, cần ông đích thân trải qua kinh nghiệm này và viết ra để có thể cứu độ chúng sinh”

Quan Thế Âm Bồ Tát nói kệ:

             Đọc tức minh bạch

             Tu tức giải thoát

             Tín tức đắc độ

Giải tức liễu ngộ

             Tôi thực sự báo cáo với mọi người: Sau khi di đôi giày thần tôi đă bị ngă bệnh. Tôi đă viết qua “Nước trong hồ lá đóng thành băng”, “Hướng về tam Bản Tôn cầu đảo”, tôi nhận thức tôi 58 tuổi chết, tôi khả năng phải chết. Đích thân tôi phải trải qua kinh nghiệm bệnh khổ đáng sợ, tôi đă bị bệnh rất nặng. Đây không phải là nói xằng, tưởng bậy, cũng không phải là tin sai. Đây chính là kinh nghiệm khi tôi đi đôi giày thần vào, kinh nghiệm tôi phải chịu mà người thế gian khó tưởng tượng được. Tôi chính là khổ trong khổ và đau trong đau. Tôi là một người tinh thần kiện toàn, một ẩn nhân tự do tự tại, thập phương thế giới đều có thể ghé đến tạm trú ngụ, nhưng khi đi đôi giày thần xong thân thể tôi đă phải nếm phải mùi vị của bệnh và chết. Tứ đại (đất, nước, gió và lửa) của thân thể tôi bị phân tán. Tôi có cảm giác núi non, đất đai bị tê liệt, nước ngập cả đỉnh đầu (chết đuối), hỏa diệm sơn phát nổ, cuồng phong thổi rét buốt. Vâng, tôi rơi vào địa ngục “bát Đông, bát Nguyệt”

             Tôi không muốn nói dọa chúng sinh, tôi thật sự rơi vào hố cạm bẫy của sự tử vong. Cầu sống chẳng được mà cầu chết cũng chẳng xong. Thực ḷng tôi không nói quá sự thực hoặc nói điêu ngoa. Đă làm người ai cũng phải chết, dù cho sức khỏe vững chắc như sắt thép, kim cương.

             Tôi đă phải hứng chịu quá nhiều cực khổ. Tôi rất trông mong chúng sinh hăy rời xa cực khổ và được hưởng lạc thú.

             Tôi yêu cầu mọi người:

                                       Thân xác là vô thường và thời gian trôi qua rất nhanh

                                       Những cực khổ chồng chất phải ĺa bỏ

                                       Nguyện cùng Chân Phật đồng tu hành

                                       Tận thử báo thân sinh cực lạc.

 

HOA SEN TÁM CÁNH KHAI MỞ.

                 Đi đôi giày thần xong th́ tôi bị bệnh rất nặng. Thực tế tôi không biết cách nào diễn tả lại chi tiết, tôi chỉ biết dùng ba chữ Thảm! Thảm! Thảm để nói lên t́nh trạng của bệnh tôi phải gánh chịu.

             Tôi bá cáo cùng mọi người v́ sao lại nói rằng “hoa sen tám cánh khai mở”: nguyên do là v́ đầu tôi đang nguyên lành bỗng nhiên bắt đầu bị vỡ ra, vỡ ra từng tí một dù quan sát bên ngoài tôi toàn thể b́nh thường, đầu chưa bị vỡ bể ra. Nhưng các người nghe đừng kinh hăi hoặc lo sợ, nguyên lai do “vô h́nh” mà toàn thể đầu của tôi đă phải trải qua sự bắt đầu phân xé. Từ trung tâm Thiên đỉnh đầu tôi bị xé ra thành tám múi (cánh), cứ xé ra một phần th́ tôi thấy đau đớn một phần mà mười phần tôi thấy đau đớn mười phần. Do vô h́nh, tôi bị chứng liệt năo (xé, vỡ năo).

             Chứng liệt năo này một người b́nh thường khó mà có thể hiểu nổi, nhưng chính tôi đang phải trải qua “khổ trong khổ” và “đau đớn trong đau đớn” đây! Tôi đă phải trải  qua một sự kinh khủng trên thế gian này mà xưa nay chưa một ai từng phải trải qua. Có cái ǵ có thể khổ hơn, đau đớn hơn chứng xé, vỡ năo không?

             Trước đây tôi có đọc tiểu thuyết Tây Du Kư. Quan Thế Âm Bồ Tát đă cấp cho Tôn Ngộ Không một cái Kim Khuyên (mũ sắt ṿng tṛn), mỗi khi mũ sắt co lại th́ Tôn Ngộ Không ngă lăn lộn xuống đất ôm đầu kêu đau thảm thiết. Đây chính là “Súc Năo Chứng” (Chứng năo, đầu co rút lại) mà ngày nay tôi phải gánh chịu. Chứng vỡ năo toàn bộ, vỏ đầu của tôi bị vỡ thành tám múi (cánh), vỡ từng phân, vỡ từng tấc một.

             Trời ơi! Đúng là núi lở đất vỡ! Đúng là hỏa diệm sơn bạo phát! Đúng là máu và nước đang rỉ ra! Đúng là đông rét đang đâm chích buốt thấu xương!

             Tôi sẽ phải chết! Tôi thật sự phải chết rồi! Nỗi đau đớn, khổ sở của tôi. Thế gian này không có từ ngữ nào diễn tả mà h́nh dung được, cũng không có người b́nh thường nào hiểu được, nguyên do tử vong đích thực là nỗi thống khổ! “Đóa sen tám cánh khai nở” nghe thật hoa mỹ, nhưng thực tế là nỗi kinh hăi của sự phải chết!

             Tôi thật sự hướng về “Tam Bản Tôn” cầu nguyện: Đức Từ Bi Diêu Tŕ Kim Mẫu, Đức Phật A Di Đà Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, nguyện xin Tam Bản Tôn tiếp dẫn tôi văng sinh!

             Tôi không c̣n tưởng đến sống nữa! Năm mươi tám tuổi cũng đủ rồi. Tôi ư nguyện được chết! Ư nguyện được văng sinh tại Song Đại Liên Tŕ!

             Nam Mô 36 vạn ức111vạn, 9 ngàn 5 trăm Đồng Danh, Đồng Hiệu A Di Đà Phật, xin hăy tiếp dẫn tôi.

             Theo quan niệm cũ trong  quá khứ của tôi cũng như quan niệm cũ của người Trung Quốc, tuối của một con người cần phải sống đến một thế kỷ (100 năm), đó là quá trường thọ. Một giáp (60 năm) đưọc gọi là thượng thọ, nhưng hiện tại tôi mới 58 tuổi, c̣n thiếu hai tuổi nữa, sao tôi lại cầu chết, cầu được văng sinh?

             Nhưng mà bạn biết không? Tôi đang phải trải qua “Chứng liệt năo”, nên chẳng những tôi chẳng tưởng đến sống mà c̣n có ư nguyện cầu chết. Mọi người có thể tưởng tượng, tôi cầu chết không nguyện sống nữa.

             Sự thống khổ này đă kiên nhẫn nhưng không thể nhẫn chịu được, thảo nào sinh, lăo, bệnh, tử trong tám thứ khổ đều là khổ cả.

             Trong lúc “đóa sen tám cánh khai mở”, “tứ đại của thân xác phân ră”, tôi không c̣n do dự ǵ nữa, tôi quyết định chết, quyết định mau mau văng sinh.

             Mỗi khi đau khổ đến, tôi thường cầu ánh sáng quang minh của Phật soi chiếu cho tôi. Ánh quang minh của Phật chiếu rọi tôi ba lần, mỗi lần được chừng mười phút, trong mười phút ấy tôi được thư thái.

             Nhưng rồi sau đó nỗi đau của chứng xé năo lại tiếp tục trọn bảy tuần lễ, tức 49 ngày, không phân biệt ngày đêm. Tôi ăn không ngon, ngủ không yên, y như sống trong địa ngục khồ h́nh. Bây giờ cuối cùng tôi mới biết v́ sao cần có y viện chữa bệnh hoạn để chính ḿnh ḅ đến cửa sổ, để từ cửa sổ của ṭa lầu nhảy xuống. V́ sao phải làm vậy? V́ sinh bệnh hoạn thật sự quá ư là đau khổ!

             Cuối cùng bây giờ tôi lại hiểu Hải Minh Uy v́ sao phải tự sát, Xuyên Đoan Khang Thành v́ sao phải tự sát, Tam Thủ v́ sao phải tự sát! C̣n nữa…

             Khi phải đi đến cảnh huống này, nếu như tôi không phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn, tôi sẽ nói lớn lên rằng: “Tôi cũng muốn tự sát!”

             Nhưng mà tôi không thể tự sát được, tự sát chính là giết Phật. Tôi là một nhà Đại Tu Hành, phải độ chúng sinh. Tôi phải là người nhẫn nhục chứ! Nỗi khổ của nhẫn trên thế gian này mà không nhẫn được th́ tâm khổ, thân khổ, tám thứ khổ, vậy đều phải nhẫn! Tôi không thể tự sát được!

 

PHẬT TRONG ĐÓA SEN TÁM CÁNH

                 Một người đang ở bên bờ tử vong, một con người sắp chết, người đó dĩ nhiên chính là tôi đây, tôi không muốn để cho sinh mệnh của ḿnh buông thả. Tôi đă từng nghĩ như thế

             Là người sáng lập ra Chân Phật Tông với năm trăm vạn đệ tử và với các Thượng Sư hoằng pháp, ít nhiều Lôi Tạng Tự, ít nhiều phân đường, ít nhiều trung tâm hoằng pháp: Thải Hồng Sơn Trang, Chân Phật Mật Uyển, Nam Sơn Nhă Xá, Liên Hương Thượng Sư, Lô Phật Thanh, Lô Phật Kỳ…

             Những sự nghiệp hoằng pháp trên thế giới Ta Bà này, người thân thuộc, những công lợi và vật chất thế gian, thế mà nay đối diện với tử vong. Tất cả nay hóa thành cánh chim bay, tất cả là Không.

             Tuy tôi phải đối diện với sự cực khổ của tứ đại phân ră, đối diện với chứng xé năo, tôi vẫn c̣n may v́ tôi tu hành đă lâu dài, tinh thần c̣n trấn định. Thần chí của tôi vẫn nhất trực tại “tứ niệm xứ”: “quán thân bất tịnh”, quán thụ là khổ”, “quán tâm vô thường”, “quán pháp vô ngă”. Tôi anh dũng không sợ chết, tâm chí nhất trực vươn lên cao. Tôi không chịu thua, không ngừng tŕ chú, niệm Phật. Ư chí tôi hoàn toàn đặt vào ánh sáng quang minh của Phật

             Chứng đau xé năo làm suy yếu thân thể và sẽ đưa đến sự tử vong đều không làm tôi ngă được. Tôi nhận ra rơ rằng tử vong là một sự thường lệ không thể tránh khỏi của kiếp con người. Tôi cũng không muốn trối trăn với các đệ tử những lời giáo huấn cuối cùng nào trước khi lâm chung. Tôi muốn chết trong cô độc, đây cũng là điều không thể tránh khỏi. Tôi cảm tạ Thượng Sư của tôi, cảm tạ Phật Đà, cảm tạ Phật Pháp, cảm tạ Thánh Hiền Tăng. Tôi sẽ xả bỏ nhục thể của tôi. Tôi sẽ viên tịch trong tự tại, tôi sẽ nhập Tam Ma Muội, tôi sẽ nhập Niết Bàn, hoàn toàn giống như tất cả các Thánh nhân đă phát đại nguyện cứu thế xưa nay. Tôi bất chấp cái chết, cũng không có ǵ phải hối tiếc. Những người xung quanh tôi không ai biết tôi sẽ phải chết thật nhanh, nên không có ai cố ư làm phiền nhiễu tôi. Tôi đă có khả năng giữ được b́nh thường, giữ được thái độ b́nh tĩnh để ra đi như tôi sẽ phải ra đi. Trong Tam Muội đoá sen tám cánh thực sự phân xé tôi, tôi chỉ c̣n sự đau đớn và suy nhược, nhưng không có tí sợ hăi nào.

             Một Thánh Triết đă chân chính giác ngộ, diện đối với cái chết không có ǵ phải sợ, mà càng phải kiên cường “Chính Tri, Chính Giác”. Tôi nhận thức rằng không gian rộng lớn vô biên, Pháp Giới rộng lớn vô biên. Từ khi có nhân loại th́ thời gian thọ mệnh của kiếp nhân sinh rất ư là hữu hạn so với vũ trụ có tới trăm vạn ức năm ánh sáng vô hạn.

             Bất kể cá nhân nào ở bất kể Pháp Giới nào đều phải chết, tơ hào cũng không sơ lỡ được, không có ai được ngoại lệ, tất cả tất nhiên phải thế.

             Không nhập Niết Bàn là lư tưởng. Người người đều phải chết là sự thực.

             Phật Đà đă dạy chúng ta: “Tự nhiên là một loại tuần hoàn của sự sinh tồn, sinh tử là một đại luân hồi, mọi thứ đều vô thường, mọi hiện tượng đều vô ngă, Niết Bàn tĩnh mịch. Đây là định luật, qui tắc của vũ trụ, đây cũng là chân lư vậy”

             Tôi là người đại giác ngộ, tôi hiểu rơ tử vong là một hồi sự như thế nào, nhưng trong một giai đoạn ngắn ngày này, tôi ăn không ngon, thể lực suy nhược, ngủ không yên giấc, tinh thần hao tận. Theo thông thường nói là rơi vào nơi cực kỳ nguy hiểm, chính lúc thân thể sa vào thế giới của vô minh hắc ám hoặc sa vào cảnh giới của âm u chết chóc.

             Tuy nhiên sau khi đoá sen tám cánh khai mở đến cực độ, th́ ngay chính tại tâm điểm của đóa sen ấy đoan tọa một Tôn Phật!

             Đây cũng chính là “Liên Hoa Đồng Tử”, “Hoa Quang Tự Tại Phật”, “Lô Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật”

             Vị Phật này chính là tôi, người đă nhiều năm tuân theo giáo đạo của Đấng Thế Tôn Đại Giác Ngộ trong môn phái Mật Tông, người tự tại trong ánh sáng trí tuệ của Bản Tôn, chỉ một ḿnh tôi một Như Lai mới có thể trong chốc lát quét sạch những vô minh hắc ám của tử vong.

             Tôi nhận thấy chính tôi là một Nguyên Thần (Phật Tánh)(Nguyên Thần: a star who is able to control the attainment of honors and the riddance of sickness and distresses). Tôi thấy được tôi, tôi thấy được Phật Tánh. Chính tôi là một Đấng Như Lai không hề bị suy giảm.

             Càng làm cho tôi ngạc nhiên là trên chân của vị Phật Liên Hoa Đồng Tử mặc một đôi giày thần của Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong Tam Muội, khi đóa sen tám cánh khai mở đă chứng kiến rất nhiều thứ trong âm cảnh. Điều này làm cho tôi nhất nhất mô tả ra tŕnh bày với mọi người rằng đóa sen tám cánh khai mở của tôi chính là “Phá Ngơa Pháp” của Mật Giáo vậy. Phá Ngơa Pháp chuyển thức thành trí, Liên Hoa Đồng Tử thăng nhập hư không, đồng trí tuệ của Bản Tôn trong hư không.

             Cuối cùng tôi hiểu rất rơ rằng

             Ở Bắc Kinh tôi trông thấy Đức Phật A Di Đà (từ Bắc Kinh bay đi Thái Nguyên), ở tại Hàn Quốc tôi trông thấy Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật và Chư Tôn. Tất cả những sự xuất hiện vốn cùng một mô dạng. Đương khi Nguyên Thần của chính tôi xuất ra khỏi sự trói buộc của nhục thể khiến cho lục căn, lục trần, lục thức hoàn toàn bị tiêu biến th́ cũng là lúc bộ mặt tu hành xuất hiện. Đây chính là giáo nghĩa bí mật của Mật Giáo. Tôi có thể chân thực thấy y như vậy.

             Trong khi Nguyên Thần (Phật Tánh) của chính tôi sống lại th́ trên không trung khắp trời vang dội trăm vạn lời ca tụng và tiếng hoan ca của Chư Thiên. Thập phương Chư Phật, Thập phương Tam Thế Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp, Chư Thiên…Toàn bộ đều đồng thanh sự xưng tán, xướng tụng, hoan ca.

             Tôi xin được bày tỏ với mọi người rằng đây chính là sự Chứng Ngộ từng được nói đến, đây chính là sự thấy được Phật Tánh, sự Thành Tựu và đạt được Quả Vị Phật từng được nói đến. Những sự từng được nói trên không có cách nào mà h́nh dung ra được. V́ đây chính là toàn bộ của sự Phục Hoạt (Sống Lại). Sự Hoạt Phục này giống hệt như một vùng đất chết khô cằn mọc vươn lên đồng lúa non, như toàn bộ cánh đồng hoang dă khai mở trăm hoa biến thành ngày xuân. Nó cũng như một người ngủ say bừng tỉnh dậy khởi động cho một ngày mới. Mặt trời mọc lên lại, phóng ra những tia hào quang, rực rỡ chiếu sáng một cuộc sống mới. Tôi qua Chân Phật Mật Giáo đă chứng minh một Chân Pháp Giới, nhục thể của con người đă phóng ra trí tuệ của Bản Tôn, thập phương chư Phật như cùng tụ lại hiển hiện. Đây là một vầng trăng chiếu sáng cả ngàn con sông, hàng vạn ngọn đèn trong một ngôi nhà, tạo thành ánh sáng của một ngọn toàn đăng. Tôi, bên trong Chân Phật Mật Pháp có Tịnh Thổ của Đức Phật B́ Lư Già Na, có Duy Tâm Tịnh Thổ, có Hằng Hữu Tịnh Thổ, Cực Lạc Tịnh Thổ, Kí Báo Tịnh Thổ và Chư Phương Tịnh Thổ…

                          Chân Phật Mật Pháp khó suy lường

                          Bát Nhă Mật Giáo Chính Giác Trường   

                          Tương ứng du già chư Phật trụ (Du già: tiếng Phạn có nghĩa là nghỉ ngơi)

                          Một nhánh cây đơm hoa, ngàn năm tỏa hương thơm.

             Vậy Lô Thắng Ngạn cuối cùng có bị chết không? Câu trả lời là: Không có chết! Phàm người nào có mắt nh́n chính xác đều có thể nhận ra ngay. Đối với một người đă giải thoát mà phải chết đi th́ chỉ là chuyển qua một đời sống khác và sống lại cũng chỉ là Nguyên Thần ĺa đi rồi quay trở lại. Cho nên điều này cũng có nghĩa là do từ b́nh diện nhân gian chuyển đến b́nh diện Tịnh Thổ, rồi lại từ b́nh diện Tịnh Thổ quay trở lại b́nh diện nhân gian. Hay nói cách khác không đến mà cũng không đi. Đó là Như Lai vậy.

             Tôi xác thực đă phải trải qua chứng đau xé năo, trải qua tứ đại phân tán. Tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Con người của chúng ta do tứ đại nhân duyên tác thành, chính là sự kết thành do sự bền chặt của đất, sự ẩm ướt của nước, sự ấm áp của lửa và sự chuyển động của gió. Tứ đại này nếu không điều hợp th́ nhục thân sẽ bị bại hoại phân tán. Vô h́nh trung, liệt năo là đất phá vỡ, nước máu rỉ ra, hỏa năo bốc phun lên, toàn thân gió bay tán vun vút.

             May thay, sự phận tán tứ đại của tôi là vô h́nh, nên bác sĩ kiểm tra cũng không được. Tứ đại này là nguyên tố của vạn pháp. Tất cả vạn pháp do tứ đại hợp thành. Nếu tôi chết thật, vạn pháp sẽ bị hoại diệt. Thực sự mà nói thân thể tôi chỉ suy yếu, đau đớn, không có ǵ bị hoại diệt. Cho nên tôi vẫn c̣n sống, sống để phải trải qua chứng đau xé năo bộ và tứ đại phân tán. Đây quả thật là việc không thể nghĩ bàn vậy!

             Tôi mang một sinh mệnh tàn tạ, nhưng lấy sự thành tâm để mô tả cuốn sách Độ Qua Biển Sinh Tử này. Làm thế này mới có ư nghĩa. Bởi v́ tôi là người hiểu rất rơ môt sự kiện rất to lớn của kiếp nhân sinh là sự tử vong, do đó tôi đă tả về sự tử vong và sự văng sinh ở Tịnh Thổ là rất thực tế. Tôi sẽ đem quá tŕnh của sự tử vong thuật lại chi tiết, thêm vào những ǵ tôi trông thấy tại trung âm cảnh giới để cho mọi người thấy cần phải đối diện với tử vong như thế nào. Dĩ nhiên mỗi người trên thế gian này đều tránh không khỏi một lần chết. Nhưng mỗi người cần phải biết một cách triệt để để đối diện, triệt để để hiểu thật rơ ràng, triệt để để chứng ngộ chân lư của sự tử vong.

             Tôi xin được bá cáo thật rơ ràng với mọi người rằng: Người sống là do người chết chuyển thế mà đến. Người chết là v́ nhân duyên của sự sống đă tận, nên phải chết. Kiếp trước và kiếp sau, sinh trước tử sau. Lục đạo luân hồi gồm trong đó.

 

SỐ MỆNH CON NGƯỜI CỦA KIẾP TRƯỚC VÀ HIỆN TẠI

                 Tôi đóng cửa sống một ḿnh tại hồ Diệp Tử, phiêu bạt sang xứ người. Tôi là một vị Đạo Sư của hàng vạn vạn người, Đại Tŕ Minh Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn sống hoàn toàn ẩn dật, tách hẳn ra ngoài nhân gian của thế giới Sa Bà. Tuy từ sự xán lạn trở về với cuộc sống b́nh thường và không xuất hiện với thế gian tôi vẫn viết để độ chúng sinh. Mặc dầu ở một ḿnh nhưng chính kiến, hành động và sự chính tu của tôi căn bản vẫn không có ǵ khác biệt.

             Sống một ḿnh, phải chịu mang bệnh khổ sở, không thế nào mà hạnh phúc cho được, nhưng xưa nay tôi không hề oán trời, trách người. Bởi v́ tôi luôn suy nghĩ rất kỹ về số mệnh của con người của kiếp trước và kiếp này. Tôi muốn bảo đảm với những đệ tử có ḷng tin kiên cố rằng tôi xác xác thực thực kiếp trước của chính bản thân tôi, xác xác thực thực nghe tên của tôi ở kiếp trước, chính bản thân xác xác thực thực chứng Ma Ha Song Liên Tŕ Tịnh Thổ.

             Nhớ được kiếp trước của ḿnh là do tôi đă phát đại thệ nguyện đến thế giới Sa Bà để độ chúng sinh. Lời thệ nguyện này thực sự rất to lớn:

                                       Phân thân, toái cốt độ chúng sinh

                                       Không bỏ rơi bất cứ một chúng sinh nào

             Cho nên do lời thệ nguyện của kiếp trước có kết quả ở kiếp này, tất nhiên bản thân và tâm trí tôi phải gánh chịu đại cực khổ. Tôi không có một sự ân hận nào về việc sống ẩn dật và cô đơn của tôi, tôi không có một hối tiếc nào khi thân tôi phải gánh chịu sự khổ nạn. Tôi nhận thức được rằng tâm ư của chúng sinh trên thế gian này là vô thường, lúc sinh lúc diệt. Do từ trong kư ức của tôi, không biết đă sinh nhiều ít bao nhiêu lần, cũng không biết đă chết đi nhiều ít bao nhiêu lần. Nhưng trong ư thức, qua những kỳ tử vong tôi đă trải qua, tôi hiểu một cách rất rơ ràng rằng tôi không phải là người b́nh thường, người b́nh thường là hoàn toàn không biết ǵ về kiếp trước của ḿnh, cũng chẳng biết ǵ về kiếp sau của ḿnh, thậm chí cái chết của chính ḿnh như thế nào cũng không biết nữa. Trên thế giới này, người có đủ tư cách để viết cuốn sách này e rằng chỉ có ḿnh tôi thôi. Sinh chính là phản diện của Tử. Tử chính là phản diện của Sinh. Đó chỉ là một đạo môn. Tiến đến là sinh, xuất ra là chết, dĩ nhiên trong ấy chết như thế nào thật là điểm trọng yếu.

             Người đọc cuốn sách này tất nhiên sẽ phát hiện được nguyên lai Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn là:

             BẢO: Vật cao quí trên hết mà thế giới Sa Bà tối trân quí

             ĐẠI ĐĂNG: Chiếu khắp thế gian, ánh sáng vô tận

             NHIÊN ĐĂNG:( đốt đèn) Xua đuổi những vô minh và hắc ám của ba đường ác giới.

             THẦN THÁNH: Người hỗ trợ toàn bộ Pháp Bảo

             CHÂN PHẬT: Như Lai Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Thập phương Tam Thế toàn thể Chư Phật, toàn thể Bồ Tát Ma Ha Tát đều tán thán:

                                       Ngọn đèn lớn chiếu khắp Pháp giới

                                       Thắp đèn chiếu sáng ba đường ác

                                       Nguyện dâng những công đức này

                                       Hỗ trợ làm hưng thịnh Chân Phật.

             Kiếp nhân sinh chân chính, đích thực như cơn mộng ảo, vũ trụ này là pháp tắc của sinh tử và cũng là sự sống động của trời đất. Vật chất giữa sự sinh tử là khổ lạc, khoa học, cơ giới, nghệ thuật… , cũng chỉ là những điểm nối liền.

             Thực tướng của kiếp nhân sinh chân chính kết cục là tu hành, kết cục là ngộ đạo, kết cục là một cảnh giới khác sau tử vong. Đây là điều khó tưởng tượng được của thế nhân. Ở đây tôi xin một lần nữa cảnh tỉnh tất cả chúng sinh rằng

             Tất cả những ǵ của thế tục cuối cùng sẽ là KHÔNG       

             Tu hành xuất ra khỏi thế gian mới là ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN

             Phật Đà là Nhân v́ Đại Sự Nhân Duyên mới xuất hiện ở thế gian.

             Chúng ta phải tương ứng với Tam Thừa Bồ Đề

             Tất cả những sự việc trên dù một tơ hào cũng không sai. Tôi ở đời này, bản thân đă nỗ lực làm những việc tương đương với tŕnh độ, đem hết khả năng giúp những kẻ mê muội thành tỉnh ngộ, phải xa lánh lợi danh để bảo tŕ tâm chính tu và thực tướng tương ứng.

             Những cái làm mê hoặc chúng sinh: tài, sắc, danh, ăn, ngủ

             Cái làm giác ngộ Phật: Bồ Đề

             Sinh Tử cũng là cửa ngơ

             Cái cửa ngơ này hiển hiện thật phi thường trọng yếu. Tử Vong có giá trị tính của nó. Bởi v́ càng nhận thức thâm sâu bao nhiêu th́ càng lĩnh hội thấu triệt. Tử Vong kết cục chính là cái Ch́a Khóa mở cửa đến Tịnh Thổ vậy. Chỉ yếu lúc lâm chung thật tối quan trọng!

 

ĐỪNG ĐỂ CHO KIẾP NGUỜI UỔNG PHÍ ĐI

                 Tôi đă từng viết trước đây: Tôi đă từng sống ở Cao Hùng Đài Loan cả thảy 19 năm, tại Đài Trung cũng ở 19 năm và ở Tây Nhă Đồ Hoa Thịnh Đốn Mỹ Quốc cũng 19 năm. Hiện nay th́ ẩn cư. Liên quan đến cuộc sống ẩn cư này, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thường thúc dục chúng ta cần tu tỉnh bằng những lời kệ sau:

                                       Như mộng ảo, bào ảnh

                                       Như điện quang, thạch hỏa (Thạch hỏa: Sao băng)

                                       Như lộ diệc như điện (Lộ: hạt sương)

                                       Ưng tác như thị quan.

             Sinh khổ, lăo khổ, bệnh khổ, tử khổ, buồn khổ, oán khổ, khổ thụ khổ, lo khổ, bệnh năo khổ, sinh tử lưu chuyển khổ. C̣n có yêu biệt ly khổ, oán ghét phải khổ, cầu không được khổ, khổ do tinh thần và thể chất chịu đau đớn do những hoạt động của ngũ âm (hoặc ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng hành thức)

             Ngồi mà tính lại th́ bậc Đại Thánh Phật Đà cũng có chín điều phiền năo:

             1/ Sự đại hủy báng của nữ Phạm Chí Tôn Đà Lợi, liên tục năm trăm vị La Hán cũng bị hủy báng.

             2/ Sự đại hủy báng của nữ Bà La Môn Chiến Già

             3/ Đề Bà Đạt Đa đẩy núi đè Phật, làm Phật bị thương chân

             4/ Thanh gỗ ngược đâm chân Phật

             5/ B́ Lưu Li Vương khởi binh tiêu diệt gịng họ Thích Ca, Đức Phật đầu bị đau đớn không thôi

             6/ Đức Phật nhận lời mời ăn của Kỳ Đạt Đa Bà La Môn, nhưng đă được đăi ăn bằng gạo nuôi ngựa.

             7/ Gió lạnh thổi buốt thấu xương qua tấm áo mỏng manh.

             8/ Đức Phật phải chịu tám năm khổ hạnh

             9/ Đức Phật đi khất thực trong xóm làng của Bà La Môn, nhưng chẳng được ǵ và phải về với b́nh bát không.

             Kiếp nhân sinh của Đức Phật Thích Ca khổ, kiếp nhân sinh của tôi khổ, giống như bài kệ cảnh thị của Phổ Hiền Bồ Tát:

                                                    Ngày hôm nay đă trôi qua

                                                    Số mệnh con người cũng qua đi không trở lại

                                                    Như cá thiếu nước

                                                    Như thế có ǵ là vui

             Phàm những bậc hiền trí đều phải thừa nhận kiếp nhân sinh khổ nhiều hơn sướng, lề mề theo vết ṃn cũ, trôi dạt uổng phí.

             Trong thời gian của kiếp con người, năm sự ước muốn đến trái ngược, con người chúng ta làm sao có thể lường được. (Ngũ dục: tiền của, dâm dục, ăn uống, danh vọng, ngủ nghê). Cái chết đến với chúng ta rất nhanh. Tử vong đối với con người chỉ là sự việc sớm muộn thôi. Nhưng lại có quá nhiều người làm những việc thật vô nghĩa, thực sự rất lăng phí, nhàm chán và rất đáng tiếc.Như tôi đă nói đến, trú ngụ ở Cao Hùng 19 năm, học đến tốt nghiệp cao trung. Rồi trú ngụ ở Đài Trung 19 năm, tốt nghiệp xong đại học đi làm việc. Ở Tây Nhă Đồ 19 năm để độ chúng sinh. Tôi cũng công nhận rằng thời gian tu hành độ chúng sinh, hoằng Pháp quá ít ỏi. Tôi c̣n có thể sống được bao nhiêu năm nữa? Bao nhiêu năm nữa tôi sinh tồn trên thế gian này? Đặc biệt chúng ta những kẻ phàm phu, tôi c̣n tính toán tốt, người khác ư thức trong sạch, tỉnh táo th́ quá ít, mơ mơ hồ hồ chưa từng trải qua. Ngay cả Phật Pháp cũng chưa được nghe qua, ngay một Pháp cũng chẳng tu, nên chết đi với tay không. Phật Đà nhận xét rằng chúng ta thực sự rất lười biếng, uể oải, thực sự rất phóng dật, chúng sinh cũng thực sự không trân quư thời gian của kiếp con người. Kim tiền là ưu tiên số một, truy cầu những dục vọng cho thật thỏa măn. Vả lại trong nhiều năm cứ nhận rằng nhục thân chính là TA, thậm chí nhân sinh chính là tất cả, sinh hoạt chính là tất cả. Đây là một quan niệm sai lầm

             Căn cứ vào ư nghĩa qua những lời thuyết Pháp của Phật Đà, sự sinh sống của con người rất là không đơn giản, cho nên có được cơ hội tu hành rất khó khăn. Bởi v́ trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy rất rơ rằng con người có thể chính ḿnh nỗ lực tinh tấn, do “tâm thức chuyển thành căn bản trí” mà đạt đến cứu cánh giải thoát, cứu cánh Bồ Đề hoặc đạt đến bậc giác ngộ của Phật.

             Cho nên Tâm Kinh mới nói: Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật

                                       Là: Vô Thượng Chú

                                       Là: Đại Minh Chú

                                       Là: Đại Thần Chú

                                       Là: Vô Đẳng Đẳng Chú.

             Đây tức là cũng muốn nói cuộc sống của con người là do chính cá nhân quyết định sự tinh tấn trong tu hành, để đạt đến được Bỉ Ngạn mới chính là một đại sự có ư nghĩa trong kiếp nhân sinh, mới là đại minh, đại thần , mới là vô thượng và mới là vô đẳng đẳng vậy.

             Cho nên cứ tính xem nếu bạn là Quốc Vương, bạn là Tổng Thống, bạn là Tổng Lư, là Thiên Hoàng, là Hoàng Đế, tất cả đều không phải là Vô Đẳng Đẳng Chú!

             Tất cả các pháp hữu vi đều là mộng ảo, là bào ảnh. Tôi rất thích bài thơ Mộng Thi của Vương An Thạch tôi đă đề cập nhiều lần trong các bài viết của tôi

                                       Tri thế như mộng vô sở cầu

                                       Vô sở cầu tâm phổ không tịch

                                       Hoàn tựa mộng trung tùy mộng cảnh

                                       Thành tựu hà sa mộng công đức

 

TỬ VONG TÙY THỜI GIÁNG HẠ

V́ sao phải dạy cho đệ tử của Chân Phật Tông làm thế nào để đối diện với tử vong?

             Trong Kinh Pháp Cú phẩm thứ 24 có bài kệ thứ 21:

                                       Chư thi Pháp thi thắng

                                       Chư vị Pháp vị thắng

                                       Chư hỉ Pháp hỉ thắng

                                       Trừ ái thắng chư khổ.

             Mọi người nhận thức rất tốt bài kệ này, Phật Pháp thật là vô thượng trân quư! Trên thế giới này c̣n có cái ǵ trân quư hơn Phật Pháp nữa?

             Tử vong là tối trực tiếp, rất dễ dàng nhận thức, là sờ sờ trước mắt (sinh động) và là thực tướng từ sinh đến tử. Tôi nói “sinh tử vô thường”

             Đừng đề đến già mới học đạo, sống trong cảnh cô đơn toàn là lớp tuổi thiếu niên.

             Trong một thoáng phi cơ bay bỗng bị rớt, đây là đang ở trong trạng thái sống sinh ra thực tướng tử vong

             Trong một thoáng xe đụng phải xe, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong

             Trong một thoáng xảy ra hỏa hoạn, chạy thoát ra không được, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong

             Trong một thoáng bị phần tử khủng bố ném lựu đạn, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong.

             Trong một thoáng đi thuyền bị tai nạn, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong

             Trong một thoáng bị địa chấn, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong.

             Trong một thoáng bị giông băo chết người, đây là đang ở trong trạng thái sống mà sinh ra thực tướng tử vong.

             Tôi xin báo cáo với mọi người rằng bị phán tử h́nh tru lục, hỏa thiêu, chết đuối, chết trận, rơi xuống vực núi, uống phải độc dược, bị hung sát, c̣n nhiều nữa.

             Ở trong nhà thương tôi đă chứng kiến tận mắt người được khiêng nhập viện, xuất viện, không nhất định là người già, thiếu niên cũng rất nhiều, thậm chí cả hài nhi, họ bị mắc những chứng bệnh trầm trọng, cũng có chứng nhọt bướu, chứng máu bị hủy hoại, chứng bệnh năo chết người, chứng bị trùng sâu ăn. Có cả tám vạn bốn ngh́n loại bệnh, bệnh làm chết người thật đáng tiếc! Lại c̣n có thứ đáng sợ hơn nữa: Nhân loại chiến tranh tự ḿnh chém giết ḿnh.

             Đối với sự đột nhiên tử vong đến, không phải là không có khả năng xảy ra, mà thực có khả năng lắm. Vào một buổi sáng phải đi vào âm cảnh giới trong tử vong, linh hồn làm sao lo toan đây? Bạn có sức kháng chế lại không? Sự tử vong xảy ra trong một sát na bạn có thể tránh được sợ hăi không?

             Bạn cho rằng nhân sinh có khả năng độc lập tự chủ tiếp tục sinh tồn măi măi và tồn tại trên thế gian là một thứ quyền lợi. Nhưng bạn có biết không? Sinh mệnh tùy thời mà mất đi, tử vong tùy thời mà giáng xuống. Người người đều có cảm giác lo âu sợ hăi.

             Trong quá khứ, tôi thường dạy các đệ tử phải “biết tu”, phải biết coi trọng thời gian quư báu, phải “ một ngày một tu”, c̣n nữa phải một ngày ba lần ghi nhớ niệm “ba căn bản”. “Ba căn bản” đó chính là căn bản Thượng Sư, căn bản Bản Tôn, căn bản Hộ Pháp. Người theo Mật Giáo v́ sao phải tu Hộ Pháp? Phải biết rằng Hộ Pháp là bảo vệ cho người tu theo Mật Giáo, tu Hộ Pháp khả dĩ tránh được rất nhiều phiền năo và khổ năo, ví dụ như:

                          1/ Ác Pháp Sư chú thuật

                          2/ Giáng đầu thuật (bùa thuật đen tối, nguyền rủa)

                          3/ Người ác hăm hại

                          4/ Tránh được tai nạn

                          5/ Quỷ thần hung sát, lăng nhục

                          6/ Phi nhân đoạt tinh khí

                          7/ Không rơi vào nơi nguy hiểm, vân vân

             Nhưng sinh tử vô thường, lại cũng rất là lệ hại. Nếu bạn không mỗi ngày mỗi tu tỉnh, không ghi nhớ niệm Thượng Sư, không Bản Tôn trú đỉnh, nhục thể không chu đáo, t́nh cảm buông thả, trong tâm th́ nghi hoặc, ba căn bản không có cách ǵ măi măi pháp trụ, tự tính bất diệt quang minh sẵn có mất đi. Thế rồi tử vong vô thường đột nhiên trong một sát na đến, đương là một người tu Mật Giáo trở thành món điểm tâm của ác quỷ vô thường

             Riêng cá nhân tôi cảm thấy được rằng ba căn bản của Mật Giáo rất trọng yếu, Thượng Sư là người nắm giữ toàn thể Pháp, Bản Tôn là Tự Tính của hành giả, Hộ Pháp là Thần Thủ Hộ của nhân gian. Ba căn bản này không thể thiếu một. Sự tu hành của bạn nếu như đă có tương ứng (tức Du Già: Đă chứng được sự thần bí để trừ ma chứng đạo, cứu khắp chúng sinh - Tự điển Thiều Chửu) th́ đối với mối lo sợ về tử vong cũng giống như mặt trời xua tan đám mây mù vậy. Tự nhiên mối lo sợ ấy biến mất đi không c̣n dấu vết ǵ để lại. Tôi thường nói:

             Khi ngồi phi cơ ta cần tương ứng (Bản Tôn trú đỉnh). (Kỳ thực ở bất cứ trường hợp nào, có Bản Tôn trú đỉnh đều rất quan trọng)

             Bỗng một buổi sớm vô thường chợt đến. Bản Tôn hỗ trợ, tự tính Bản Tôn (tự kỷ) và trí tuệ Bản Tôn (Phật) hợp nhất dung hợp, tức th́ trực tiếp đi đến được Tịnh Thổ. Bản Tôn trú đỉnh mà tôi đă dạy các đệ tử có ư nghĩa vá giá trị hoàn toàn ở tại điểm này. Đây chính là trung âm (linh hồn) trực tiếp chuyển biến mà thành tựu, Năng Tri và Sở Tri chính là Chính Tri và Chính Kiến. Sự tương ứng của Bản Tôn trú đỉnh là đệ nhất trọng yếu vậy.

                                                  

THIỆN THỆ VÀ THĂNG THIÊN

                                                                    (Ra đi an lành và lên trời)

Trong chuyện thần thoại diễn nghĩa thời thượng cổ, tôi rất thích thưởng thức truyền thuyết lên trời của Hoàng Đế. Kỳ thực sự chiến thắng Sy Vưu của Hoàng Đế trong Trung Quốc cổ đại, ông vốn là Thiên Chủ ở trên trời. Những nhân vật thần thoại thời Thượng cổ như: Phục Hy, Thần Nông, Hiên Viên, Toại Nhân, Hữu Sào, Nữ Oa. Thậm chí Nghiêu, Thuấn, Vũ, Đế Tuấn, Đế Khốc, Hậu Nghệ, Thường Nga, vân vân, không phải là thần mà chính là nửa thần nửa người.

Hoàng Đế thời cổ đại rất thích đi du sơn ngoạn thủy, thường gọi hai người bầy tôi đi theo ḿnh, một người là Phong Hậu, một người khác là Thường Bá. Người mang sách, người mang kiếm cho ông. Họ sung sướng vui chơi trong nhân gian. Nơi dấu chân của  Hoàng Đế đă qua: Thanh Khâu, Đỗng Đ́nh, Nga Mi, Vương Ốc, vân vân

Hoàng Đế sau đó biết được thời gian phải trở về trời của ḿnh đă đến, tại chân núi Kinh ông bèn đúc một cái vạc quí rất lớn (theo Đạo gia truyền thuyết rằng vạc này dùng để luyện linh đan, nên thuật luyện chế thuốc tễ - đan - của Đạo gia bắt đầu từ chỗ này). Vạc quí đúc xong cao một trượng, ba thước, dung lượng có thể chứa được mười thạch lúa. Chung quanh vạc có khắc con rồng bay trên mây, cũng khắc h́nh quỷ thần, chim lạ, thú lạ. Vạc quí đă được cử hành tiệc mừng công. Chư Thần trên Trời cùng bá tính khắp nơi đều đến chúc mừng

Hoàng Đế biết thời gian lên trời đă đến. Bầu trời đột nhiên mở ra, một thần long mặc giáp vàng lóng lánh, từ trong mây ló ra với bộ râu rồng rũ thẳng xuống và phủ trên vạc quí. Lúc bấy giờ Hoàng Đế và các thần tử của ông (chư thiên xuống phàm) tổng cộng hơn bảy mươi người, người người buông ḿnh vào trong mây, cỡi trên lưng con thần long, từ từ bay về thiên đ́nh. C̣n lại trên mặt đất những quân hầu và các bô lăo bá tính thấy Hoàng Đế lên trời, tất cả đều muốn theo Hoàng Đế về trời, nhưng họ không có cách nào tung thân ḿnh bay vào mây được nên không làm sao cưỡi lên lưng của thần long, chỉ c̣n biết tranh nhau kéo lấy râu rồng bay theo. Nhưng thần long không thể mang theo quá nhiều người, nên có rất nhiều người từ từ rơi trở lại xuống đất. Râu rồng cũng rơi lại một số sợi mọc trên mặt đất thành cỏ rất dài, gọi là cỏ râu rồng. Đó là câu chuyện về Hoàng Đế.

Ngoài ra c̣n câu chuyện về Chuẩn Nam Vương Lưu An lên trời cũng rất là thần kỳ. Chuẩn Nam Vương Lưu An thuộc Hán triều rất thích thú liên quan đến những học thuật Thần Tiên, để đua đến Bát Công, tức là chuyện tám vị lăo đầu kỳ quái. Chuyện truyền dạy thuật Thần Tiên. Sau này Lưu An thực sự học về cách luyện đơn, uống đơn dược của chính ḿnh rồi cùng tám vị lăo đầu và chính ḿnh ngồi trên một ngọn núi giữa ban ngày mà bay lên trời. Trong nhà của Lưu An c̣n có những viên đơn dược chưa uống, đẻ trong bát nhỏ đặt tại đ́nh viện. Chó và gà trong đ́nh viện của Lưu An đến liếm và mổ, tức nhiên có hiệu quả: gà từ từ bay lên , chó cũng bay được, toàn bộ chó và gà bay vào mây trời và trở thành gà tiên và chó tiên . Đây là một truyền thuyết nổi tiếng “Một Người Đắc Đạo, Gà Chó Thăng Thiên”. Ở Mật Giáo, Tạng Mật Tổ Sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Thiện Thệ của ngài thật phi thường danh tiếng: Bốn Đại Thiên Vương bưng chân ngựa trời hạ giáng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi trên lưng con thiên mă bay vào mây mà ra đi. Lưu lại một câu danh ngôn : “Kính Sư, Trọng Pháp, Thực Tu Giả Đắc Chi”.

Th́ện Thệ của Phật Đà là một sự ra đi của một vị Như Lai thật mười phần xứng danh. Thiện tức là Tốt, Thệ chính là Đi vậy.

Thích Ca Mâu Ni Phật tu chính đạo, nhập Niết Bàn hướng về nơi tốt lành (Thường Tịch Quang) mà đi, đó chính là Thiện Thệ

Ngày nay chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, dạy “Lâm Chung Chỉ Yếu”, đây tức là tín niệm “thiện thệ”, người người đều phải tử vong, không có ai lại được miễn, người người đều cần phải hiểu rơ ràng rằng tử vong là cái ǵ hồi sự, rơ ràng đối diện đối với tử vong, để đi đến một cảnh giới tốt đẹp hơn. Đây là vào cửa thiện, tu đạo thiện, thiện giải thoát, thiện tử vong, thiện Bồ Đề.

Một hành giả chân chính, vào lúc lâm chung phải không bệnh tật cho đến khi tuổi thọ hết trên giường bệnh, có Thiên Thần dự báo ngày chết, thiện lúc ly khai nhục thể, thiện để chuyển thế thành Phật Sống. Giống như hành giả “ngồi thoát, đứng mất”, tức là thân hóa hồng quang, tức là “toàn thân xá lợi”

Đối với một số người chúng tôi phải chỉ dạy làm thế nào để nhổ bỏ ma chướng? Làm sao để khai mở? Làm sao để được an ổn? Niệm Phật như thế nào? Làm sao để tŕ chú? Làm sao trung âm nghe dạy được sự cứu độ? Làm sao làm sạch được những u uẩn, thay đổi được ư thức? Như thế mới gọi là Thiện Thệ (ra đi tốt lành)

 

LỤC ĐẠO LUÂN HỒI TRONG THIÊN NHĂN

                 Trong thiên nhăn của tôi mà tôi thấy được về sinh tử và luân hồi th́ thật là rất nhiều nặng nề, vả lại không chỉ là đa trọng mà c̣n là đa sinh nữa.

             Luân hồi hai chữ này được dùng thật là đúng đắn, đó chính là một bánh xe chuyển động không ngưng nghỉ. Tuy nhiên người thế gian đến nay cũng không biết. Theo con mắt của tôi, sao mà ngưng một bánh xe, vô hạn cấp số bánh xe chuyển động không ngưng nghỉ: Luân hồi vô thủy vô minh, tuyệt đối đă không có khởi đầu và tuyệt đối không chung kết. Trong phương diện này có “Xuất Hiện”, cũng có “Mất Đi”.Trong phương diện này chỉ có Phật Giáo đề cập đến sự giải thoát sinh tử luân hồi, đạt đến Tính Chân Không chân chính hoặc cảnh giới Vô Thượng là Niết Bàn. Đây mới là Đạo Bồ Đề vượt qua khỏi luân hồi.

             Tôi trông thấy có cái Ngă Vật Chất và c̣n có Thần Ngă của đạo Bà La Môn, La Cáp của Hồi giáo, Linh Hồn của Cơ Đốc giáo, Trung Âm của Mật giáo. Tôi thật sự bá cáo với mọi người rằng sự tác dụng của thân và tâm trong phương diện này căn bản chính là sự biến hóa phức hợp thể (kết hợp chồng chất), trước sau liên tục. Không bị gián đoạn phát sinh ra trạng thái - từng sát na – liên tục xuyên suốt tác dụng nhân duyên. Tôi muốn nói không phải chỉ tử vong mới luân hồi mà ngay khi c̣n sống đă xuất hiện hiện tượng luân hồi rồi. Tôi được biết một vị rất có tiếng tăm. Ông là một tài chủ với địa vị trong xă hội rất cao sang, nổi danh trong lănh vực chính trị, kinh tế. Tuy nhiên qua thiên nhăn của tôi, tôi thấy tinh thần của ông ta đang đi vào một cuộc sông mới. Ông chưa bị tử vong nhưng trên nhục thể của ông đă chịu một dạng thụ sinh: ông đă sớm luân hồi thành một con măng xà (trăn lớn), nói một cách khác chỉ cần chờ đến lúc ông chết th́ phức hợp thể vật chất và linh hồn của ông sẽ trở thành con măng xà. Sự tử vong của ông chính là bắt đầu đi vào một h́nh thái khác của sinh mệnh của ông.. Nhưng mà, bạn có tin không đă? Vị danh nhân này chưa bị tử vong. Nhưng tôi đă thấy ông ta bắt đầu và sớm để lộ ra con đường lục đạo luân hồi của ông ta rồi đó.

             Tôi lấy thiên nhăn để xem tướng mạo của chúng sinh thấy có một người nữ danh đă sớm bị động linh vật lăo thử (chuột) bám vào thân. Lại có một người nam danh bị linh vật hùng (gấu) bám vào thân. Có rất nhiều trẻ nhỏ đă sớm bị linh vật hầu (khỉ) bám vào thân, cho nên thường bị y sư chẩn đoán với bệnh danh là mắc chứng “táo uất tinh thần” (hyperactivity: tính quá hiếu động)

             Người tu hành bị ma bám vào thân cũng không ít, cũng chỉ v́ đă không tu theo chính pháp nên đi sai đường nhập tà ma. Ma dễ dàng bám theo thân người tu. (Càng tu càng trở nên tự cao tự đại, cuồng vọng, cuồng tưởng, bám víu, danh lợi)

             Tôi thấy một bé nữ sinh mới sáu tuổi, hàng ngày vào chiều tối cứ dùng đầu của ḿnh đánh kêu b́nh b́nh vào giường ngủ. Bác sĩ cũng phải bó tay, đại pháp sư cũng bó tay, thày đồng bói toán cũng bó tay và phù chú cũng bó tay. Bởi v́ bé nữ sinh này kiếp trước giết người ở trên giường, tiền thế đă tạo ác nghiệp, nên linh hồn (trung âm) của nạn nhân đến đ̣i nợ máu. Cho nên kiếp này bé nữ sinh này phải dùng đầu đánh vào giường để đền trả nợ trước. (Hiện tượng này được gọi là quỉ thượng thân)

             Tôi dùng thiên nhăn quan sát tại các y viện lớn, bệnh hoạn trong y viện, nào là giải phẫu cuống họng, thận, mổ tim, cắt gan, vỡ năo, tẩy ruột, phá gan, cắt da (đây là địa ngục khổ h́nh). Tôi cũng dùng thiên nhăn quan sát nhiều vị chính trị gia, nào là nhà đại chính trị chủ tể có quyền sinh sát, trên g̣ má trên mặt các vị này xuất hiện ra vương tướng A Tu La, họ lấy sự tranh quyền làm vui, chiến sự không có một ngày yên ổn (Đă sớm bị luân hồi thành A Tu La). Lục đạo luân hồi th́ hữu h́nh hoặc vô h́nh sớm đă xuất hiện trên mặt con người là do nghiệp chướng mỗi người nặng hoặc nhẹ khác nhau mà thôi. Lục đạo luân hồi Thiên, Nhân, A Tu La, Địa Ngục, Ngă Quỷ, Súc Sinh đều toàn do nhân quả nghiệp báo của đời trước, đời nay, và đời sau gây ra. Trong thiên nhăn của tôi linh hồn tự sát cũng đáng thương, nên khi chuyển kiếp làm người th́ cũng là người câm, điếc, trí tuệ chướng ngại, tàn tật, bị những chứng bệnh kỳ quái. Tôi dùng thiên nhăn quan sát một người con gái của một vị trung niên, cô ta quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn, cô đă có nhiều kiếp không hề làm những việc tổn Trời hại Lư. Trong kiếp này cô rất nỗ lực tŕ chú niệm Phật, tu Chân Phật Mật Pháp. Người này trước mắt người này hết ḷng hóa độ những người hàng xóm láng giềng, những bạn học, giúp đỡ những thân bằng, bạn hữu quy y cửa Phật. Cô chưa hề xuất gia, dùng thân phận cư sĩ của ḿnh hiệp trợ Tôn Sư đi hóa độ chúng sinh. Cô ta giữ giới rất là nghiêm chỉnh: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng tưởng, không rược chè. Nhất là lời ăn tiếng nói, cô không nói thêu dệt, không vọng ngữ, không nói hai lưỡi, không ác khẩu, xưa nay cô rất từng ít nói hoặc nói những chuyện vô ích. Đối với người với việc không oán không than. Cô là người có tâm rất từ bi, nguyện ḷng làm cho mọi người được an lạc. Cô thấy rằng chúng sinh thật quá ư là khổ, cô tâm nguyện làm cho hết tất cả những thống khổ của chúng sinh, nên có tưởng pháp từ bi với tất cả các chúng sinh. Phải biết rằng một người khi có phát tâm từ bi th́ sẽ được mười hai loại lợi ích vô h́nh: Phúc đức thường đi theo thân, ngủ mộng b́nh an, có thần theo hộ mệnh, người người tôn kính, không bị độc hại, không rơi vào chỗ nguy hiểm, sông nước không làm chết người, lửa không bị đốt cháy, được nhiều lợi lộc, vô danh mà có danh, thăng nhập cơi trời Phạm Thiên, văng sinh Cực Lạc. Cô này cũng đắc Vô Lậu Pháp, Vô lậu này là Lậu không có h́nh, đến điều Vô Phiền Năo. Phiền năo tức tham, sân, si. V́ ngày đêm do lục căn tiết rỉ ra không ngừng, nên cô ta không tham, không sân, không si và là một hành giả chân chính. Tôi lấy thiên nhăn để quan sát nữ đệ tử này, tôi thấy ánh sáng bạch hào giữa hai lông mày. Đây là một trong 32 tướng tốt. Tôi thật kinh ngạc! Tôi chứng nghiệm cô này đă đạt đến “Ly Dục Địa” trong Thập Địa Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác, rất nhanh trở thành Bồ Tát. Cô gái này có một lần trong Tam Muội, đă thấy tôi hiện thân, lại c̣n thấy hơn cả trăm vị Bồ Tát. Tôi cùng hơn trăm vị Bồ Tát hiển hiện Báo Thân với Thân Đại Thiên Sắc, rất là trang nghiêm, rất là thù thắng làm cho con người cảm động. Tôi nói: Người đệ tử này nhất định văng sinh Phật Quốc.

 

ĐỈNH THIÊN KHIẾU SÁNG SỦA (ĐỈNH ĐẦU)

Để được văng sinh Phật Quốc, cá nhân tôi nhận thức rằng khi một người tử vong, nếu như gặp được một Kim Cương Thượng Sư ở bên cạnh. Vị Thượng Sư này sẽ chỉ trung âm (linh hồn) của người vong t́m ra đường lỗ (khổng đạo) tốt nhất để xuất ra, đây rất là quan trọng. Tôi phân loại có 11 khổng đạo: 1/ Thiên Khiếu - Đỉnh đầu chỗ chân tóc, trung ương của 8 nơi (bát chỉ xứ); 2/ Hai Lỗ Tai; 3/ Hai Con Mắt; 4/ Hai Lỗ Mũi; 5/ Lỗ Mũi; 6/ Lỗ Rốn; 7/ Âm Đạo; 8/ Xoang Môn (lỗ đít).

             Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn sớm tu thành tựu Phá Ngơa Pháp, đó là một trong sáu phương pháp. Khổng đạo trung ương ở đỉnh đầu đă mở, mọi người đều có thể thấy. Đây là chứng minh tốt nhất. Không đạo này nằm ở chính giữa đại năo gọi là Thiên Khiếu, đây cũng chính là trung tâm của hoa sen ngàn cánh. Trong Mật giáo, Du Già Mạch Luân là trên Mi Tâm Luân (điểm giữa của hai lông mày) sự tác dụng của tinh thần tại đây là rất rơ rệt. Đây cũng chính là mạch luân chủ yếu của ư thức thanh tịnh.

             Các họa sĩ của chúng ta vẽ Phật Bồ Tát, đương nhiên vẽ toàn thân trong sáng, mỗi lỗ chân lông đều phóng ra ánh sáng, nhưng trọng yếu đích thị là ṿng tṛn sáng trên đỉnh đầu. V́ sao đỉnh sáng Thiên Khiếu lại trọng yếu?

                                                    Người có cùng tâm này

                                                    Tâm có cùng lư này

                                                    Thượng thăng Phật quốc

                                                    Ấy từ Thiên Khiếu.

             Trong Mật Giáo, đầu của con người là trung tâm của ư thức giác tri, do đầu mà điều tiết những mạch luân khác. Do trung mạch xuất ra trung âm của sinh mệnh , nếu như là phong mạch quang minh th́ sự tác dụng tối hậu chính là từ đỉnh Thiên Khiếu xuất ra, nhiên hậu nhập vào trung mạch của Bản Tôn và với trí tuệ của chính ḿnh, Bản Tôn hợp lại thành một, rồi chính ḿnh biến hóa thành Bản Tôn mà nhập vào Tịnh Thổ của Bản Tôn. Một Kim Cương Thượng Sư giỏi khả dĩ chỉ dạy được người vong (sắp chết), chỉ dẫn cầu cúng không ngừng, tụng niệm Thánh Danh để cho người lâm chung được Thiện Thệ (ra đi tốt: well-departed), văng sinh Tịnh Thổ Phật Quốc. Nơi trung âm (linh hồn) ra đi chính là đỉnh Thiên Khiếu vậy.

             Một vị Thượng Sư giỏi cũng có thể may gặp được, từ cổ chí kim do duyên phận đầy đủ, quả báo nhân duyên ấy là tính cho người có đại thiện căn. Do một vị Kim Cương Thượng Sư đă chứng ngộ đến để giúp đỡ cho một người phàm phu, đây chắc hẳn là do đại nhân duyên từ kiếp trước mới có được.

             Kim Cương Thượng Sư cần phải biết rơ rằng: Người phàm phu có sáu tâm thức, nhăn (mắt), nhĩ (tai), khứu (mũi), thiệt (lưỡi), thân (da, xúc giác), ư. Mạt Na, A Lại, Dị Thục và Vô Cấu thức thứ mười. Thức thứ 8 là Như Lai Tạng Thức, thức thứ 9 là Li Phân Đoạn Sinh Tử, thức thứ 10 là Cứu Cánh Thanh Tịnh. Nhưng mà nói THỨC chính là phân biệt.

             Kim Cương Thượng Sư phải chỉ dạy người vong, phải biết tâm thức của người vong, hiểu rơ riêng biệt đặc tính mỗi thức. Đối với người vong th́ chỉ có tâm hành của bảy thức. Hiểu rơ riêng biệt từng thức, hiểu biết lại không chấp trước, mới có thể chỉ dạy người vong thoát ly khỏi bể khổ ngay lập tức. Đây cũng là cách để biết rơ và phân biệt tài năng của một Kim Cương Thượng Sư đă chứng ngộ. Kim Cương Thượng Sư cần phải biết phân biệt tâm hành của chúng sinh, chỉ dẫn cho chúng sinh sơ ngộ.

             Chuyển từ bảy thức trước vào thức thứ tám, được toàn công năng. Sau đó Kim Cương Thượng Sư phải đóng lại hai lỗ tai, hai lỗ mắt, hai lỗ mũi, đường miệng, lỗ rốn, âm đạo, lỗ đít, chỉ để thừa lại Thiên Khiếu. Sự phong bế (đóng lại) phải dùng Quang Uẩn Thiên Thức Pháp. Đây phải có Thượng Sư của Kim Cương Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp có mặt để phong bế mười khổng đạo (lỗ, lối thoát ra, exit). Sau đó là “thiên thức” (đổi thức). Thức thứ tám Như Lai Tâm Tạng, nhất thiết chủng trí, là chân tâm từ vô thủy đến nay thoát khỏi kiến văn, giác tri, nghĩa là trong tam giới không khởi ḷng tham, sân, si, sản sinh ra ḷng chán bỏ trong tam giới. Kim Cương Thượng Sư đủ sức vận dụng: “quang uẩn”, “thiên thức”. Đây chính là vô thượng Đại Pháp cực kỳ quan trọng, có thể làm cho từ vị trí của người vong, trong một thời gian rất ngắn mà trong trung âm chứng ngộ được Nhất Thiết Chủng Trí của một vị Bồ Tát chứng ngộ, đạt đến thần dụng của thức thứ tám. Ví dụ như: Gia mẫu Lô Ngọc Nữ viên tịch tại Tây Nha Đồ Mỹ Quốc, tôi có mặt tại lúc đó. Tôi đă dùng Quang Uẩn Thiên Thức Pháp, mở được Thiên Môn, đóng được Địa Hộ, ngăn được Nhân Đạo, cản được Quỷ Lộ. Việc này chỉ có Thượng Sư tương ứng, Bản Tôn tương ứng, Kim Cương Thượng Sư tương ứng hộ Pháp mới có thể vận dụng Quang Uẩn. Đặc biệt là trên phương diện “thiên thức” (dời đổi thức), thức thứ tám có thể tính cao, Pháp sư b́nh thường và người phàm phu không thể hiểu được. Chỉ có vị đă chứng Chân Như và Đại Kim Cương Thượng Sư thân chứng thức thứ tám Như Lai Tạng mới có thể hiểu nổi “thiên thức”.

             Do người vong ở cảnh giới trung âm, sáu thức, bảy thức gộp lại gây tác dụng, tạo ra nhiều cảnh giới không tốt. Cho nên Kim Cương Thượng Sư cần phải chỉ dẫn, dùng phi tâm tâm, bất niệm tâm, vô trụ tâm, vô tâm vô tướng mà phá trừ đi.

             Cần phải để cho người vong tỉnh ngộ để rời bỏ kiế n, vă n, giác, tri của “lục căn, lục trần, lục xứ” mà nhận chứng Tự Tính Đại Chủng Trí. Lấy sự thần dụng của nó từ Thiên Khiếu tiến nhập Cực Lạc Tịnh Thổ văng sinh Phật Quốc, trở về nhập vào Tự Tính của A Di Đà Phật. Lúc bấy giờ các đệ tử cùng người trong nhà tại hiện trường có khoảng hai chục người quay quần xung quanh, chúng tôi khởi niệm Danh Hiệu “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”, niệm Danh hiệu không ngừng (Bản Tôn của mẹ tôi là Quan Thế Âm Bồ Tát). Trong hiện trường mọi người chứng kiến thân xác của mẹ tôi được sự tốt lành xảy đến: đột nhiên đầu mẹ tôi từ từ nâng lên, một luồng chân khí (chân tâm) từ đỉnh Thiên Khiếu vụt xuất ra mà bay đi. Đây là mẹ tôi được giải thoát khỏi lục đạo luân hồi, minh chứng ly khai khỏi tam giới (khi hoả tang xác mẹ tôi, trong tro đă t́m thấy xương xá lợi, răng xá lợi và hoa xá lợi)

             Mẹ tôi do thiên thức mà sơ ngộ, do sơ ngộ mà thần dụng sinh khởi đại trí tuệ, như bây giờ bà đă trở thành Đại Bồ Tát

 

NHÂN SINH LÀ KHÁCH QUA ĐƯỜNG.

                 Khi tôi mới học Phật, học qua khóa tụng, Pháp Sư dạy tôi khóa tụng là Pháp sư Thiện Tứ của chùa Từ Âm Tự và Pháp Sư Thượng Lâm của chùa Từ Minh Tự. Sau khi học xong khóa tụng kinh xám hối, tôi ngẫu nhiên được cử đi thực tập, theo đoàn để đi tụng “cúng tế trời”, cũng tụng kinh siêu độ giúp người trong việc tấn liệm xác chết. Thậm chí có người vừa chết xong, xác c̣n nằm thẳng cẳng trên tấm ván mộc, cá nhân tôi thay cho người vong tụng “Cước Mao Kinh”. Có biết tôi đă chứng kiến bao nhiêu người chết không? Câu trả lời là Vô Số (không thể đếm)

             Niết mục hoành sinh không lư hoa, vọng tương tam giới nhận vi gia,

             Đại thiên thường tịch quang minh chiếu, chúng chướng tiêm trần tổng thị già.

              Ái thằng khiên nhập khổ Sa Bà, khốc đáo hoàng tuyền lệ chuyển đa

             Thùy vị biệt ly cùng kiếp hận, thông thân hồn thị cổ Di Đà

             Hàn thực hoang giao tận khốc thiên, hữu thùy diêu niệm lăo Kim Tiên

             Kiếp lư mai hướng Liên Hoa Thổ

             Chúng yêu nhân lai hóa chỉ tiền

             Lúc ban đầu,tôi niệm “Cước Mao Kinh”, phong tục của thế nhân là các tượng Phật, Thần tượng trong pḥng khách đều phải che lại sợ làm khó chịu người vong. Nhưng tôi không đồng ư, tôi khuyên những thân thuộc của người vong mang các khăn bọc tượng bỏ đi và để tượng Phật đặt tại đỉnh đầu người vong để tiện cho Phật, Bồ Tát tiếp dẫn người vong và cũng để cho người vong nhớ niệm Phật, Bồ Tát.

             Tôi niệm Cước Mao Kinh. Đốt nến, thắp hương, một bát nhỏ cơm trắng. Tôi cảm thấy nhân sinh thật thê thê, thảm thảm, đi đến cuối đời hai chân dừng lại, đầu trẹo sang một bên chết. Người thời nay trông thấy người vong ắt nhíu mũi cau mày,chỉ v́ mùi hôi mà mau mau bỏ chạy. Há họ có biết ngày xưa người vong là một người nữ xinh đẹp, người trông thấy chắc hẳn phải phới phới tươi cười, tham muốn bởi một sắc đẹp như ngọc tinh khiết, càng thêm yêu vẻ kiều diễm. Người sống là thế đó! Người chết là thế đó! Trong đó có người rất kém cỏi, có người rất ưu tú, có người rất nghèo khổ, có người rất giàu sang, có người bần tiện, có người phú quư, có người rất ngu si, có người rất thông minh. Tất cả trải qua nhiều kiếp, như biển rộng, như giọt nước, người dân thường ngoài chợ nhỏ, kẻ đạt đến quan quư cao sang, nhưng tất cả đều là khổ trong cái thế giới Ta Bà này vậy! Than thở rồi lại than thở, nhân sinh như lữ khách, như khách qua đường mà thế giới Ta Bà là quán trọ.

             Sau đó tôi học Mật Giáo. Tôi hiểu được chân thực về người chết. Tuy nhiên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na thức… giống như ư thức của tôi c̣n yếu. Nhưng tôi ư thức được cứ vẫn duy tŕ lâu dài, như nằm mộng cùng hôn mê giống nhau, nhưng phải giới hạn ở giữa khoảng nằm mộng với hôn mê.

             Phổ thông người ta thường cho rằng người chết chính là đi vào t́nh trạng ư thức hoàn toàn bị mất, hoặc là vào “chân không”, tất cả đều không c̣n nữa, chết rồi tức là tất cả đều không c̣n ǵ nữa, người có chủ trương như thế không phải là không có, cho nên họ nhận rằng con người chỉ có một đời, không có đời kiếp nào khác, hoàn toàn, hoàn toàn tiêu tan mất. Nhưng cảnh giới trung âm tôi thấy, chính là con người sau khi chết như cùng đi vào một giấc mộng khác, mộng này đương nhiên không phải là “chân không”, cũng tuyệt đối không phải là “không vô”, cũng không là “hư không”, đây chính là linh hồn. Trung Âm chính là Linh Hồn, Đạo Gia (Lăo Giáo) chính là Nguyên Thần. Trung Âm cũng gọi là Trung Hữu. Tức là con người sau khi chết c̣n chưa bị lục đạo luân hồi (trước khi) th́ do một chút vi tế vật chất h́nh thành, hóa sinh duy tŕ sự sống. Sự hóa sinh này chính là trung âm thân. Thông thường theo Mật Giáo thuyết Pháp th́ trung âm thân ở giai đoạn tối sơ trong 49 ngày, mỗi 7 ngày một lần sinh tử, trải hết 7 lân sinh tử để đợi sự an bài của nghiệp duyên, sau đó là lục đạo luân hồi, lại một lần nữa đầu thai, sinh và trôi giạt trong cảnh giới lục đạo luân hồi. Cứ như tôi biết th́ người có tu hành lúc hóa sinh do vi tế vật chất h́nh thành sau khi chết, lúc chưa bị lục đạo luân hồi, ở thời điểm trung âm đă có thể biết tương lai nơi họ sẽ văng sinh. (Đây là sự hiểu biết về sự sống trong thời gian trung âm). Người không có tu hành ǵ cả, sau khi chết sẽ trở thành huyễn thể vô minh, phiêu bạt trong sinh tử (trung âm thân). Lúc th́ chạy đi kiếm thân nhân, lúc th́ ở tại phần mộ lo lắng bồi hồi, lúc th́ trở về chỗ ở cũ của ḿnh, lúc th́ xoa vuốt những vật mà ḷng ḿnh yêu thích, lúc th́ hồi tưởng chuyện đă qua.

             Điều rất thường thấy là trung âm thân hành động rất vội vă, chợt đông, chợt tây, đây cũng là do không phải chịu tất cả những sự hạn chế nào về ư thức. Theo t́nh cảm mà nói th́ rất là phức tạp hóa, nhưng theo ư chí mà nói, hành động tự tại mà lại có “lực vô cảm”.   

                Lực vô cảm này là đối với vật chất nhân gian, điều người vong nói, làm. Người thế gian tất cả đột nhiên không có cảm giác. Căn bản cảm giác không đến, trừ “thông linh nhân”. Lấy tôi đây để làm ví dụ. Bệnh liệt năo của tôi là chính do Quan Thế Âm cấp cho tôi kinh nghiệm tử vong. Tôi rất tiêu cực mà nói. Tôi trong sự thống khổ thoát ra sự thống khổ (sau khi chết sự thống khổ đă giải trừ). Tứ đại phân tán cũng là kinh nghiệm, tám hàn, tám nhiệt cũng là kinh nghiệm. Sau khi bị liệt năo th́ sen tám cánh nở hoa, ngồi trong hoa sen là trung âm thân, là Nguyên Thần của tôi, người tu hành đă lâu năm, là Chân Ngă, Chân Như, Bản Ngă, Phật Tính, Chân Quang…Nghiêm chỉnh mà nói, đây chính là Niết Bàn của người tu hành, người có tu hành, người giác ngộ chân thực, hoàn toàn thoát ra khỏi lục đạo luân hồi và sự thống khổ của nhục thể. Niết Bàn chính là thể nghiệm viên măn. Tại Giác Tính là vô phiền vô năo, tại Thần Hành là tự tại, cũng là đại lực, cụ thể thập lực của Như Lai: 1/ Trí Tuệ lực; 2/ Túc Mệnh Toàn Tri lực; 3/ Thiền Định Tam Muội lực; 4/ Tri Chúng Sinh Nghiệp Báo Lực; 5/ Tri Chúng Sinh Tri Giải Lực; 6/ Tri Hư Không Thập Phương Pháp Giới Lực; 7/ Tri Nhân Quả Lực; 8/ Thiên Nhăn Vô Tận Lực; 9/ Vô Lậu Niết Bàn Lực; 10/ Nhất Thiết Mê Hoặc Toàn Vô Lực. C̣n có sự chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng, Chính Giác của người tu hành, cũng có khả năng tùy theo ư nghiệp của thập phương chúng sinh mà phổ biến thị hiện thân ḿnh.. Điều mà tôi rất lấy làm thương tiếc là trung âm thân phiêu bạt sinh tử trong biển khổ vô minh, mê hoặc trong cái Huyễn, sinh không biết sinh, tử không biết tử, chúng sinh kiêu măn, đố kỵ, lười biếng, nóng giận, tham gian, sắc dục, ngu si. Đây là những vô minh làm cho rất nhiều người không biết tu hành, không gặp được thiện duyên, vĩnh viễn trở thành người hoặc súc sinh trong lục đạo luân hồi hoặc là lữ khách của bốn đường ác khác.

 

CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT CỦA TRUNG ÂM THÂN

                 Liên quan đến con đường giải thoát của trung âm thân th́ trong cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, Phật Đà cũng đă nói rất rơ và đủ tường tận rồi:

             Như trong phẩm thứ 8 “Các Diêm La Vương Tán Thán” Phật bảo Diêm La Thiên Tử rằng Chúng sinh tại Nam Diêm Phù Đề tính nết rất ương nghạnh, rất khó điều phục, nên Bồ Tát đă tốn mất cả trăm ngàn kiếp để lo cứu mạng những chúng sinh này sớm được giải thoát khỏi những tội báo, thậm chí phải đọa vào đường ác thú. Bồ Tát đă dùng thần lực để cứu họ khỏi các nghiệp duyên cốt để thấy được các sự việc ở đời trước. Nhưng tự các chúng sinh Diêm Phù Đề đă kết tập nghiệp ác quá nặng, vừa vào đường tốt rồi lại bỏ ra, khiến Bồ Tát đă phải trải qua nhiều kiếp số để t́m cách giải thoát cho họ”

             “Ví dụ như người u mê mất gia đ́nh, lạc vào hiểm đạo. Trong hiểm đạo có nhiều dạ xoa, hổ, sói, sư tử, rắn rết, rắn độc. Người mê lạc ấy trong hiểm đạo bỗng chốc gặp phải các loài độc hại. Có một người thiện trí thức biết nhiều pháp thuật, ngăn chặn được các loài độc hại kể cả dạ xoa, các loài độc hại khác. Chợt người thiện trí thức thấy người mê lạc kia muốn đi vào hiểm đạo, nên vội nói rằng này, vị nam tử kia sao lại đi vào con đường ấy, có pháp thuật ǵ không để chế ngự các loài độc hại? Người mê lạc kia nghe được lời nói này mới biết đó là hiểm đạo, vội vàng lui bước và cầu mong được thoát khỏi hiểm đạo. Người thiện thi thức kia đưa tay dắt người mê lạc ra khỏi hiểm đạo”

             Tôi hôm nay trích dẫn đoạn kinh văn này chủ ư muốn nói rằng

Người mê lạc kia chính là trung âm thân

             Địa Tạng Bồ Tát là Vị Đại Thiện Trí Thức

             Thiện Trí Thức khuyên người mê lạc đừng vào tam đồ (ba đường ác)

             Cứu giúp các tội khổ chúng sinh được sinh làm người, trời hoặc văng sinh Phật quốc. C̣n có “Diêm Phù Đề nam tử, nữ nhân khi mệnh phải lâm chung, thần thức bị hôn mê, không biết thiện ác thế nào, thậm chí mắt tai càng chẳng thấy, chẳng nghe th́ các người trong gia đ́nh phải nên thiết lập đại cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm danh hiệu Phật Bồ Tát, những thiện duyên này có thể giúp cho người vong xa ĺa ác đạo, các ma, quỷ thần tất phải chạy xa”

             Điểm trọng yếu là “Thưa Thế Tôn, tất cả mọi chúng sinh khi lâm chung nếu nghe được danh hiệu của một vị Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát hoặc kinh điển Đại Thừa chỉ cần nghe được một câu, một bài kệ, tôi thấy tất cả những người này - trừ các tội vô gián sát hại – có những ác nghiệp nhỏ mà phải đọa vào ác thú th́ sẽ kịp được giải thoát. Địa Tạng Kinh dạy rằng hăy thế cho người vong làm việc tốt lành, hăy thế cho người vong mà tu Phật Pháp, hăy thế cho người vong đọc kinh, niệm Phật tŕ chú. Tại bàn thờ Phật hăy treo cờ, lọng, chút hương chút hoa cúng Phật Bồ Tát, đốt hương khấn đọc một câu kinh, câu kệ (đây là phần trích dẫn từ Địa Tạng Kinh, rất quan trọng)

             V́ tại sao tôi lại trích dẫn cho mọi người đọc một đoạn kinh trong “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh”. Bởi v́ kinh này lợi cho cả hai người dương, kẻ âm. Bộ kinh này là do Thích Ca Mâu Ni Phật tại Đao Lợi Thiên Cung trước Ma Da Phu Nhân mà giảng về Địa Tạng Bồ Tát. Địa chính là an nhẫn bất động như đại địa, Tạng chính là tĩnh lự, thâm mật. Vị Đại Bồ Tát này không chỉ cứu người cơi âm, mà cũng cứu chúng sinh trong lục đạo. Sau khi Thích Ca Như Lai tịch diệt và trước khi Di Lặc Như Lai sinh ra, Địa Tạng Bồ Tát được Phật Đà giao đại trọng trách cứu độ chúng sinh. Do v́ Địa Tạng Bồ Tát thường cứu khổ, cứu nạn tại các địa ngục cơi âm nên Ngài có đại nguyện rằng địa ngục chưa hết tội phạm nên chưa thành Phật. Cho nên chúng ta mới xưng tán ngài “Nam Mô U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.

             Nghĩ một cách sâu sắc tôi cảm thấy rằng nơi khổ nhất trong lục đạo chính là địa ngục, có căn bản đại địa ngục, có tám nhiệt, tám hàn, cộng 16 đại địa ngục. Ngoài ra lại có cận biên địa ngục, tức là thêm 16 bát nhiệt điạ ngục cận biên có bốn cửa. C̣n có cô độc địa ngục tại Sơn Gian, Khoáng Dă, Thụ Hạ, Thủy Tân những địa ngục này cũng không giống nhau. Nhưng căn bản đại địa ngục là tối khổ, thứ đến là cận biên địa ngục, cô độc địa ngục cũng đứng hàng thứ hai. Theo thiên nhăn của tôi thấy rằng địa ngục không chỉ ở dưới đất, cũng không nhất định phải ở dưới đáy biển mà tại nhân gian này cũng có địa ngục. Tôi thường nói các y viện lớn chính là các đại địa ngục, Người bệnh hoạn nhập viện đương nhiên đều phải chịu khổ, đây cũng là nghiệp báo sở cảm. Mọi người thường thường đều đă thấy những cảnh trong các y viện nào là giải phẫu mở năo, cắt hầu, móc tim, cắt gan, đổi thận, cắt đứt chân tay, cắt ruột, cắt bao tử. Trời ơi! Đó không phải là khổ h́nh địa ngục hay sao? Lại c̣n có các chứng ung nhọt, nước tiểu đường, chứng trúng phong, bệnh aids (sida), bệnh tâm thần, vân vân (tám vạn bốn ngàn loại bệnh, nhiều không thể kể số)

             Những thứ tật, bệnh hoạn kể trên không phải là khổ th́ là cái ǵ đây? Khổ trong nhân gian của chúng ta và sự giải thoát trung âm thân thực tại rất tương tự, nhân gian cũng là dạng khổ, không, vô thường, vô ngă. Hôm nay tôi dũng cảm nói rằng nhân gian cũng trong lục đạo luân hồi, nhục thể của nhân gian và trung âm thân sau khi chết là vấn đề quan niệm của thế giới chủ thể và thế giới khách thể. Con người tu hành giải thoát và sự giải thoát trung âm thân  kỳ thực không có ǵ sai biệt lớn.

             Sự sai biệt đó là nhân gian có thực thể (nhục thể), một chút chân thiết, trung âm thân  không có nhục thể, một chút hư huyễn. Tuy nhiên chúng ta chết rồi th́ quang ảnh nh́n thấy sau khi đă chết, từ góc độ của trung âm thân của người chết mà nh́n th́ vẫn là chân thực, giống như một người ngủ mộng th́ trong mộng người đó vẫn cho là hoàn toàn chân thực vậy. Đợi cho đến sau khi tỉnh dậy người đó mới biết là cảnh trong mộng mà thôi.

             Mật giáo v́ sao lại dạy mọi người phải “tu mộng”, phải biết mộng, giấc mộng rơ ràng, giấc mộng trong sáng “trong mộng biết tu”. Bởi v́ trung âm thân cũng giống như mộng. Bạn trong mộng cũng có thể tu, niệm Phật tŕ chú, trong mộng cũng có khả năng tu pháp trong sáng, quy y Kim Cương Thượng Sư, Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Đương nhiên trong lúc là trung âm thân cũng có khả năng được giải thoát. Trong cuốn “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh” đă nói rất rơ ràng cho chúng ta, đối với người sắp chết hoặc vừa chết khuyên bảo họ đừng vào hiểm đạo, hăy nhanh nhanh thoát ra khỏi hiểm đạo. Nhân đó mà thấy được ánh sáng, Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Bồ Tát phóng quang làm cho trung âm thân nhớ niệm Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp, giải thoát cảnh giới thành thục, nghiệp lực tại thế gian bị vứt bỏ đi, trung âm thân có thể dung nhập trong ánh sáng của Như Lai để đủ khả năng trong một sát na nhập vào Tịnh Thổ của Như Lai.

 

CÔNG ĐỨC TU HÀNH

                 Tôi cho rằng muốn được văng sinh Tịnh Thổ Phật Quốc không chỉ là bỏ công sức ra để giải thoát trung âm thân, kỳ thực người vong khi c̣n sống cần phải tu Giải Thoát Đạo và Bồ Đề Đạo sớm chuẩn bị công đức văng sinh. Đây là điểm rất trọng yếu. Bởi v́ sở dĩ người vong có đủ khả năng để được giải thoát đó là v́ khi c̣n sống người này đă tu hành đủ công đức th́ khi ánh sáng của Như Lai xuất hiện mới đủ khả năng nhận thức và mới có đủ khả năng ḥa nhập vào ánh sáng Như Lai.

             Nếu như một người b́nh thường cả Phật với Pháp chưa từng nghe qua, chưa từng nghĩ đến, chưa từng tu th́ làm sao Vị Đại Thiện Tri Thức có thể khuyên bảo, chỉ đường cho đi. Người này đang trong lúc hôn mê, đợi đến khi trông thấy tất cả các ảnh tượng th́ cho đó là thế giới chân thực. Những loại người này tâm thức của họ là huyễn tưởng, tạp niệm không ngừng nghỉ, căn bản tâm thức của họ không biết t́m đâu mà đến rồi từ đâu mà đi, tính cho đến khi nghe được lời khuyên chỉ lối dẫn đường th́ lại cũng giống như những người này khi c̣n tại thế cố chấp vào ư kiến của ḿnh, căn bản không biết rằng có một cảnh giới khác, từ đó bèn chiếu theo nghiệp báo của ḿnh để đi vào lục đạo luân hồi, lại vẫn cứ trong huyễn mộng! Cho nên tôi xin nói với mọi ngựi rằng khi c̣n sống chúng ta phải chuẩn bị công đức cho việc văng sinh là rất trọng yếu, phải hết sức chú ư điểm này không được sơ xuất. Trong Mật Giáo cần tu Tứ Gia Hành: Tứ Quy Y, Đại Lễ Bái, Đại Cúng Dường, Kim Cương Tâm. Giữ 5 giới, làm 10 thiện, tuân theo giới luật của Mật Giáo. Tu Thượng Sư Tương Ứng Pháp (Thượng Sư là Đại Thiện Tri Thức), tu Bản Tôn Pháp (nhắm về Phật Quốc Tịnh Thổ), tu Hộ Pháp (giữ ǵn, giúp đỡ tu hành). Khí, mạch, điểm sáng, chuyển thức thành trí (vô thượng mật), đại viên măn. Tu theo Hiển Giáo: giữ 5 giới, làm 10 thiện, tu Tứ Thánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), tu Tứ Niệm Xứ (Quán thân bất tịnh, Quán thụ là khổ, Quán tâm vô thường, Quán pháp vô ngă), tu 10 tín, 10 trụ, 10 hành, 10 hồi hướng, tu Bát Chánh Đạo, tu thập ba la mật (thập địa), đẳng giác diệu giác.

             Không quản Hiển Giáo hay Mật Giáo, tôi nhận thức rằng Hiển Mật viên thông, chính bản thân đi từ con đường Đạo- Hiển- Mật mà ra. Tôi không bỏ Đạo giáo, tôi không bỏ Hiển Giáo, tôi cũng không bỏ Mật Giáo nhưng tôi chuyên tu Tịnh Thổ, chuyên tu Chân Phật Mật Pháp, thấy không có điểm ǵ xung đột cả.. Tôi biết Phật Đà Chính Trí Giác Ngộ, tựu gọi là Bồ Đề. Bồ Đề Tâm cũng tức là cầu giữ tâm chính giác. Khi Đức Phật c̣n tại thế đă dạy chúng ta ba loại Bồ Đề:

             1/ Thanh Văn Bồ Đề: Tu tứ Thánh Đế Pháp, tu Tứ Niệm Xứ, hành giả sở đắc được Chính Giác

             2/ Duyên Giác Bồ Đề: Tu Thập Nhị Nhân Duyên, tự quán hoa khai, hoa tạ (rụng) mà đắc được Chính Giác.

             3? Phật Bồ Đề: Tu Vô Thượng Pháp, Vô Đẳng Đẳng Pháp, Đắc Vô Thượng Bồ Đề, diệu đắc Quả Vị Phật đó là Tối Cao Bồ Đề.

             Khi Phật c̣n tại thế các đệ tử chứng đắc những quả vị rất nhiều. Phật Giáo hiện nay chia thành Ngũ Thừa Pháp:

             1/ Nhân Thừa Pháp: tu Ngũ Giới Pháp sinh đến nhân gian.

             2/ Thiên Thừa Phật Giáo: tu 10 Thiện Pháp thăng đến Thiên Thượng

             3/ Thanh Văn Thừa Phật Giáo: tu Tứ Đế Pháp, chứng đắc A La Hán Quả

             4/ Duyên Giác Thừa Phật Giáo: tu Thập Nhị Nhân Duyên, chứng đắc Bích Chi Phật Quả

             5/ Bồ Tát Thừa Phật Giáo: tu Lục Độ Pháp, chứng đắc Đẳng Giác, Diệu Giác, chứng Vô Thượng Phật Quả

             Cá nhân tôi cảm thấy rằng, hiện nay Pháp Sư đề xướng Nhân Thừa hoặc Thiên Thừa, giáo đạo năm giới, mười thiện là không được, không có hậu.

             Ở Sa Bà Thế Giới không nên chỉ giáo đạo Thiên Thừa mà phải bước theo bước chân Phật mà đi mới đúng. Bởi v́ cuối cùng ở nhân gian này là khổ, không, vô thường, vô ngă. Khổ nhiều, sướng ít. Ở trên trời hưởng hết phúc báo th́ lại phải đọa xuống. Tôi chủ trương cùng nhập ngũ thừa mà tu Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có thể đáp ứng theo đại nguyện lực của A Di Đà Phật, đều chứng nhậpBáo Thổ của Đức A Di Đà Phật. Cho nên Bản Tôn của tôi là Diêu Tŕ Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát, A Di Đà Phật. Đây là nhân duyên của tôi, tin rằng có vậy.

             Ba Loại Bồ Đề là chính Pháp, Ngũ Thừa Phật Giáo cũng là chính Pháp, chỉ có Nhân Thiên Thừa c̣n trong lục đạo luân hồi. Tu Pháp của Mật Giáo và Hiển Giáo thực sự có điểm tương đồng đắp đổi khác nhau, cách tu hành không giống nhau, nhưng tương thông là sự thực.

             Chuyên nhất du già – Ly hí du già - Nhất vị du già – Vô tu du già.

             Tôi nói như trên chỉ muốn nói đến sự tương ứng của Bản Tôn để có thể văng sinh nơi Tịnh Thổ Phật Quốc, chuyên nhất niệm Phật tŕ chú, ly hí chính là xuất thế gian pháp, đáo liệu nhất vị chính là tất cả đă thông đạt, vô tu du già tương đương với vô vi pháp.

             Duy thức Tông lập ra năm ngôi vị: Tư Lương Vị, Gia Hành Vị, Thông Đạt Vị, Tu Tập Vị, Cứu Cánh Vị. Năm Vị này cũng cùng có một dạng thức trong Mật giáo, tối hậu là chuyển thức thành trí, cứu cánh thành Phật.

             Tôi v́ sao lại viết ra những điều này, bởi v́ thời gian tu hành tốt nhất là tại nhân gian, cũng chính là thời gian c̣n sống. Nên phải chuẩn bị nhận thức văng sinh Phật Quốc, thành tựu Phật Quả theo Giáo Pháp của Phật Đà, sớm phải chuẩn bị công đức để sẵn đợi. Quyết không đợi cho đến lúc lâm chung hoặc là trong thời gian âm trung thân. Sự cứu độ khi lâm chung hoặc là cứu độ trung âm thân th́ ít nhất người vong lúc c̣n sống đă từng nghe qua những giáo thị này. Có như thế sự cứu độ mới tự nhiên, cũng là rất tốt. Càng tốt hơn cho người vong nếu người này đă tu qua pháp, có sự tương ứng chỉ cần giáo thị là người vong tức khắc thanh thản và tỉnh táo để được giải thoát. Bởi v́ không có quan niệm về chuyển kiếp, không có quan niệm về văng sinh, không có quan niệm về trung âm th́ làm sao mà chỉ dạy (giáo thị). Thậm chí người vong lại không bỏ được một thói quen nào đó. Ví dụ như người vong khi c̣n sống thích đánh mà chược, người này sẽ nhóm họp một nhóm toàn loại đổ bác quỷ trung âm, tiếp tục trong cảnh giới trung âm huyễn mộng để tiếp tục đánh mà chược.

 

MẬT GIÁO TỨC THÂN THÀNH PHẬT.

                 Tôi th́ thật là rơ ràng, đích thực bị chứng liệt năo và tôi chắc phải chết. Thân xác của tôi lúc này già yếu, trên thực tế đó chỉ là “cái vỏ xác huyễn mộng”. Vỏ xác này sao lại gọi là huyễn mộng. Bởi v́ nó rất khác so với tuổi nhi đồng của tôi, nó cũng rất khác khi tôi ở tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên, tuổi tráng niên. Một cá nhân mắc bệnh rất nhanh chóng phải rơi vào tuổi lăo niên. Con người phải chịu cảnh này, thời gian là một ma thuật sư không có ǵ không thể, nguyên bản là một tấm thân khỏe mạnh bỗng bị lăo bệnh không c̣n trông ra h́nh con người nữa. Đương là đóa sen tám cánh nở hoa (chứng liệt năo), Phật ở ngay trong đó. Phật chính là tử quang. Trong không trung xuất hiện tia cực quang sáng lạng, ánh minh quang viên đà đà, đó chính là mẫu quang của B́ Lư Tính Hải hoặc gọi là Pháp Tính. Chân Ngă, chân thực không hư và như thường bất biến, bản thể thanh tịnh mà không vọng nhiễm, bản lai diện mục, không biến không khác, không sinh không diệt, không tăng không giảm, không cấu không tịnh, Như Lai tạng, thực tướng, viên thành thực tính. Tử Quang chính là Chân Ngă hóa thành Hồng Quang (ánh sáng cầu vồng). Mẫu Quang cũng là Chân Ngă, Đại B́ Lư Già Na Quang Minh Hải. Hỗ tương hội hợp. Đây chính là “Tức Thân Thành Phật” của Mật Giáo.

             Tu hành Mật Giáo tức chúng ta đủ cả Tam Mật Pháp Phật, nhưng v́ nghi hoặc nhiễm mà không thể chứng đắc, nên lấy Đại Bi Tâm của Phật để làm cho chúng sinh thực hành và sống trong Tam Mật Phật B́nh Đẳng. Thân kết tức Khế (hợp) là Thân Mật, khẩu tụng Chân Ngôn là Ngữ Mật, ư quán chủng tử, tam muội gia h́nh, hoặc quán Bản Tôn, đó chính là Ư Mật. Thực hành ba Mật này ắt được Tam Mật Như Lai gia tŕ, tam nghiệp chúng sinh với Như Lai Tam Mật, Nhập Ngă Ngă Nhập, không hai không khác, bảo rằng Tam Mật tương ứng. Tam Mật tương ứng thành tựu tất cả Tất Địa. Tôi v́ sao có thể tu xuất được Chân Ngă. Đó là v́:

             Chân Như tức Ngă Thân, Phật Pháp tức Ngô Thể, mật mật mật mật dă, trùng trùng hựu thâm diệu.

             Pháp môn bí mật của Mật Giáo là Chân Ngôn Đà La Ni, toàn thể giáo dục bí mật của Như Lai, Tự Giác Chứng Trí Tu Chứng Pháp Môn, toàn thể các Pháp của Mật giáo này, Pháp Giới cũng ít được nghe, nay được may mắn nghe, hăy nên sinh sự hân hạnh, cũng không được tạo ra sự báng bổ. (Nội chứng Pháp Như Lai Pháp Thân, Chân Ngôn thần biến gia tŕ, tuy Đẳng Giác Bồ Tát không thể đo biết, duy nhất chỉ có Phật với Phật mới biết được)

             Ngoại trừ “Tức Thân Thành Phật” của Mật Giáo c̣n có “Báo Thân Thành Phật” nữa. Tôi nói về Tịnh Độ Tông Hiển Giáo, có môn niệm Phật. Mỗi ngày vào buổi sáng thanh tịnh, xúc miệng rửa mặt sạch sẽ, mặc quần áo thanh tịnh (hoặc xanh biển), mặt hướng về hướng Tây hoặc bàn thờ Phật. Chắp hai tay, liên tục niệm “A Di Đà Phật”, hết một hơi thở niệm một lần, mười hơi thở th́ niệm mười lần. Lời niệm Phật và hơi thở hợp nhất, không hạn chế số lần niệm Phật

                          Giữ cho hơi thở và lời niệm Phật tiếp tục

                          Hết hẳn một hơi thở kể một lần  

                          Giữ cho tâm được an tường

                          Giữ cho hơi thở và tâm hoà hợp

             Mục đích là làm cho tâm không bị phân tán, chuyên nhất tinh tấn niệm Phật. Đó chính là Pháp Môn Niệm Phật Tịnh Thổ làm cho tâm và hơi thở thành một. Phát nguyện hồi hướng như sau:

             Con là đệ tử Liên Sinh, một ḷng quy mệnh Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật, nguyện xin lấy ánh sáng thanh tịnh rọi soi cho con, lời thệ từ bi giữ ǵn con. Con nay xin chính niệm, xưng tụng Như Lai Danh Hiệu, kinh niệm mười lần, v́ đạo Bồ Đề, cầu xin được sinh Tịnh Thổ. Phật xưa đă có lời thề rằng nếu có chúng sinh muốn sinh ra ở nước của tôi hết ḷng tin thật, thậm chí mười niệm, nếu không được sinh, tôi không thủ Chính Giác. Chỉ trừ ai phạm năm tội nghịch, phỉ báng Chính Pháp. Con tự nhớ rằng từ khi sinh ra đến nay không tạo nghịch tội, không báng bổ Đại Thừa. Nguyện lấy mười niệm này để được vào trong Biển Đại Thệ, thừa từ lực của Phật các tội đều tiêu tan, nhân thanh tịnh tăng trưởng. Nếu đến lúc phải mệnh chung, tự biết đă đến lúc, thân không bệnh khổ, ḷng không tham luyến cũng không tán loạn, như nhập thiền định. Đức Phật cùng các Thánh tay mang Ngai Sen Vàng đến đón con về, như một lần niệm sinh Cực Lạc Quốc, Hoa nở thấy Phật, tức nghe Phật Thừa liền khiến mở Phật Tuệ, quảng độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện. Nếu như các đệ tử cảm thấy lời phát nguyện hồi hướng quá dài th́ có thể theo những lời tôi nói sau đây: 

                          Nguyện cùng với những người niệm Danh Hiệu Phật

                          Cùng được sinh tại Cực Lạc Quốc

                          Trước tiên báo đáp tứ trọng Ân

                          Sau cứu giúp những chúng sinh tại ba đường khổ

                          Gặp thấy Phật chấm dứt sinh tử

                          Giống như Phật độ tất cả chúng sanh.

             Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy rằng “Ví dụ như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, như là hai người, nếu gặp không gặp, nếu thấy không thấy. (như thế là không tốt). Lại nữa, “nếu hai người cùng nhớ, hai nhớ niệm sâu, như thế là từ sinh đến sinh, cùng chung h́nh ảnh, không có ǵ sai khác nhau” (như thế là tốt đẹp).

             Lại nữa chư Phật mười phương thương yêu chúng sinh như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ đi, tuy nhớ mà phải làm sao? Nếu con nhớ mẹ như mẹ đang nhớ th́ mẹ con sống cuộc sống không xa ĺa nhau. Nếu chúng sinh ḷng nhớ Phật và niệm Phật th́ hiện tiền hoặc sắp tới nhất định sẽ thấy được Phật

             Người có thượng căn khí: tâm tại Phật, bất cứ vận hạn nào thường được che chở tất cả ác niệm

             Người có trung căn khí: muốn làm ác nhớ đến Phật, ác bất năng thành

             Người có hạ căn khí: Dù cho theo ác tạo ác nghiệp, tâm thường mềm dẻo, như thân có hương thơm tự nhiên xa ĺa hôi thối.

             Những người kể trên hăy niệm Phật tu Tịnh Độ. Khi lâm chung A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cùng Thánh chúng nhất định sẽ đến đón văng sinh Phật Quốc Tịnh Thổ.

Có người từng hỏi tôi, nếu như quỷ hoá giả làm Phật đến đón th́ phải làm sao? Tôi đă đáp như thế này. Hăy niệm Chân Ngôn “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng” (3 lần). Nếu là Phật thật th́ ánh sáng sẽ càng thêm sáng lạn. Nếu là ma hóa giả làm Phật, th́ ánh sáng sẽ tiêu mờ. A Di Đà Phật thân đến đón, lúc bấy giờ được giải thoát là v́ chứng nhập “Báo Thân Phật Thổ”. Y theo kinh điển đă nói hậu kỳ của trung âm thân cũng có Chư Thiên trong sắc thân đến, có Hộ Pháp sắc thân đến. Hậu kỳ trung âm được giải thoát ắt là Ứng Thân. Cho nên giải thoát chia ra Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân, đây cũng là con đường ba giải thoát.

 

CON MẮT ÂM CỦA NGƯỜI LÂM CHUNG.

                 Đây không phải do tôi phát hiện mà đây là một sự kiện rất nhiều người biết, không chỉ người Đông phương cả người Tây phương cũng vậy. Một người trước khi lâm chung trông thấy người âm hoặc cái ǵ khác. Tuy nhiên những người trong giới y học nhận thức rằng đây là “huyễn giác”. Giới y học cho rằng nếu một người không ngủ 24 giờ, không nghỉ ngơi, hoặc 3 ngày ba đêm không ngủ nghỉ th́ người này sẽ thấy huyễn giác. Cũng có học giả Phật Giáo nói như thế, Phật Pháp có “Bát Chu Tam Muội”. Bát Chu Tam Muội chính là “Phật Lập Tam Muội”, cũng tức là tu Tam Muội mà được thành tựu, có thể thấy được Thập Phương Chư Phật đứng trước mặt ḿnh.

             Phật hiện ra đứng trước mặt là trong lúc tu không được ngồi hoặc nằm, từ sáng đến tối, cũng như từ tối đến trời sáng không được đi, chỉ đứng, cứ 90 ngày gọi là một kỳ, chuyên niệm  Danh Hiệu A Di Đà Phật , đây là “Bát Chu Tam Muội”. Nhưng theo người học Phật và giới học thuật hiện đại th́ 90 ngày chỉ đứng không ngồi, không nằm, từ sớm đến tối chỉ niệm Phật không ngừng trong thời gian liên tục, chỉ nhờ một sợi giây treo để hỗ trợ khi đứng, đây nhất định là “huyễn giác” rồi.

             Những người trong giới họa thuật cho rằng giống như người trượt tuyết marathon, 24 giờ liền trượt tuyết không ngừng nghỉ. Những người này trong quá tŕnh trượt tuyết đă trông thấy người hoặc vật rất kỳ lạ đứng ở hai bên. Họ nhận định đây là huyễn giác.

             Nay nói đến con mắt âm của người sắp lâm chung trông thấy. Việc này tôi không muốn nghiên cứu nên không khẳng định mà cũng không phủ định. Nhưng tôi đưa ra đây một thí dụ có thực để mọi người tham cứu: Có một người sắp lâm chung đă trông thấy một người bạn rất tốt trước đây của người này nhưng đă chết, đứng ngay trước giường anh ta. Người sắp lâm chung nói rằng người bạn kia mặc tây y, áo lót bên trong mầu hồng, miệng túi áo có dắt vào một cây bút sắt. Người lâm chung trước đây đă không tham gia đám tang của người bạn. Cái áo lót màu hồng do người nhà thay cho anh bạn khi chết, cái bút sắt là tăng vật của cô em gái của người bạn đă chết dắt vào túi áo hồng của người chết. Ai nghe thấy cũng rùng ḿnh sợ hăi. Tôi lại nói thêm một sự thực: Có một cụ già bị bệnh lú lẫn lâm chung, khi cụ c̣n sống căn bản chẳng biết ǵ về người con trai và người con dâu của cụ đă bị chết trong một tai nạn xe hơi, cũng chẳng có ai nói cho cụ rơ về tai nạn này xảy ra cho các con cụ, bởi nói cũng vô ích v́ căn bản cụ bị bệnh lú lẫn, cụ chẳng nhận ra ai cả. Nhưng đến khi lâm chung cụ lại rành mạch nói rằng con trai cụ và con dâu đều đến để đón tiếp cụ. Cụ nói “chúng nó đă bị chết sớm, v́ sao không có ai cho tôi biết?”. Ai nghe cũng khiếp sợ. Lại một câu chuyện có thật nữa: Một vị khi lâm chung trông thấy những thân nhân của ḿnh đă chết nay toàn bộ hiện ra đứng bốn xung quanh cụ. Cụ điểm danh từng người một, không bỏ sót một ai cả. Nhưng duy nhất có một hồn cụ không điểm danh đến, mọi người hiếu kỳ bèn hỏi cụ tại sao nó (hồn cụ không điểm danh) không đến đón cụ. Người sắp lâm chung bỗng bật cười to ha ha “Nó không dám đến tiếp ta là v́ khi nó c̣n sống nó rất sợ ta, nó không dám hiện thân ra, nhưng không phải nó không đến, nó đứng núp ở sau cửa kia”. Người sắp lâm chung lấy tay chỉ về phía cửa. Ai nghe cũng sợ.

             C̣n có chuyện bà tổ mẫu của tôi ra đi, khi lâm chung bà thấy thân nhân lại nghênh đón bà không đi, mà dùng búa sắt đánh họ cho đến khi bà mệt lử, búa săt bị thu bà mới chịu ra đi (đây là sự thực tôi đă nói qua trước đây trong sách viết)

             Người sắp lâm chung trông thấy người đă chết trước đến đón ḿnh là chuyện thường nghe thấy như đă kể trên, vậy toàn bộ là huyễn giác hay không huyễn giác?

             Đương nhiên trông thấy người đă chết về đón ḿnh không phải là cảnh giới tốt. Tôi cho rằng đây là chốn u minh trong lục đạo luân hồi, cảnh giới hắc ám không đủ để được con đường giải thoát. Hiện tượng người lâm chung sinh ra con mắt âm bất luận là huyễn giác hay không, nhưng đây xác định một tính chất rất cao, bởi v́ người sắp lâm chung đang ở trong thế giới mang tính nhị nguyên, săp chết nhưng chưa chết, tất cả điều trông thấy cũng có phần nào thật. Thời gian này t́m cách chỉ giáo cho người lâm chung con đường giải thoát chính là thời cơ tốt nhất.

 

ÁNH SÁNG MẬT GIÁO

                 Căn cứ vào sự quan sát qua thiên nhăn của tôi th́ rất nhiều người chết ở trong cơi sắc giới. Lúc này những ǵ trông thấy với cơi dục giới không tương đồng, đây là so sánh cao về tầng thứ. Tôi phát giác những người chết liên quan đến Tây Phương Cực Lạc đạt kỷ lục, những người này sau khi chết ở trong một cảnh giới ánh sáng hoặc nh́n lên trên trời thấy có ánh sáng. Người tử vong sẽ về Tây Phương Cực Lạc trông thấy rất nhiều ánh quang minh và trong ánh sáng c̣n thấy cả Thiên Sứ, Thiên Sứ bảo với người vong thời gian chưa đến, trước tiên hăy đi về và chờ. Người vong đă sống trở lại.

             Nhân viết về kỷ lục của người tử vong sẽ được về Tây Phương, trong giáo thị của Mật Giáo đối với “ánh quang minh”. Đây là do sắc đắc ngộ, do sắc đắc giải thoát. Trông thấy ánh sáng, thứ nhất là đường Niết Bàn giải thoát, thứ hai là lục đạo luân hồi không giải thoát. Giải thoát đạo nhất định sắc thái rực rỡ xán lạn, c̣n lục đạo luân hồi đạo th́ sắc ám tối.

             Thuyết Pháp của Mật Giáo th́ ánh sáng của lục đạo luân hồi với ánh sáng của đường giải thoát, sắc thái giữa hai cũng một dạng. Tuy nhiên giải thoát đạo th́ rực rỡ xán lạn, c̣n của lục đạo luân hồi th́ mờ ám. Cho nên về phương diện phân biệt màu sắc ánh sáng th́ ánh sáng thị hiện của chư Phật Bồ Tát là rực rỡ, là ánh sáng giải thoát mà ánh sáng của lục đạo luân hồi là mờ ám, Mật Giáo nhận thức rằng loại ánh sáng này có độc tính và tội ác. Người vong trông thấy minh quang, kỳ thực là trông thấy tâm tính của chính ḿnh (tâm quang). Do ở tâm quang của người vong (tâm tướng) hiển hiện ra minh quang của Phật Bồ Tát, hoặc là một đạo ánh sáng nào đó của lục đạo luân hồi. Lúc này làm sao để đối phó? Vào lúc này th́ sự chỉ dẫn của Thiện Tri Thức thật phi thường trọng yếu, Thiện Tri Thức sẽ chỉ dẫn cho người vong phân biệt ra “minh quang” (ánh sáng). Minh quang của Phật, minh quang của Bồ Tát, minh quang của Chư Tôn, minh quang của A Tu La, minh quang của nhân đạo, minh quang của Ngă Quỷ Đạo, minh quang của Súc Sinh Đạo, minh quang của Địa Ngục Đạo

             Ánh sáng của tam đồ đều có độc tính tương đương hoặc sản sinh ra đặc tính tội ác thường phạm của cá nhân tham sân si. Trong lục đạo luân hồi tôi chỉ viết ngũ đạo, cuối cùng ánh sáng của thiên đạo vẫn là trong tâm của người vong xuất phát ra ánh sáng từ bi đây là ánh sáng rực rỡ không kể vào trong loại ánh sáng mờ ám của ngũ đạo.

             Tôi đă viết trước đây trong Du Già Luận về sáu loại lập tử tướng chứng nghiệm. Đây là khi một người tử vong, do tướng trạng của người tử vong mà có thể nghiệm biết được người này tương lai sẽ đầu sinh đến nơi nào

             Thứ 1, A La Hán và Thánh chúng, sẽ nhập Niết Bàn, tâm người vong,  lỗ huyệt ở thiên đỉnh, số ngày nhiệt độ c̣n ấm

             Thứ 2, Nếu người làm mười điều thiện, đỉnh đầu đều ấm, nên sau khi khí tận th́ sẽ sinh vào chư thiên Dục Thiên, Sắc Thiên, Vô Sắc Giới Thiên

             Thứ 3, nếu như người giữ năm giới, người này sẽ chết trước tiên từ chân lạnh, lạnh đến lỗ rốn mà phía trên lỗ rốn c̣n ấm, sau khi khí tận tức sẽ sinh vào đường nhân đạo

             Thứ 4, Nếu như lạnh từ đỉnh đầu trước tiên, rốn cũng lạnh, dưới lưng c̣n ấm th́ sau khi khí tận tức là phải sinh vào trong đường ngă quỷ (quỷ đói)

             Thứ 5, Nếu như từ đỉnh đầu lạnh, lạnh đến đầu gối, dưới đầu gối c̣n nóng th́ sau khi khí tận tức sinh vào trong đường súc sinh.

             Thứ 6, Nếu đỉnh đầu lạnh, rốn cũng lạnh, lưng cũng lạnh, đầu gối cũng lạnh, chỉ c̣n bàn chân hơi ấm ấm tức sinh vào trong đường địa ngục. Nghĩ một cách sâu sắc, tôi thấy được rằng một người học tập về Mật Giáo v́ sao ba căn bản mang tính trọng yếu cần phải lúc nào cũng tâm niệm ghi nhớ, vào thời khắc đó chính là lúc nhờ cậy được vậy.

             Bạn b́nh thuờng cái ǵ cũng không tin, chỉ tin Tiền, Tiền có thể cứu bạn không? Có tín ngưỡng, lúc nào cũng phải tâm niệm ghi nhớ ba căn bản, Thượng Sư có thể hiện thân, Bản Tôn có thể hiện thân, Hộ Pháp có thể hiện thân, tất cả đều là ánh sáng của văng sinh. Cho nên:

             Nam mô Cổ Lỗ Bối (Guru Bei) (Quy y Căn Bản Thượng Sư)

             Nam mô Bất Đả Da (Buddha Da) (Quy Y Phật)

             Nam mô Đạt Ma Da (Dharma Da) (Quy y Pháp)

             Nam mô Tăng Già Da (Shanga Da) (Quy y Tăng)

             Nam mô Bản Tôn Da (Toàn thể hữu duyên Bản Tôn)

             Nam mô Hộ Pháp Da (Toàn thể hữu t́nh Hộ Pháp)

(Sáu quy y này là quy y của Mật Giáo)

Cảnh giới quy y của Mật Giáo chính là tam quy y của Hiển Giáo thêm vào Thượng Sư, Bản Tôn và Hộ Pháp. Căn Bản Thượng Sư của Chân Phật Tông là Liên Hoa Đồng Tử, cũng là Bản Tôn thứ nhất, Chân Phật Tông có tám Đại Bản Tôn.

Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng “một Sư, một Pháp” phi thường trọng yếu, đây cũng có nghĩa là “một Sư, một Pháp, một Bản Tôn”, bởi v́ trong Pháp đă có Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp trong đó.

Người có tin, có tu trong ư thức về cảnh giới tất cả do sức tu hành quyết định tất cả nơi đi. Trừ ra một bộ phận do sự trói buộc của nghiệp lực trên sự thực là tự do, văng sinh nơi nào tuy là nghiệp lực, nhưng lực tu hành và giáo thị của Thiện Tri Thức đều cực kỳ quan trọng. Trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, “Địa Tạng Bồ Tát” tức Đại Thiện Tri Thức, lúc này người vong nếu như có lực tu hành thêm vào có giáo thị của Đại Thiện Tri Thức th́ không c̣n nghi vấn ǵ nữa, khuynh hướng của người vong được cùng Thượng Sư đi, cùng Bản Tôn đi, cùng Hộ Pháp đi. Sáu quy y chính là rất dễ dàng hoán khởi khuynh hướng của người vong vậy.

Lực lượng tu xuất là rất tốt rồi đến giáo thị của Đại Thiện Tri Thức cũng giống như: Lễ cầu hồn (Mass Requiem) thấy trong Thiên Chúa Giáo, cầu đảo của Hồi Giáo, Cơ Đốc Giáo, Tăng Lợi Đa Hi Đà La của Ấn Độ Giáo, Khóa Tụng Pháp Sự của Hiển Giáo trong Phật môn (siêu độ), Trung Âm Văn Giáo Đắc Độ của Mật Giáo.

Tôi cho rằng một người hoàn toàn không có tín ngưỡng ǵ th́ hỏng cả, hoàn toàn không nhờ cậy ǵ được, người này đă coi thường lực cảm ứng. Người vong loại này chẳng những phải chịu ảnh hưởng nghiệp lực của chính ḿnh mà c̣n phải chịu ảnh hưởng nghiệp lực của những người thân thuộc khác (người chết). Loại người vong này muốn văng sinh Phật Quốc Tịnh Thổ rất là khó khăn. Người này cố chấp vào ư kiến của riêng ḿnh, căn bản là không tin. Căn bản tuỳ theo vào nghiệp lực của chính ḿnh chuyển. Người này c̣n cho rằng Vị Đại Thiện Tri Thức nói quá nhiều và cứ tiến thẳng bước vào hiểm đạo. Sự nhờ cậy của một người không có tín ngưỡng là như thế đó.    

                

MẬT GIÁO THIÊN THỨC PHÁP

                 Có hạng người không cần phải trải qua “trung âm văn giáo đắc độ”, ví dụ như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Mễ Lặc Nhật Ba Tổ Sư, vân vân. Các thượng căn trí giả, Đế Lạc Ba, Na Lạc Ba, Mă Nhĩ Ba, Thập Nă Cửu Ổn, đương nhiên đủ khả năng thự hành giải thoát, tự độ. Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư của Thiền Tông cũng đă nói rằng mê thời sư độ, ngộ thời tự độ.

             Các bậc thượng căn trí giả trong Mật Giáo đă biết đại pháp thượng thừa “Thiên Thức”, trung âm văn giáo không cần người c̣n sống, trừ phi là bậc thượng căn trí giả giả hiệu (giả Thượng Sư), nếu là Thượng Sư giả hiệu ắt chờ  giáo thị trung âm văn giáo đắc độ pháp trước di thể. Nếu như không tại trước di thể th́ có thể hay không có thể? Câu trả lời là cần đến Đại Thiện Tri Thức. Trước tiên triệu gọi vong linh- vong linh đến để nghe- theo pháp giáo thị. Vào lúc này vị Đại Thiện Tri Thức tốt nhất phải là Căn Bản Thượng Sư của người vong, hoặc là người cùng tu với người vong, hoặc là bạn thân của người vong hoặc là người thân thuộc bạn hữu hiểu rơ về giáo thị rồi cứ y theo Pháp mà giáo thị. V́ sao Thượng Căn Trí Giả không dùng giáo thị? Bởi v́ Thượng Căn Trí Giả đă sớm hiểu rơ thức thứ 8 A Lại Da Thức trong Duy Thức Luận là bản Thức, các thức c̣n lại đều là chuyển thức (Thức thứ 8 là Như Lai Tạng Thức). Thượng Căn Trí Giả chuyển thức thứ 8 hữu lậu thành Tứ Trí Vô Lậu. Nên nói “Thiên Thức Pháp” chính là thức thứ tám hữu lậu của phàm phu thành Tứ Trí của Phật. Tức chuyển thức thứ 8  là Đại Viên Cảnh Trí, chuyển thức thứ 7 là B́nh Đẳng Tính Trí, thức thứ 6 là Diệu Quan Sát Trí, thức thứ 5 là Thành Sở Tác Trí

             Trong Mật Giáo cũng có thức thứ 9 là Am Ma La Thức, thức này là Vô Cấu Thức hoặc là Thanh Tịnh Thức, tức Chân Như, Chân Tâm. Thức thứ 9 là Pháp Giới Thể Tính Trí.

             Đủ khả năng chuyển Thức thành Trí đương nhiên phải là Thượng căn Trí Giả, khả dĩ tự độ không cần đến người khác độ bất tất phải trải qua “Trung âm văn giáo” (Người vong nghe lời chỉ dạy)

             Hiện nay tôi là người đóng cửa ẩn cư tại Diệp Tử Hồ, như thế th́ làm sao cứu độ đệ tử của chính tôi đây? Tôi thực tại bá cáo với mọi người rằng mọi người cần thận trọng nghe cho kỹ những điều sau đây:

             Tuy tôi là người đóng cửa ẩn cư tại Diệp Tử Hồ, người ngoài không biết Diệp Tử Hồ ở nơi đâu? Người ngoài cũng không biết tôi là ai? Người ngoài cũng chẳng hiểu tôi là một nhà đại tu hành? Người ngoài cũng chẳng biết quá khứ lai lịch của tôi?

             Tôi ẩn tu đă rất lâu, không nghe chuyện thế sự, danh lợi đều không bàn tới, ẩn sâu sống giản dị, hầu như hoàn toàn cách biệt với bên ngoài. Trừ khi phải mua rau trái dùng cho việc sinh hoạt ở bên ngoài. Tuy vậy tôi thực sự là người hữu t́nh, tuyệt đối không phải là kẻ vô t́nh vô nghĩa, tôi luôn hoài niệm, tưởng niệm và quan hoài đến các đệ tử của tôi ngày trước và nghĩ rằng khi tôi đi khỏi thế giới Ta Bà văng sinh rồi, tôi vẫn c̣n tưởng nhớ đến các đệ tử, miệng tuy không nói ra nhưng trong thâm tâm thật có t́nh.

             Tôi tuy đóng cửa ẩn ḿnh nhưng nước mắt cứ chảy hoài cơ hồ như khô rồi, thực sự v́ quá nhiều tưởng nhớ và quan hoài. Tôi thẳng thắn nói với mọi người rằng đệ tử đă chết của Chân Phật Tông, rất nhiều người vong đều đến Diệp Tử Hồ. May mà có sự giúp đỡ của “Không Hành Mẫu”. Không Hành Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu trong hư không mang thần thức của những người đă chết đến Diệp Tử Hồ, nơi tôi ẩn cư, có Thượng Sư, Pháp Sư, Trợ Giáo, Đệ Tử, vân vân. thậm chí có những người bạn cùng học biết tôi có tu hành, sau khi chết họ đến t́m tôi. Hồn ma có năm thần thông lực, họ có thể t́m ra chỗ tôi ẩn cư. Tôi xin nói rằng chỉ cần thân nhân của bạn tin kư gửi Chân Phật Mật Uyển, Không Hành Mẫu biết được th́ vong linh nhất định t́m đến được Căn Bản Thượng Sư. Tôi có thể y theo Pháp mà giáo độ cho, tiếp dẫn vong linh văng sinh Maha Song Liên Tŕ, chỉ cần vong linh t́m đến tôi nhất định sẽ được độ. Chẳng những chỉ các đệ tử mới được độ, những vong linh không có tương can ǵ cũng được độ. Đă từng có một vong linh Thượng Sư tự nhiên mang theo bảy vị vong linh thân thuộc đến t́m tôi. Tôi trông thấy giật nảy người, không phải chỉ một người đến cuối cùng đă cùng đến nhiều thế này! Nhưng tôi cũng đă không phân biệt nhiều ít và y theo Pháp mà cứu độ.

             Tôi tại Diệp Tử Hồ đóng cửa ẩn cư đến Hàn Quốc du lịch. Cuối cùng gặp một bạn đồng học lớp cao trung, bạn đồng học tại Cao Công Cao Hùng, người bạn này lúc hơi thở vừa ngưng bèn nhớ đến tôi và kêu tên tôi. Tôi hỏi: “Ông là ai vậy?”

 “Tôi là Cô Nhất đây”.

 “Làm sao mà t́m ra tôi vậy?”

“Ma có năm thông mà”

“T́m tôi để làm ǵ?”

“Ông là bạn đồng học, ngày xưa là bạn tốt, biết ông tu hành thành tựu, Cô Nhất tôi không t́m ông th́ t́m ai đây?”

Trong thâm tâm tôi thầm nghĩ người nói này là đúng, đây là người bạn đồng học đă lâu năm không gặp, do tôi đi tu Pháp cứu độ. Tôi liền nhất tâm quán tưởng ra phẩm vật cúng dường thành cúng phẩm tuyệt diệu và dâng cúng dường Tam Bảo. Tôi niệm danh hiệu Phật Bồ Tát gia tŕ cho vong linh. Tôi giáo thị cho người bạn này tránh ra khỏi ánh sáng của lục đạo luân hồi. Tôi dùng Hộ Pháp ǵn giữ, bảo vệ vong linh người bạn đồng học, trước những ảnh tướng khủng bố th́ không kinh không sợ. Tôi dạy người bạn mau tụng danh hiệu Phật. Tôi nói: “Này, Cô Nhất hiện nay là lúc phải chú tâm vào việc văng sanh của anh đă đến, anh hăy tâm niệm danh hiệu của Phật Thánh, tôi sẽ giúp anh trông thấy ánh sáng của Phật xuất hiện. Khi Phật xuất hiện anh phải xả bỏ tất cả ân ân, oán oán ở thế gian, ngay cả không nghĩ đến nữa. Lúc này vạn vật trở thành trạng thái trắng trong. Khi Phật xuất hiện sẽ phóng ra ánh sáng, đây là ánh sáng của ngọc. Đây là ánh sáng của trí tuệ không bị ngăn chặn hoặc t́ vết, thấu minh chân không. Cô Nhất anh hăy nhanh nhanh nhập vào ngay, an trụ trong ánh quang minh này đừng nghi ngại, tôi sẽ hỗ trợ anh đến Maha Song Liên Tŕ, anh được chứng nhập trong đó”

Người bạn cùng học Cô Nhất của tôi nghe lời tôi nói. Ông ta như nằm ngủ trong mộng nh́n tôi. Đang trong thực tướng xuất hiện trong minh quang. Tôi muốn nói bạn tôi đă chứng nhập. Người bạn cùng học Cô Nhất của tôi, chỉ nhân v́ nhớ tới tôi, biết tôi tu hành đă cũng có thể đến được Maha Song Liên Tŕ, thật là có duyên phận vậy!

 

TÔN SƯ TR̀ GIỮ ĐÀI SEN

                 Một vị đệ tử của Chân Phật Tông có triệu chứng xuất hiện sau khi chết giống như trái đất đă ch́m trong lửa và nước, người vong trải trong hiện tượng bị hôn mê. Có người cho rằng đây là trạng thái hôn mê của thần chí. Tổng quát mà nói thời gian tiếp tục th́ người này sẽ khác với người kia: người giữ thiền định kiên cố th́ thời gian sẽ dài, người chưa tu định thời gian sẽ ngắn. Có những người chỉ trong khoảnh khắc rất ngắn là vào thiền (xuất hiện trung âm). Khi người tỉnh lại th́ thấy Tôn Sư cầm giữ đài sen đứng trong hư không. Tôn Sư chỉ dẫn cho đệ tử hăy lên đài sen để được văng sinh về Maha Song Liên Tŕ. Tôn Sư bảo: “Liên Hoa hành giả, nhân duyên tại thế gian đă hết, con phải quên tất cả những ǵ trên thế gian, con phải tự quyết định, con có cơ hội lên đài sen, con hăy nắm lấy cơ hội tốt đẹp này để được văng sinh về Maha Song Liên Tŕ. V́ lợi lạc vô lượng của chúng sinh thế giới mà viên măn ly khổ đắc lạc. Liên Sinh Hoạt Phật Lô Thắng Ngạn lấy nguyện lực của chính ḿnh đến tiếp dẫn con, cũng như giúp cho tất cả chúng sinh cơ hữu cùng chứng quả Bồ Đề, đạt được cảnh giới cứu cánh viên măn”. Vị đệ tử này bèn niệm chú “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng”. Sau đó lên ngồi trên đài sen. Đài sen này chính là “Trí Tính”. Tính của nó căn bản là không. Vô sắc vô tướng. Chân không thực tướng. Đài sen này là Phổ Hiền Pháp Giới thể tính quang minh.

             Nhưng cũng chính tại lúc này vợ con của Liên Hoa hành giả lại kêu khóc rất bi thiết. Người vợ kêu gào: “Anh đi rồi, em và các con biết làm sao bây giờ?” Đứa con trai gào khóc nói: “Ba, Ba! Ba, Ba!” C̣n đứa con gái th́ khóc: “Không thể chết, không thể bỏ đi, hỡi ba thương yêu của con! Ba không thể chết, không thể bỏ con mà đi” Người vợ lại gào lên: “Anh đă nhẫn tâm bỏ đi, quên hết trách nhiệm của ḿnh với gia đ́nh rồi sao?” Vị Liên Hoa hành giả này đă đang ở trên đài sen để được ĺa bỏ khổ và được vui sướng, khi nghe thấy những tiếng kêu gào bi thiết kia của vợ con, nghe thấy tiếng trách móc chưa làm hết trách nhiệm của ḿnh, vị này bèn từ đài sen nhảy ra và nghĩ rằng ḿnh chưa làm hết trách nhiệm, nhưng cuối cùng lại nghĩ ḿnh đă chết rồi phải không? Vị này không có cách nào xác định. Vị này thậm chí trông thấy thân thích, bạn hữu, trông thấy vợ con đang thảm thiết khóc lóc bên tai. Cũng lúc này Diêm Vương cũng đă dẫn lính quỷ ma đến chờ sẵn, h́nh ảnh lũ yêu quái đáng sợ trùng trùng mà đến. Tôi bảo Liên Hoa hành giả: “Này Liên Hoa hành giả, duyên kiếp của anh tại dương gian này đă hết, hăy xả bỏ hết cả đi, Diêm Vương cùng quỷ sứ cũng đă lại đây cả rồi, anh hăy mau mau nghĩ đến sự bảo vệ giúp đỡ của Bản Tôn! Hăy mau mau niệm Hộ Pháp chú, nhất tâm bất loạn, hăy thành tâm và lên trở lại đài sen ngay! Nhân gian như huyễn, thế sự như mộng, như trăng trong nước, hăy mau mau đến Maha Song Liên Tŕ” Liên Hoa hành giả thật hoang mang! Nhân v́ vợ con của người chết khóc lóc vang trời, nên người này không nỡ bỏ đi. Người đă chết này c̣n tưởng đến thế sự, c̣n bị vướng mắc, nào là vợ c̣n trẻ, con c̣n ấu thơ, nếu ḿnh đi bây giờ vợ con thật không biết làm sao để sống, để sinh tồn sau này?

             Tôi quát to lên: “Nhân gian tuy có h́nh thể, nhưng luôn luôn biến hoá vô thường, không có thực, mau mau đi khỏi. Nhưng người này không nghe. Diêm Vương quỷ sứ đă đến, bắt lấy Liên Hoa hành giả, trói tay khóa chân. T́nh huống của Liên Hoa hành giả thật bi thảm! Tôi nói với Diêm Vương: “Người này là đệ tử của tôi” Diêm Vương đáp: “Thưa Đại Bi Thánh Tôn, Ngài đến tiếp dẫn đệ tử, nhưng đệ tử không chịu lên đài sen, từ đài sen nhảy xuống bởi v́ người nhân gian khóc kêu mănh liệt, làm cho tâm linh người này không cách nào nhẫn chịu được, tâm thần tán loạn, đúng lư phải đọa lục đạo luân hồi” Tôi nói với Liên Hoa hành giả: “Không được quanh co, nghĩ sai trái nữa, hăy một ḷng niệm Tâm Chú của Thượng Sư” Người này niệm: “Ông. Cổ Lỗ. Liên Sinh Tất Địa. Hồng” (May mắn người này c̣n nhớ được câu tâm chú này). Diêm Vương và lũ quỷ sứ biến mất. Ánh sáng đài sen , tiếp nhận và che chở Liên Hoa hành giả, người này nhập vào trong ánh sáng và trở nên rực sáng để được văng sinh. Tôi đă kể cho mọi người nghe một chuyện có thực!

             Tôi không dám phủ nhận sinh ly tử biệt của thế giới Sa Bà không khổ, tự cá nhân tôi cũng không dám bảo chứng, mắt trông thấy thân nhân chết bản thân không thể không khóc, sinh sinh ly biệt tôi đều khóc, huống hồ là tử biệt, tôi có thể nào lại không khóc? Nhưng tôi biết rất rơ gào khóc thật là vô ích (người đă chết rồi, khóc cũng không làm sống lại được)

             Tôi ngược lại nhận thức rằng phải khóc cũng tốt, nhưng đừng kêu gào bi thiết, tốt nhất là giúp người vong nhớ đến Căn Bản Thượng Sư, Căn Bản Bản Tôn, Căn Bản Hộ Pháp. Chảy nước mắt và niệm Phật tŕ chú. Hăy khuyên bảo người vong: “Mau chóng ĺa khỏi thế giới Sa Bà đau khổ, đi theo ánh sáng của Thượng Sư, Bản Tôn, Hộ Pháp. Đây chính là sự giải thoát” Trong thời gian này người vong có thể trông thấy đồ cúng của chính ḿnh vung văi, rơi rớt, áo quần mà ḿnh thích bị lột ra, nơi ở của ḿnh bị lục soát không c̣n, xe của ḿnh bị người khác mở khóa lái, ngoài ra người vong c̣n nghe và trông thấy người thân kêu khóc thảm thiết, cũng có thể nghe và thấy thân nhân khuyến cáo, cho nên hăy để cho người vong nhanh chóng và vui vẻ ĺa khỏi thế giới Sa Bà đau khổ tốt hơn nhiều so với khóc lóc, kêu gào thảm thiết.

             Làm cho người vong không vui vẻ, làm cho người vong suy sụp tinh thần khó xả bỏ đều không đúng. Thân nhân cần phải khuyên người vong: “Liên Hoa hành giả, sự kiện tử vong người người đều có, có sinh ắt có tử, đừng nên chấp trước sự mất mát sinh mệnh cá thể làm ǵ, nếu ông không xả bỏ được sự chấp trước này th́ cũng không có cách nào để trường tồn măi trên thế gian được, hăy mau đi, mau đi chớ nên luyến tiếc nhân gian nữa. Bởi v́ nhân gian phải lưu chuyển không ngừng không thể sở đắc! Hăy nhớ tâm niệm Tam Bảo, Tam Bản Tôn, nhanh chóng hồi hướng, nguyện cùng những người khác cùng niệm Phật cùng được thăng về Cực Lạc Quốc, trước báo đáp tứ trọng ân, sau giúp độ Tam Đồ khổ, thấy được Phật hết sinh tử, cũng giống như Phật độ toàn thể chúng sinh. Chúng ta hẹn gặp lại tại Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Maha Song Liên Tŕ” Như thế mới là đúng nghĩa. Kêu khóc chỉ là vô ích. Hăy khuyên bảo người vong niệm Phật tŕ chú Tam Bảo.

 

QUỶ DỌA NẠT QUỶ.

                 Chúng ta học Phật nên biết rơ quỷ cũng là chúng sinh trong một của lục đạo luân hồi, nhưng có nhiều loại khác nhau, có những quỷ cũng có phước báo, đó là “phúc quỷ” Có rất nhiều quỷ vô phúc, bị gọi là “thiếu tài quỷ”, thường thường không được ăn nên gọi là “ngă quỷ”. Minh Giới chính là Quỷ Giới, cũng gọi là Quỷ Đạo, Quỷ Thú. Trong Phật giáo tức là Dạ Xoa Cảnh Giới, La Sát Cảnh Giới, Ngă Quỷ Cảnh Giới

             Thông thường quỷ cũng có uy lực, thêm có cả đại thần thông nên được người tại thế gian gọi là Thần xưng là “mỗ mỗ Đại Thần”. Tôi phát giác ra Quỷ Đạo là một của mười Pháp Giới. Người thế chúng ta sau khi chết, trung âm thân cũng là quỷ lúc chưa luân hồi. Có rất nhiều người nhận thức rằng người chết thành quỷ, đây cũng là điểm đạo lư tồn tại. Nhưng rất nhiều người cũng tin người chết thành quỷ và vĩnh viễn tồn tại trong quỷ giới quỷ đạo, liên quan đến điểm này th́ không có đạo lư.

             Trừ khi trung âm thân bị luân hồi trong quỷ giới quỷ, quỷ thú th́ thực sự thành quỷ rồi vậy. Tại đây tôi đặc biệt nói với mọi người rằng Trong trung âm thân cảnh giới tối quan trọng là nhớ niệm Tam Bảo, Tam Bản Tôn: Phải nhất tâm bất loạn, phải không được sợ hăi. Trong trung âm thân (linh hồn) cảnh giới, đừng bao giờ khiếp nhược, bất luận có bất cứ loại quỷ ác đại hung dữ, đáng sợ nào xuất hiện trước mặt người vong. Bạn nhất định không sợ sệt. Bạn phải nhận định ra rằng 1/ Đó là đến cố ư dọa nạt bạn, 2/ Đó là sự phản ánh của thần thức, 3/ Quỷ chỉ là ảo ảnh, 4/ Đó là sự vui giận của chính bản thân (nghiệp lực), 5/ Đó là thí nghiệp định lực của bạn, 6/ Thiên lôi quỷ ác cùng la hét bạn cũng đừng lo ngại, 7/ Đối với quỷ đừng sợ, đừng kinh, đừng hăi, đừng khiếp, 8/ Bạn phải tự ḿnh nghĩ rằng chính ḿnh đă chết rồi th́ không có quỷ ma nào có cách nào làm tổn hại bạn được, đó chỉ là ảo tướng, 9/ Không chỉ là quỷ dọa quỷ, thậm chí những h́nh bóng ma quỷ rất ghê sợ khi bạn c̣n sống, nhớ rằng đó chỉ là phản ánh của thần thức thôi, 10/ Vào lúc này hoàn toàn tùy thuộc ở định lực của thiền quán và trí tuệ của người vong để mà phân biệt sự “quỷ dọa quỷ” chính là hiểm đạo. Đừng v́ “quỷ dọa quỷ” mà không khả năng. Trong “Ích Lợi Tồn Vong Phẩm” nói “Vô thường đại quỷ bất kỳ mà đến, minh minh du thần, chưa biết tội phúc nội trong 49 ngày, như ngu như điếc, hoặc tại chư ty biện luận nghiệp quả, sau khi phán định cứ theo nghiệp thụ sinh, thời gian chưa đo lường được th́ ngàn vạn sầu khổ, nói chi khi phải đọa những nơi ác thú. Người mệnh chung này, khi chưa được thụ sinh, trong thời gian 49 ngày hăy niệm niệm hướng về những người cốt nhục thân quyến hăy tạo phúc lực mà cứu độ. Qua 49 ngày rồi, sẽ tuỳ nghiệp mà thụ báo. Nếu là tội nhân phải trải qua trăm hoặc ngh́n năm không ngày giải thoát, nếu là ngũ vô gián tội th́ phải đọa ở đại địa ngục ngàn, vạn kiếp măi măi chịu những sự khổ ải” Vô thường đại quỷ là ǵ? Là Tử Thần, Hung Thần, Ác Sát cũng là Đại Quỷ.

             “Liên Hoa Hành Giả Tôn Quư không được sợ hại, một ḷng niệm Phật tŕ chú, không hăi không lo Vô Thường Đại Quỷ tự nhiên tiêu tán”. Nếu như bạn sợ sệt, kinh hăi, hoảng sợ! Bạn chạy trốn. Thấy một hang động trong núi có thể vào để che dấu thân ḿnh, thế là đi đứt rồi (hỏng toi rồi). 1/ Hang động như noăn, bạn “noăn sinh” trở thành gà, vịt, ngỗng ngan rồi, 2/ Hang động như thai, bạn “thai sinh” trở thành trâu, dê, chó, 3/ Hang động như một nơi ẩm thấp, bạn “ẩm thấp sinh” trở thành con ruồi, con muỗi, con ve rồi, 4/ Hang động như hóa (biến hóa), bạn “hóa sinh” thành địa ngục, ngục tối.

             Thai sinh, noăn sinh, thấp sinh, hóa sinh chính là “tứ sinh”. Thai sinh là sau khi thành thể trong thai của mẹ rồi sinh mệnh mới sinh ra, con người cũng thế. Noăn sinh là sau khi thành thể trong vỏ của trứng rồi sinh mệnh mới sinh ra. Các loài chim cũng đều như vậy. Thấp sinh là nhờ vào khí ẩm thấp mà sinh mệnh thụ h́nh, các loại như trùng (sâu) là như thế. Hóa sinh là không có ǵ để dựa vào, chỉ bằng nghiệp lực mà đột nhiên sinh mệnh sinh ra, như chư thiên và địa ngục cũng như sơ kiếp của loài người. Tôi nói:

             Trông thấy hang động rất dài mà chạy vào nấp th́ sẽ thành con rắn.

             Trông thấy khí xa (xe hơi) chạy vào nấp sẽ thành con rùa vàng nhỏ.

             Trông thấy kiệu xe (xe nhỏ) chạy vào nấp sẽ thành con cua

             Trông thấy phi cơ vào nấp sẽ thành con chim bay

             Trông thấy xe lửa chạy vào nấp sẽ thành con rết

             Trông thấy tàu thuỷ hoặc ca nô chạy vào nấp sẽ thành con cá

             Trông thấy pḥng lầu chạy vào núp sẽ thành ốc, ṣ

             Trông thấy cái hào (hố) pḥng không chạy vào nấp sẽ thành con chuột đất.

             Tổng quát mà nói, nếu bạn trông thấy Đại Quỷ Vô Thường th́ đừng sợ sệt, đừng kinh hăi hoặc hoảng sợ, đừng chạy đi đâu nấp, che dấu ḿnh. Chỉ niệm Phật tŕ chú.

             Các Liên Hoa hành giả phải hiểu cho rơ ràng rằng có bốn loại văng sinh: 1/ Chính Niệm Văng Sinh, một người khi lâm chung, tâm không bị dao động điên đảo, chỉ niệm Phật tŕ chú, đây chính là chính niệm văng sinh. 2/ Cuồng Loạn Văng Sinh, là người khi lâm chung lúc sinh tiền gây nghiệp ác, khi chết thấy Vô Thường Đại Quỷ đến, trông thấy lửa mạnh địa ngục bức bách, trông thấy nước lớn nhận ch́m tới đỉnh đầu. Tronh cuồng loạn như thế đột nhiên nghe thấy tiếng của Đại Thiện Tri Thức chỉ dạy người này hăy niệm Phật một tiếng hoặc mười tiếng, và người này một ḷng niệm Phật, th́ cũng được cuồng loạn văng sinh. 3/ Vô Kư Văng Sinh (vô kư: không nhớ), loại người này hàng ngày thường quy y Phật, cũng niệm Phật tŕ chú, nhưng khi thực sự lâm chung lại không niệm Phật v́ tâm thần tiêu tán thành ra quên (không thiện không ác), nhưng v́ nhờ người này thường ngày có công đức niệm Phật và tŕ chú nên cũng được văng sinh nơi Phật Quốc Tịnh Thổ. 4/ Ư Niệm Văng Sinh, là người này như đang ở trong bệnh viện (hơi thở bị cắt đứt) miệng không thể phát ra thanh âm niệm Phật tŕ chú, trạng thái này xảy ra cũng nhiều, nhưng chỉ cần trong đầu có ư tưởng niệm đến Phật th́ cũng được và như thế người này cũng được văng sinh. Chúng ta là những Liên Hoa hành giả của Chân Phật Tông, tốt nhất là tu hành đạt đến Chân Như, Chân Tâm của Bản Lai Tự Tính Thanh Tịnh. Thế gian này mặc dù có đủ các loại phiền năo nhưng Tự Tính Thanh Tịnh sâu dày như hư không, thức thứ 8 Như Lai Tạng thân chứng, ĺa bỏ hết thảy các tướng khác nhau, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, đây là thân chứng. Nếu không được như thế th́ phải Chính Niệm Văng Sinh, tu đến Thượng Sư Tương Ứng, Bản Đạo Tương Ứng, Hộ Pháp Tương Ứng. Được như kể th́ nhất định sẽ được văng sinh. Nếu cũng không được th́ hăy tu Tịnh Thổ Niệm Phật y theo lời thệ nguyện của A Di Đà Phật, người lâm chung trông thấy Phật th́ hết sinh tử, đây cũng là Chính Niệm Văng Sinh.

 

MẬT GIÁO HIỂU RƠ CÁC MÀU SẮC KHÁC NHAU.

                 Căn cứ theo sự hiểu rơ về các màu sắc của Mật Giáo, cần các hành giả ghi nhớ cho kỹ. Khi các hiện tượng của cảnh giới trung âm xuất hiện th́ có nhiều loại màu sắc của ánh sáng khác nhau. Trước tiên tôi xin cảnh tỉnh mọi người rằng màu sắc ánh sáng của lục đạo luân hồi đều là hiểm đạo, không được tiến vào: 1/ Ánh sáng thiên đạo là ánh sáng trắng ảm đạm. 2/ Ánh sáng của nhân đạo là ánh sáng màu vàng ảm đạm. 3/ Ánh sáng của A Tu La là ánh sáng màu lục ảm đạm. 4/ Ánh sáng của địa ngục là màu khói, sương mù ảm đạm. 5/ Ánh sáng của Ngă Quỷ Đạo là ánh sáng màu hồng ảm đạm. 6/ Ánh sáng của súc sinh đạo là ánh sáng màu xanh ảm đạm. Hăy nhớ ảm đạm có độc tính, đừng thụ cảm thấu mà đón và bước vào, bởi chỉ cần bước vào sẽ phải ở trong biển sinh tử nổi trôi, ngụp lặn măi măi không có ngày ra khỏi. Ánh sáng cần dung nhập đó là: Ánh sáng màu xanh sáng xuyên suốt của Đại Nhật B́ Lư Già Na Phật, ánh sáng xán lạn của pháp giới trí tuệ, ánh sáng trắng xuyên suốt của Kim cương Tát Thùy Thượng Sư, đó là ánh sáng của từ bi trí tuệ. Ánh sáng của Hư Không Tạng Bồ Tát hoặc của Phổ Hiền Bồ Tát hoặc của các vị Bồ Tát khác, đó là ánh sáng sắc vàng B́nh Đẳng Tính Trí quang minh hoảng diệu (Bảo Sinh Phật). Ánh sáng sắc hồng tuyệt diệu của A Di Đà Phật Trí Tuệ Quan Sát Quang Minh cực kỳ rực rỡ, sáng láng xuyên suốt.

             Bản sắc ánh sáng xanh biếc của Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật, đó là ánh sáng màu xanh biếc Sở Tác Trí, ánh sáng xuyên suốt huy hoàng. Ngoài ra c̣n có ánh sáng năm màu là ánh sáng , là có tập khí tịnh hóa mà thành đều sinh trí là do năm vị Phật chuyên tâm tŕ minh chú phóng ra, ánh sáng xuyên suốt, rực rỡ, thập phần mănh liệt.

             Về việc hiểu cho rơ các màu sắc ánh sáng, cá nhân tôi có nhận thức rằng cần phải nhớ cho rơ ràng điểm trọng yếu của ánh sáng không được nhầm lẫn. Phải nhớ sự vi diệu bí mật trong ánh sáng. Không được quên đi.

             Nếu như bạn thực sự trông thấy ánh sáng cần phải dung nhập th́ hăy tin tưởng vào ánh sáng đó, kiên tŕ tin vào không được thay đổi ư và hướng vào ánh sáng đó mà cầu nguyện, một ḷng quán tưởng tấn nhập. Đối với ánh sáng đến từ lục đạo luân hồi, cụ thể có sức mê hoặc, Liên Hoa hành giả đừng động tâm không có ǵ khả ái và biết được đó là ánh sáng của nghiệp lực do các loại tập khí tạo thành. Đó chính là luyến ái, ngu si, vô minh, sân hận, phẫn nộ, ngă mạn, cao ngạo, chấp trước, tâm tham lam, đố kỵ, vân vân.

             Phải đọa vào lục đạo luân hồi không chỉ là người phàm phu b́nh thường, cũng c̣n có rất nhiều người tu hành. Tôi đă trông thấy được họ hơn một nửa không nhận ra sự thật, hành vi thô lỗ, có những người căn bản không tu pháp, lười biếng giải đăi, thiếu hẳn chính kiến, thậm chí nửa tin nửa ngờ, khinh khi Căn Bản Thượng Sư của ḿnh, nghi ngờ Căn Bản Thượng Sư của ḿnh, không tôn trọng pháp của Căn Bản Thượng Sư, lại có những người tin cái này tin cái kia loạn xà ngầu, do đó đều phải đọa lạc. Lúc này biết được bát chánh đạo là trọng yếu:

             1/ Chánh Kiến: Tri kiến chính xác; 2/ Chánh Tư Duy: Suy xét chính xác; 3/ Chánh Ngữ: Nói năng chính đáng; 4/ Chánh Nghiệp: Hành vi chính đáng; 5/ Chánh Mệnh: Chức nghiệp chính đáng; 6/ Chánh Tinh Tấn: Nỗ lực chánh đáng; 7/ Chánh Niệm: Quan niệm chính xác; 8/ Chánh Định: Thiền định chính xác. Tôi tại Du Già Diễm Khẩu, Mông Sơn Thí Thực trong “ba giờ hệ niệm”. Thậm chí trong “tứ thiền bát định”, tứ thiền định Sắc Giới và trong tứ không định Vô Sắc Giới. Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Không Vô Biên Xứ Định, Thức Vô Biên Xứ Định, Vô Sở Hữu Xứ Định, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định dùng Thiên Nhăn để xem: Có rất nhiều người, nào ngu si, dâm dật, lười biếng, không tin, mê muội rối loạn, bồn chồn, trơ trẽn, không biết xấu hổ, đễ nóng giận, phản bội, tham lam keo kiệt, đố kỵ, buồn bực, làm tổn hại, thù hận, siểm nịnh, nói năng ngông cuồng, kiêu ngạo, ṭ ṃ, thích ngủ, làm việc ác, tham sân, kiêu kỳ, ngă mạn, hoài nghi, lại có người thích danh, lợi, thích được khen tụng, vui chơi. Khổ khi suy, huỷ hoại, quở trách, khổ sở. Tôi lại c̣n thấy có rất nhiều đại sư, đại phương trượng, đại ḥa thượng, nhà đại tu hành, và học giả giỏi thuyết về Phật Pháp. Khi c̣n ở tại thế gian những người này hiểu về Phật Lư rất rơ ràng, minh bạch, biện giải về nghĩa lư của Phật Giáo rất giỏi và giảng giải rất nhiều Phật Pháp, trên phương diện hoằng Pháp những người này thật phi thường siêng năng, tinh tế. Nhưng các công việc của họ toàn v́ tám chữ “Thế Gian Nghe Danh, Lợi Ích Cúng Dường”.  Tuy nhiên các vị đại sư này, các vị đại phương trượng này, các vị đại hoà thượng này, các vị đại tu hành này lại thiếu mất hai chữ “Thực Tu”. Các vị này đă không tu “Tư Lương Vị”, không tu “Gia Hành Vị”, không tu “Thông Đạt Vị, không tu “Tu Đạo Vị”, không tu “Cứu Cánh Vị”. Trong Phật Pháp Đại Thừa từ phàm phu tu đến khi thành Phật lập thành 52 cấp vị, 10 Tín, 10 Trụ, 10 Hành, 10 Hồi Hướng, 10 Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, các vị này đều minh bạch cả. chỉ là không có tu “Thực Tu”. Các vị này bận lo các pháp thế gian, tất cả các pháp hữu lậu của chúng sinh. Các vị chú trọng vào việc góp cho được nhiều tiền để xây dựng chùa lớn, chú trọng đến danh vị mê hoặc ở 4 ḍng vô minh kiến lưu, dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu.

             Các vị đại tu hành này trên thế gian tuy thuyết Phật Pháp nhưng không “Thực Tu”, đối với trung âm thân (linh hồn) không hiểu rơ nữa, chưa được thư thái nơi tâm, thậm chí có lúc c̣n hủy báng Mật Giáo. Ngay đến khi các vị này trong lúc là trung âm thân rồi trông thấy toàn thể các huyễn tướng cũng sinh ra kinh sợ, không có thực tu thiền định, định lực không đủ, như là trong mộng vậy nên mớí lạc vào trong những cảnh giới bi thảm. Cho nên giỏi thuyết Pháp, giỏi thuyết lư, giỏi xây chùa, giỏi kết duyên giao tiếp, cuối cùng cũng không bằng “giỏi thực tu”. Tôi nhận định ngược lại thế này giỏi thuyết Pháp cũng rất tốt, giỏi nói lư cũng rất tốt, giỏi xây chùa cũng rất tốt, giỏi giao kết cũng rất tốt, tuy nhiên giỏi thực tu là trọng yếu hơn, giỏi thực tu là đại thành tựu vậy. Các vị đại tu hành này sau khi thành tựu ngay tức khắc tương ứng Chân Như, Chân Tâm tức là đă nhập chứng chưa phải trải qua trung âm thân. Những hạng người này thân đă thành Phật Quả, nhập vào Lạc Thổ Thanh Tịnh, tượng mạo đoan nghiêm luôn luôn không ngừng! Trên trời không không mây sáng trong phóng ra đại hào quang, xuất hiện đại cầu vồng, thiên nhạc vang lừng, hương thơm ngào ngạt. Ánh sáng tốt lành chiếu ra tứ phía, trăm hoa cùng nở, sau khi hoả thiêu thân xác sẽ thành xá lợi tử, xá lợi nha, xá lợi hoa, vân vân.

 

MƯỜI HIỆN THÂN CỦA ĐẠI MINH VƯƠNG.

             Trong khi tôi du lịch Hàn Quốc, đến các chùa tại Hàn Quốc mới biết Phật Giáo đồ tại Hàn Quốc rất thường kính trọng Đại Minh Vương. Ở đó trong các chùa đều có điện thờ Minh Vương cung phụng 10 Đại Minh Vương. Chính là: Tần Quảng Đại Vương, Sở Giang Đại Vương, Tống Đế Đại Vương, Ngũ Quan Đại Vương, Diêm La Đại Vương, Biện Thành Đại Vương, Thái Sơn Đại Vương, B́nh Đẳng Đại Vương, Đô Thị Đại Vương, Chuyển Luân Đại Vương. Nếu như 10 vị Minh Vương hiện thân, mọi người không nhất định nhận thức được. Bởi v́ thân tướng thực tại rất to lớn. Có vị thân tướng lấp kín cả hư không, có vị như núi Tu Di, tối thiểu có vị cũng phải gấp 18 lần thân của con người, h́nh tượng đều cực kỳ hung mạnh, lấp kín cả thế giới, h́nh tượng răng lộ ra ngoài, lông mày dựng ngược, mắt trợn giận dữ, trong miệng không ngừng thốt lên những tiếng quát mắng hách dịch, sẵn sàng xé đầu người quăng đi, hoặc lấy tay móc tim ruột người, lưỡi liếm óc năo người, miệng uống máu. Đến lúc này người vong ắt là rất kinh hăi. Mọi người đừng nghĩ rằng chỉ có dọa nạt người mà thôi. Xin hăy đọc phẩm thứ 8 các Diêm La Vương tán thán (Địa Tạng Kinh): “Lúc bấy giờ trong núi Thiết Vi có vô lượng Quỷ Vương cùng với Diêm La Thiên Tử đều đến Đao Lợi Thiên Cung và tụ tập trước mặt Phật, gồm có Ác Độc Quỷ Vương, Đa Ác Quỷ Vương, Đại Tránh Quỷ Vương, Bạch Hổ Quỷ Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ Vương, Tán Ương Quỷ Vương, Phi Thân Quỷ Vương, Điện Quang Quỷ Vương, Lang Nha Quỷ Vương, Thiên Nhăn Quỷ Vương, Đạm Thú Quỷ Vương, Phụ Thạch Quỷ Vương, Chủ Háo Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ Vương, Chủ Thực Quỷ Vương, Chủ Tài Quỷ Vương, Chủ Súc Quỷ Vương, Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú Quỷ Vương, Chủ Mị Quỷ Vương, Chủ Sản Quỷ Vương, Chủ Mệnh Quỷ Vương, Chủ Tật Quỷ Vương, Chủ Hiểm Quỷ Vương, Tam Mục Quỷ Vương, Tứ Mục Quỷ Vương, Ngũ Mục Quỷ Vương, Ḱ Lợi Thất Vương, Đại Ḱ Lợi Thất Vương, Ḱ Lợi Xoa Vương, A Na Thác Vương, Đại A Na Thác Vương, ngần ấy các loại đại Quỷ Vương, các các trăm ngàn Tiểu Quỷ Vương” Đó là lời ghi chép trong kinh Địa Tạng “Vô Lượng Quỷ Vương”. Mọi người không được cho rằng khúc kinh điển ghi chép này là không, để khuyên răn người hoặc không có thực, câu chuyện tưởng tượng về Điạ Tạng Bồ Tát. Nhưng tôi xin nói: “Đây là lời nói của Phật há lại là nói sai sao?” Cơ duyên của trung âm thân là có khả năng gặp gỡ mười Đại Minh Vương và Đại Quỷ Vương, Tiểu Quỷ Vương, vô lượng Quỷ Vương. Trong Mật Tạng chúng tôi biết được: Có Chư Tôn trong bộ Hỷ Lạc xuất hiện, có Chư Tôn trong bộ Phẫn Nộ xuất hiện (Đây và trong Địa Tạng Kinh miêu tả các loại vô lượng Quỷ Vương và mười Đại Minh Vương). Nhưng trong Mật Tạng dường như c̣n đáng sợ hơn nữa. Ví dụ như ba đầu, sáu tay, bốn chân, má bên phải trắng, má bên trái hồng, trong sâu màu lá cọ, toàn thân có hào quang, chín mắt trợn to, nh́n nghi ngờ long mày mắt trừng lên như quang điện, răng ch́a ra ngoài trắng bệch, trong miệng gầm lên giận dữ (A, Lạp, Cáp). Sáu tay đều cầm Pháp khí (Pháp luân, kiếm, búa, chuông, đĩa bằng xương, lưỡi cày). Ngoài ra c̣n có chủ Tôn chuyên uống máu huyết của Bộ Kim Cương, thân thể xanh đậm, ba đầu sáu tay, bốn chân đứng thẳng, sáu tay cầm gậy, bát bằng đầu lâu, búa, chuông, đĩa bằng đầu lâu, lưỡi cày.

             Uống máu. C̣n có Khải Nhữ Mă uống máu, Đái Mạn Mă, Uông Thu Mă, Tu Lị Mă, Lạp Ma Ha, Bùi Đại Lệ, Bồ Tạp Ti, Cát Ti Mă, Hương Đa Lợi, Thi Mă Hạ, vân vân.

             Ba mươi Chư Tôn bộ Phẫn Nộ, 28 vị Nữ Thần Đại Lực. Phía trong có đầu sư tử, đầu cọp, đầu chó sói, đầu chim ưng, đầu chim, đầu quạ, đầu cú…Những vị đầu thú trên không những chỉ uống máu mà c̣n ăn cả đầu người, nghe tiếng khạc khạc. Ăn ruột trong bụng, đút vào miệng nhai, ăn tim tạng cắn nhai không ngừng. Nuốt thây người chết, cắn nhai từng người một. Nuốt tṛng con mắt lấy răng xé bằng miệng.

             Những vị Nữ Thần Đại Lực cầm trong tay các hung khí như móc cong, dây tḥng lọng, dây xích sắt, thương mũi nhọn. Người b́nh thường trông thấy Chư Tôn Phẫn Nộ uống máu (các Đại Quỷ Vương) trong ḷng đều sinh sợ hăi, quá độ kinh hoàng mà sinh lạnh ngắt hôn mê, t́nh trạng này chắc chắn là đi đứt rồi, vonh giả trở thành vật hy sinh cho sự sợ hăi của chính ḿnh. V́ sao lại xuất hiện chư Tôn nhóm Hỉ Lạc và chư Tôn nhóm Phẫn Nộ, đây cũng là do ư thức của mỗi cá nhân h́nh tượng ra. Chẳng kể kinh điển Hiển Giáo hoặc Mật Giáo đều nói rơ mỗi cá nhân đều có ư thức về hỉ, nộ, thương, lạc. Cho nên một người vào một sáng nào đó sau khi chết rồi th́ những vui giận này xuất hiện. Giống như các loại đầu của các con thú, bạn không thể cho rằng không khả năng có, tôi đă từng nói với mọi người rằng loài người chỉ giống nhau là Người Bên Ngoài mà thôi. Kỳ thực có những tâm tính con người sớm đă biến thành cọp, báo, sư tử, voi, sói, chó, rắn, chim ưng, cáo, vân vân. C̣n nữa, bạn cũng không thể cho rằng đại quỷ là không khả năng có bởi v́ có rất nhiều người có tâm tính không phải là của con người nữa đă sớm mang thai nghén quỷ trong tâm rồi, đă sớm là quỷ rồi, chẳng những là quỷ mà hơn thế nữa là Đại Quỷ Vương hung bạo. Tất cả sự hiển hiện của chư Tôn nhóm Hỉ Lạc, chư Tôn nhóm Phẫn Nộ, chư Tôn nhóm Uống Máu, chư Tôn nhóm Đầu Thú, Diêm La Đại Vương (Mười Đại Minh Vương), vô lượng Quỷ Vương, các loại h́nh tượng rất đáng sợ, toàn là tồn tại trong tâm thức của chính ḿnh mà biến hiện và xuất ra cả. Tôi thật thà mà nói ra rằng đó là do người vong ôm ấp mời gọi về, là do tâm thức người vong biến hiện ra, là bất nhị của người vong (Tương Ứng Pháp của Mật Giáo, mười Pháp Giới đều trong Tương Ứng. Tương Ứng Pháp trong Chân Phật Tông của chúng tôi là Tương Ứng Phật, Tương Ứng Bồ Tát, Tương Ứng Kim Cương, Tương Ứng Hộ Pháp, tŕnh độ thấp nhất cũng là Tương Ứng Chư Thiên). Thiên Đạo kể vào Luân Hồi. Tối trọng yếu là không được tương ứng với Tam Ác Đạo hoặc với Lục Đạo Luân Hồi. Lúc bấy giờ hăy định tâm cầu khẩn: (đừng để bất tỉnh v́ sợ hăi)

             Con nay phiêu bạt trong âm giới. Khẩn cầu Thượng Sư mau cứu ứng con.

             Ông Cô Lỗ Liên Sinh Tất Địa Hồng – Ông Cô Lỗ Liên Sinh Tất Địa Hồng

             Ông Cô Lỗ Liên Sinh Tất Địa Hồng. Khẩn Tứ Bản Tôn vật xả khí

             Khẩn tứ Hộ Pháp cứu độ con. Kính ái Thượng Sư, Chư Bản Tôn

             Một ḷng mong đợi được giúp đỡ (Thượng Sư, Bản Tôn có lời thệ nguyện, nhất định sẽ cứu bạn)

 

NƠI CHỐN THÍCH NGHI CỦA TRUNG ÂM THÂN.